Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUYÊN HÓA

TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2024/HS-ST

Ngày: 23-10-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Bích Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Thuận và ông Hoàng Trọng Thủy

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Trần Thanh Quang – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Đinh Kiên Quyết - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 41/2024/TLST - HS ngày 01 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2022/QĐXXST- HS ngày 09/10/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Cao Ngọc T - Tên gọi khác: Không; sinh ngày: 18/7/1993 tại huyện T, tỉnh Quảng Bình; Nơi cư trú: thôn C B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ văn hóa: 09/12; con ông Cao Xuân H, sinh năm 1968 và bà Đinh Thị T1, sinh năm 1968; có vợ Phạm Thị N và 01 người con sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Quảng Bình từ ngày 06/7/2024 cho đến nay, bị cáo có mặt theo lệnh trích xuất.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Đinh Thị H1, sinh năm 1963; Nơi cư trú: thôn B B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

- Người làm chứng:

Anh Đinh Thái S, sinh năm 1992; Nơi cư trú: thôn B B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình, có mặt.

- Người chứng kiến:

Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1969; Nơi cư trú: thôn B B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ, ngày 06/7/2024 Cao Ngọc T cần ma túy để sử dụng nhưng không có phương tiện để đi mua, nên đã gọi nhờ anh Đinh Thái S, trú tại thôn B B, xã T, huyện T đến nhà chở đi xã T chơi (mục đích là để mua ma túy). Anh S đồng ý và điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu xanh, biển kiểm soát 73D1-112.21 chở T đi. Khi đến một lán công nhân bỏ hoang ở bên đường thuộc địa phận xã T, huyện T, T bảo S dừng xe lại, T một mình đi vào trong lán gặp một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ, trao đổi mua 04 viên ma túy, loại viên nén hình tròn, màu hồng dạng thuốc tân dược, đựng trong gói nilon màu hồng, với giá 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, T quay lại chỗ anh S đang chờ và nói với anh S chở về nhà. Khoảng 11 giờ 30 phút, khi đến địa phận thôn B B, xã T, huyện T bị tổ công tác Đồn Biên phòng R, Bộ đội Biên phòng tỉnh Q phối hợp với Công an xã T, huyện T phát hiện bắt quả tang Cao Ngọc T đang cầm trong lòng bàn tay phải số ma túy nói trên. Cao Ngọc T khai nhận số viên nén hình tròn, màu hồng, dạng thuốc tân dược nói trên là ma túy tổng hợp loại hồng phiến, mua về nhằm mục đích để sử dụng. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ niêm phong đồ vật tài liệu có liên quan.

Tại bản kết luận giám định số: 886/KL-KTHS ngày 07/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận: 04 (bốn) viên nén hình tròn, màu hồng, dạng thuốc tân dược thu giữ trên người của Cao Ngọc T ký hiệu A là chất ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng là 0,384 gam.

Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, số thứ tự: 247. Danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ.

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã thu giữ:

  • 04 (bốn) viên nén hình tròn, màu hồng, dạng thuốc tân dược là ma túy loại Methamphetamine thu giữ trong khi bắt quả tang Cao Ngọc T, có khối lượng 0,384 gam, sau khi giám định, số ma túy còn lại là 0,28 gam cùng vỏ bao gói, được niêm phong trong phong bì thư ghi số 866/KL-KTHS, có chữ ký của những người tham gia niêm phong.
  • 01(một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius, màu xanh, biển kiểm soát 73D1-122.21, số khung RLCS5C6H0FY128158, số máy 5C6H128163, xe đã qua sử dụng.
  • 01(một) điện thoại di động OPPO, màu Xanh-Đen, số EMI 1: 866314057348979; số IMEI2: 866314057348961, điện thoại đã qua sử dụng.

Bản cáo trạng số: 40/CT - VKSTH - HS ngày 30/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình đã truy tố bị cáo Cao Ngọc T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố Cao Ngọc T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt Cao Ngọc T từ 12 đến 15 tháng tù. Thời gian tính từ ngày bắt tạm giam 06/7/2024.

Vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015 tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì thư đã được niêm phong số: “886/KL-KTHS”, có chữ ký của những người tham gia niêm phong; Bên trong có: 0,28g (không phẩy hai mươi tám gam) ma túy, loại Methamphetamine, chứa trong túi nilon trong suốt, ngoài cùng ghi nội dung “A” và vỏ bao gói.

Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Trả lại cho bà Đinh Thị H1 01 xe mô tô nhãn hiệu Sirius, màu xanh, biển kiểm soát 73D1-112.21, số khung RLCS5C6H0Y128156, số máy 5C6H128163 là chủ sở hữu hợp pháp.

Trả lại cho bị cáo Cao Ngọc T 01 điện thoại di động OPPO, màu xanh – đen, số IMEI 1: 866314057348979; số IMEI 2: 866314057348961, điện thoại đã qua sử dụng.

Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH buộc bị cáo Cao Ngọc T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Tại phiên toà bị cáo Cao Ngọc T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nội dung khai báo của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra,, không có tình tiết mới. Bị cáo nhất trí với lời luận tội của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình; không có ý kiến tranh luận và cũng không có ý kiến gì để bào chữa cho hành vi phạm tội của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Quảng Bình và Điều tra viên. Hành vi tố tụng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền. Quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo Cao Ngọc T: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo tuổi đời còn trẻ, có sức khoẻ, biết được việc tàng trữ ma tuý là trái pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm. Nhưng do lối sống buông thả, thiếu lành mạnh của bản thân và thiếu ý thức rèn luyện nên bị cáo đã sa vào nghiện ngập ma tuý. Do đó, vào ngày 06/7/2024 bị cáo đã gọi điện nhờ anh Đinh Thái S chở đi xã T chơi, nhằm mục đích mua ma túy, khi đến tại lán công nhân bỏ hoang bên đường T bảo S dừng lại, T một mình đi vào quán gặp một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ và trao đổi với người đàn ông này mua 04 viên ma túy, loại viên nén hình tròn, màu hồng dạng thuốc tân dược với giá 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng). Sau đó T quay lại chỗ anh S đang ngồi chờ và nói với anh S chở về nhà. Khi đến địa phận thôn B B xã T, huyện T thì bị tổ công tác Đồn Biên phòng R, bộ đội biên phòng tỉnh Q phối hợp với Công an xã T, huyện T phát hiện bắt quả tang Cao Ngọc T đã có hành vi tàng trữ trên người 04 viên ma túy loại Methamphetamine.

Hành vi của bị cáo là tàng trữ trái phép chất ma tuý, số ma tuý mà Cao Ngọc T tàng trữ có tổng khối lượng là 0,384 gam Methamphetamine. Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội đó phù hợp với lời khai của người làm chứng và người chứng kiến trong hồ sơ vụ án và các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, tài liệu về thời gian, địa điểm, khối lượng chất ma tuý mà bị cáo đã tàng trữ, ý kiến của Kiểm sát viên. Do đó, có đủ cơ sở khẳng định bị cáo Cao Ngọc T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Cao Ngọc T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

[5] Về hình phạt: Hội đồng xét xử xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma tuý, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa bàn, gây tệ nạn cho xã hội và tạo sự hoang mang trong quần chúng nhân dân. Mặt khác còn ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình của chính bị cáo. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội cần xử phạt nghiêm minh để giáo dục bị cáo và răn đe chung.

[6] Về xử lý vật chứng: Hội đồng xét xử cần áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 20170), điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS năm 2015 tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì thư dán kín, trên ghi nội dung “886/KL-KTHS”, niêm phong bằng các chữ ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q, ngoài cùng dán băng dính trong suốt, bên trong có: 0,28g (không phẩy hai mươi tám gam) ma túy, loại Methamphetamine, được đựng trong 01 (một) túi nilon trong suốt, ngoài ghi nội dung “A” và vỏ bao gói.

Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Trả lại cho bà Đinh Thị H1 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu xanh đen, biển kiểm soát 73D1-112.21, số khung C6H0FY128156, số máy 5C6H128163 là chủ sở hữu hợp pháp.

Trả lại cho bị cáo Cao Ngọc T 01(một) điện thoại di động OPPO, màu xanh - đen, số EMI 1: 8663140573489979; số IMEI2: 866314057348961, điện thoại đã qua sử dụng.

[7] Liên quan trong vụ án còn có người đàn ông (không rõ tên, tuổi và địa chỉ cụ thể) tại khu vực lán công nhân thuộc xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình đã bán cho Cao Ngọc T 04 viên ma túy, loại hồng phiến. Tuy nhiên, quá trình điều tra Cơ quan CSĐT Công an huyện T không xác định được tên, tuổi và địa chỉ cụ thể của người đàn ông đó nên không có căn cứ để xử lý. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Đinh Thái S, sinh năm 1992, trú tại: Thôn B B, xã T, huyện T là người điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu xanh, biển kiểm soát 73D1-112.21 chở Cao Ngọc T đi mua ma túy. Quá trình điều tra xác định việc T đi mua ma túy S hoàn toàn không biết và không liên quan. Vì vậy, hành vi của Đinh Thái S không vi phạm pháp luật. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo Cao Ngọc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH
  1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
    • - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Cao Ngọc T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
    • - Về hình phạt: Xử phạt Cao Ngọc T 12 (mười hai) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 06/7/2024). Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày theo Quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử để đảm bảo thi hành án.
  2. Vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015 tịch thu tiêu hủy:
    • 01 (một) phong bì thư dán kín, trên ghi nội dung “886/KL-KTHS”, niêm phong bằng các chữ ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q, ngoài cùng dán băng dính trong suốt, bên trong có: 0,28g (không phẩy hai mươi tám gam) ma túy, loại Methamphetamine, được đựng trong 01 (một) túi nilon trong suốt, ngoài ghi nội dung “A” và vỏ bao gói.

    Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

    • Trả lại cho bà Đinh Thị H1 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu xanh-đen, biển kiểm soát 73D1-112.21, số khung C6H0FY128156, số máy 5C6H128163 là chủ sở hữu hợp pháp.
    • Trả lại cho bị cáo Cao Ngọc T 01 điện thoại di động OPPO, màu xanh - đen, số EMI 1: 866314057348979; số IMEI2: 866314057348961, điện thoại đã qua sử dụng.

    Toàn bộ số vật chứng này hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01 tháng 10 năm 2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện T, tỉnh Quảng Bình và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình.

  3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án buộc bị cáo Cao Ngọc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuyên bố bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 23/10/2024).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Bình;
  • - VKSND tỉnh Quảng Bình;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình;
  • - Công an huyện Tuyên Hóa;
  • - VKSND huyện Tuyên Hóa;
  • - Chi cục THADS huyện Tuyên Hóa;
  • - Bị cáo và người tham gia tô tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

(đã ký)

Đoàn Thị Bích Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 23/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 42/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án Cao Ngọc T; phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger