Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ LÁCH

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2024/HS-ST

Ngày: 26/9/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH - TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Chí Cường.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thị Kim Ngân
  2. Ông Đoàn Kim Sơn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Tín - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 37/2024/TLST - HS ngày 11 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2024/QĐXXST - HS ngày 12 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Trương Trung A (Tên gọi khác: Không có tên gọi khác), sinh ngày 03/02/1985 tại huyện C, tỉnh Bến Tre; Nơi cư trú: 385/12, ấp T, xã S, huyện C, tỉnh Bến Tre; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: Lớp 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Trương Vĩnh H và bà Trần Thị P; Bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình có 03 anh chị em; Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền sự: Không.

Tiền án: Có 02 tiền án:

  • + Ngày 16/8/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 138 Bộ luật hình sự. Bị can đã chấp hành xong hình phạt tù, thi hành xong tiền án phí hình sự sơ thẩm và tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng chưa thi hành phần trách nhiệm dân sự bồi thường cho bị hại.
  • + Ngày 12/11/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự. Bị can đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 02/7/2022 và thi hành xong tiền sung công quỹ Nhà nước nhưng chưa thi hành tiền án phí hình sự sơ thẩm (tiền án này được xác định là “Tái phạm”).

- Bị hại:

  • +Trương Thị Cẩm H1 sinh năm 1980. Vắng mặt
  • Địa chỉ: 3, ấp T, xã S, huyện C, tỉnh Bến Tre.

- Người làm chứng:

  • + Trương Vĩnh H, sinh năm 1944. Vắng mặt
  • Địa chỉ: 3, ấp T, xã S, huyện C, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào dịp Tết Nguyên đán năm 2023, chị Trương Thị Cẩm H1, sinh năm 1980, nơi cư trú: số C, ấp T, xã S, huyện C, tỉnh Bến Tre được cha ruột là ông Trương Vĩnh H tặng cho số tiền 7.000.000đồng, bao gồm nhiều tờ tiền mệnh giá 10.000đồng, 20.000đồng, 50.000đồng, 100.000đồng, 200.000đồng và 500.000đồng nhưng chị H1 không nhớ số lượng từng tờ tiền. Tất cả số tiền trên được chị H1 bỏ vào ống heo bằng nhựa và để trong phòng ngủ của chị. Đến ngày 12/01/2024, chị H1 kiểm tra thì phát hiện tại vị trí bụng của heo nhựa bị cắt và bị mất toàn bộ số tiền 7.000.000đồng nêu trên. Sau khi bị mất trộm, do nghi ngờ nên chị H1 có hỏi Trương Trung A (em ruột chị H1) đang sinh sống chung nhà thì A thừa nhận đã lấy trộm số tiền của chị H1 trong hai lần, cụ thể:

Lần thứ nhất: Vào khoảng giữa tháng 11 năm 2023, lợi dụng chị H1 không có trong phòng ngủ, A vào phòng và dùng dao Thái Lan rạch bụng ống heo nhựa rồi lấy số tiền 4.000.000đồng để mua hàng hóa về bán lẻ.

Lần thứ hai: Vào khoảng đầu tháng 12 năm 2023, lợi dụng chị H1 không có trong phòng ngủ, A vào phòng tiếp tục lấy số tiền 3.000.000đồng còn lại, sau đó A dùng số tiền này để mua một điện thoại di động hiệu Redmi Note 11 với giá là 2.990.000 đồng để sử dụng, còn 10.000đồng A tiêu xài cá nhân hết.

Vật chứng đã thu giữ và tiếp tục chuyển theo vụ án để xử lý:

  • - 01 ống heo bằng nhựa, màu đỏ bị phai màu; trên lưng ống heo có khe rãnh, chiều dài rãnh 3,6 cm, chiều rộng 0,8 cm và hai vòng tròn kế nhau; hai mắt ống heo màu trắng đen; bụng ống heo có khe rãnh, bị cắt chiều dài 19 cm; bên trong ống heo rỗng, không chứa đồ vật, tài liệu.
  • - 01 điện thoại di động, màu xám, nhãn hiệu Redmi Note 11 (MIUI), mẫu 2201117TG, seri: 6e69416, IMEI 1: 868441063468109, IMEI 2: 868441063468117, Ram 6GB, bộ nhớ trong 128 GB, điện thoại đã qua sử dụng.

Cáo trạng số 41/CT-VKS ngày 11/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre truy tố bị cáo Trương Trung A về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trương Trung A và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trương Trung A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

Về xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy:

  • - 01 ống heo bằng nhựa, màu đỏ bị phai màu; trên lưng ống heo có khe rãnh, chiều dài rãnh 3,6 cm, chiều rộng 0,8 cm và hai vòng tròn kế nhau; hai mắt ống heo màu trắng đen; bụng ống heo có khe rãnh, bị cắt chiều dài 19 cm; bên trong ống heo rỗng, không chứa đồ vật, tài liệu:

Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động, màu xám, nhãn hiệu Redmi Note 11 (MIUI), mẫu 2201117TG, seri: 6e69416, IMEI 1: 868441063468109, IMEI 2: 868441063468117, Ram 6GB, bộ nhớ trong 128 GB, điện thoại đã qua sử dụng do bị cáo đã dùng số tiền do hành vi phạm tội để mua.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo đã bồi thường cho bị hại Trương Thị Cẩm H1 số tiền 7.000.000đồng, bị hại không có yêu cầu gì khác.

Tại tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố đồng thời có lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng công khai tại tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có mặt không có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng cũng như các hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, các hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai cụ thể, rõ ràng tại cơ quan điều tra và việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ là phù hợp quy định tại Điều 292 và 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về nội dung: Căn cứ lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời trình bày của bị hại, lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm xảy vụ án cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:

Xuất phát từ động cơ vụ lợi, mục đích chiếm đoạt tiền của người khác để tiêu xài cá nhân, mặc dù Trương Trung A đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” và được áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” chưa được xóa án tích nhưng với động cơ tư lợi, mục đích chiếm đoạt tài sản (tiền) của người khác nên vào khoảng giữa tháng 11 năm 2023, tại ấp T, xã S, huyện C, tỉnh Bến Tre, A đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của chị Trương Thị Cẩm H1 số tiền 4.000.000đồng. Đến khoảng đầu tháng 12 năm 2023, A tiếp tục thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt của chị H1 số tiền 3.000.000đồng. Tổng số tiền mà Trương Trung A đã chiếm đoạt là 7.000.000đồng.

[3] Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự đầy đủ, biết hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là hành vi vi phạm, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì động cơ vụ lợi cá nhân nên bị cáo đã thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp và tội phạm đã hoàn thành, tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 7.000.000đồng và đồng thời Trương Trung A đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” và được áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” chưa được xóa án tích vì vậy có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, việc truy tố và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre tại phiên tòa là có căn cứ và đúng người, đúng tội nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ là người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, người phạm tội thành khẩn khai báo được quy định tại điểm b, h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[5] Hành vi phạm tội của bị cáo mặc dù ít nghiêm trọng nhưng gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội trên địa bàn bị cáo thực hiện tội phạm, gây tâm lý bất an trong quần chúng nhân dân. Xét tính chất, mức độ, hậu quả, nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử cần thiết áp dụng hình mức phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân lương thiện, có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa tội phạm chung theo quy định tại Điều 38 Bộ luật hình sự.

Mặc dù bị cáo có ba tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự nhưng xét bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để xét xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là phù hợp.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định.

Đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt, tình tiết tăng nặng, các tình tiết giảm nhẹ là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử được chấp nhận. Tuy nhiên mặc dù đại diện Viện kiểm sát không đề nghị nhưng xét số tiền bị chiếm đoạt 7000.000đồng vì vậy Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Xét đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về xử lý vật chứng: Xét đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo bị kết án nên phải có nghĩa vụ chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trương Trung A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  1. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Trương Trung A 02 (Hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

    Về xử lý vật chứng.

    Tịch thu tiêu hủy 01 ống heo bằng nhựa, màu đỏ bị phai màu; trên lưng ống heo có khe rãnh, chiều dài rãnh 3,6 cm, chiều rộng 0,8 cm và hai vòng tròn kế nhau; hai mắt ống heo màu trắng đen; bụng ống heo có khe rãnh, bị cắt chiều dài 19 cm; bên trong ống heo rỗng, không chứa đồ vật, tài liệu:

    Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động, màu xám, nhãn hiệu Redmi Note 11 (MIUI), mẫu 2201117TG, seri: 6e69416, IMEI 1: 868441063468109, IMEI 2: 868441063468117, Ram 6GB, bộ nhớ trong 128 GB, điện thoại đã qua sử dụng.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/9/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C với Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre).

    Về trách nhiệm dân sự:

    Ghi nhận bị cáo đã bồi thường cho bị hại Trương Thị Cẩm H1 số tiền 7.000.000đồng, bị hại không có yêu cầu gì khác.

  3. Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:

    Buộc bị cáo Trương Trung A phải có nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng).

  4. Căn cứ Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bến Tre (1b);
  • - VKSND tỉnh Bến Tre (1b);
  • - STP tỉnh Bến Tre (1b);
  • - VKSND huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre (1b);
  • - Chi cục THADS Chợ Lách, tỉnh Bến Tre (1b);
  • - Công an huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre (3b);
  • - Bộ phận HS CA Chợ Lách, tỉnh Bến Tre (2b);
  • - UBND xã Sơn Định, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre (1b);
  • - Những người tham gia tố tụng (3b);
  • - Lưu: HS vụ án, Văn phòng (2b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đào Chí Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH - TỈNH BẾN TRE về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 42/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH - TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Truong Trung A
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger