TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ TỈNH QUẢNG NGÃI Bản án số: 42/2024/HS-ST Ngày 25/9/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN NHÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI
– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Trung
Các Hội thẩm nhân dân:
- - Ông Võ Cư
- - Bà Bùi Thị Cẩm
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hoà – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Ngô Thanh Hiển – Kiểm sát viên.
Vào ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 45/2024TLST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Văn B
, sinh ngày 14 tháng 9 năm 1979, tại B, Quảng Ngãi;
Nơi cư trú: Thôn N, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi.
Nghề nghiệp: Nông; Trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: H're; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Tiền án, tiền sự: không; Con ông: Phạm Văn M (chết); Con bà: Phạm Thị L; Vợ: Phạm Thị N (chết); Con: có 02 con, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2011; Nhân thân: Chưa bị xử lý hành chính, hình sự. Hiện Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trần Việt N1 - Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Q; địa chỉ: Số F P, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt
Bị hại: Bà Phạm Thị N – sinh năm 1978 (chết)
Người đại diện hợp pháp cho bà N có:
- - Ông Phạm Văn L1, sinh năm 1952 (là cha của bà N)
- - Anh Phạm Văn B1, sinh năm 2000 (là con của bà N)
- - Chị Phạm Thị Phương K, sinh năm 2011 (là con của bà N)
Người đại diện hợp pháp cho chị K: Ông Phạm Văn B, sinh năm 1979 (ông B là cha của chị K)
Cùng nơi cư trú: Thôn N, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Trần Quốc T, sinh năm 1985; nơi cư trú: Thôn X, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt
- - Công ty cổ phần V
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Cẩm N2 – Tông giám đốc
Địa chỉ: S đường số A, KDC H, phường T, quận G, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt
Người phiên dịch: Ông Đinh Văn Y – Phó chánh văn phòng – Ban dân tộc tỉnh Q; địa chỉ: Số F P, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắc như sau:
Vào sáng ngày 25/4/2024, Phạm Văn B điều khiển xe mô tô BKS: 76K1-066.65 chở Phạm Thị N di chuyển từ xã P, thành phố Q, tỉnh Bình Định đi về nhà ở thôn N, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi. Khi đi đến đỉnh Đèo Bình Đ thuộc địa phận thôn H, xã P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi, tại khu vực này có 02 nhánh đường một chiều (01 nhánh đường ở phía Đông dành cho các phương tiện lưu thông hướng Nam – B, một nhánh đường ở phía Tây dành cho các phương tiện lưu thông hướng Bắc – N), tại nhánh đường phía Tây đã đặt biển báo cấm đi ngược chiều nhưng Phạm Văn B điều khiển xe chạy vào nhánh đường này, di chuyển trên làn xe cơ giới bên phải (phía Đông) để xuống dốc, khi đến đoạn Km 1124+600 (lúc này là 10 giờ 11 phút ngày 25/4/2024), tại khu vực đường này đường có đặc điểm cong về hướng Đông, lưng cung quay về hướng Tây, ở phía Đông có cây, bụi rậm cao 3,5m nên tầm nhìn bị che khuất, khi Phạm Văn B điều khiển xe vừa qua hết đoạn đường cong thì tông vào bên phải đầu xe ô tô đầu kéo BKS: 50LD-134.96 kéo theo sơ mi rơ mooc BKS: 51R-203.80, do Trần Quốc T điều khiển lưu thông lên dốc theo hướng từ B vào N. Hậu quả vụ tai nạn là Phạm Thị N chết, Phạm Văn B bị thương, xe ô tô đầu kéo BKS: 50LD-134.96 bị móp nhẹ phần đầu trước bên phải, xe mô tô BKS: 76K1-066.65 bị hư hỏng.
Sau vụ tai nạn cơ quan chức năng đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, trưng cầu giải phẫu tử thi để giám định về nguyên nhân chết của Phạm Thị N, trưng cầu giám định dấu vết cơ học, trưng cầu giám định trích xuất dữ liệu điện tử thu thập từ xe ô tô đầu kéo BKS: 50LD-134.96 ...kết quả:
Khám nghiệm hiện trường đã ghi nhận:
- - V1 là vết chà sát màu đen đầu phía Bắc cách vạch sơn trắng kẻ liền ở phía Đông đường 2,55m, đầu phía Nam cách 2,57m, chiều dài vết 14,7m.
- - Vết V2 là vết chà sát màu đen đầu phía Bắc cách vạch sơn trắng kẻ liền ở phía Đông đường 0,75m, đầu phía Nam cách 0,57m, chiều dài vết 14,4m.
- - V3 là bánh xe sau bên trái ngoài cùng xe ô tô đầu kéo BKS: 50LD-134.96 kéo theo sơ mi rơ mooc BKS: 51R-203.80 cách vạch sơn trắng kẻ liền ở phía Đông đường 0,46m, bánh xe trước bên trái cách vạch sơn trắng kẻ liền kề phía Đông 0,26m. Đây là vị trí xe ô tô đầu kéo BKS: 50LD-134.96 kéo theo sơ mi rơ mooc BKS: 51R-203.80 tại hiện trường.
- - V4 là vết xước mặt đường đầu phía Bắc cách vạch sơn kẻ liền kề phía Đông đường là 2,65m, đầu phía Nam cách 2,34m. Đây là vết xước mặt đường do xe mô tô BKS: 76K1-066.65 khi va chạm với xe ô tô đầu kéo BKS: 50LD-134.96 ngã xuống đường để lại.
- - V5 là vị trí xe mô tô BKS: 76K1-066.65 tại hiện trường, trục bánh sau cách vạch sơn trắng kẻ liền kề phía Đông 1,65m, trục bánh trước cách vạch sơn trắng kẻ liền kề phía Đông 2,46m.
- - V6, V7 là vùng chất màu nâu đỏ (máu) trên mặt đường.
Đây là vệt phanh của xe ô tô đầu kéo BKS: 50LD-134.96 kéo theo sơ mi rơ mooc BKS: 51R-203.80.
Kết luận giám định pháp y về tử thi số 60/KLGĐTT-TTPY ngày 14/5/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Q về nguyên nhân chết của Phạm Thị N là: Chấn thương sọ não, đa chấn thương.
Kết luận giám định số 177/KLTTCT-TTPY ngày 03/6/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Q về giám định tổn thương cơ thể của Phạm Văn B xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể là 47%.
Kết luận giám định số 500/KL-KTHS ngày 30/5/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q về giám định dữ liệu điện tử đã trích xuất 17 hình ảnh từ video thu được trong camera của xe ô tô đầu kéo BKS: 50LD -134.96 thể hiện hình ảnh vụ tai nạn, việc điều khiển xe của Phạm Văn B.
Kết luận giám định số 492/KL-KTHS ngày 19/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q về giám định dữ liệu điện tử từ thiết bị giám sát hành trình tích hợp đầu ghi video của xe ô tô đầu kéo BKS: 50LD -134.96 theo đó tốc độ của xe ô tô đầu kéo BKS: 50LD -134.96 tại thời điểm 10 giờ 11 phút 31 giây là: 39km/h và trích được 20 hình ảnh từ 02 camera thể hiện việc điều khiển xe của lái xe Trần Quốc T (trong cabin xe), việc điều khiển xe của Phạm Văn B.
Về tốc độ cho phép tại đoạn đường nơi xảy ra tai nạn: Trên cơ sở Công văn số 1113/KQLĐBIII-QLĐT ngày 10/5/2024 của Khu quản lý đường bộ III thuộc Cục Đ1 và Thông tư số: 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G, quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ, thì tốc độ tối đa cho phép đối với xe ô tô đầu kéo kéo sơ mi rơ mooc tại đoạn đường xảy ra tai nạn là 70km/h.
Kết luận về dấu vết cơ học: Theo Bản kết luận giám định số: 489/KL-KTHS ngày 05/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q xác định điểm va chạm giữa các phương tiện trên mặt đường và trên phương tiện như sau:
- + Vị trí va chạm đầu tiên trên mặt đường giữa xe ô tô đầu kéo BKS: 50LD-134.96 kéo theo sơ mi rơ mooc BKS: 51R-230.80 với xe mô tô BKS: 76K1-066.65 là khu vực phía Bắc dấu vết cày xước mặt đường (ký hiệu số 4), thuộc phân đường phía Đông Quốc lộ A đoạn Km1124+600 thôn H, xã P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi.
- + Điểm va chạm đầu tiên giữa 02 xe là góc trước bên phải xe ô tô đầu kéo (làm cho góc bên phải cản vị trí cao cách nên 60cm bị trầy xước, cong vênh, biến dạng bám dính chất lạ màu xanh, đen) với phía trước đầu xe mô tô (làm cho đầu trước chắn bùn bánh trước, mặt nạ trước đầu xe bể vỡ, bánh trước vị trí cách chân van 14cm theo ngược chiều tiến bị chà mòn cao su, vành bánh xe và trí tương ứng bị cong vênh, biến dạng hướng vào tâm...). Sau điểm va chạm đầu tiên, một số linh kiện phía trước bên phải đầu xe ô tô đầu kéo tiếp tục va chạm với một số linh kiện phía trước xe mô tô tạo ra các dấu vết tương ứng trên 02 xe.
Về điều kiện giấy phép lái xe của Trần Quốc T và Phạm Văn B: Theo các Công văn của Sở Giao thông vận tải thành phố H và Sở Giao thông vận tải tỉnh Q thì Trần Quốc T và Phạm Văn B có giấy phép lái xe đúng quy định, được điều khiển các phương tiện tương ứng ghi trên giấy phép lái xe.
Kết quả kiểm tra nồng độ cồn và test nhanh ma túy: Lực lượng chức năng đã kiểm tra nồng độ cồn trong khí thở của Trần Quốc T, kết quả: 0.000mg/l. Test nhanh chất ma túy trong nước tiểu của Trần Quốc T kết quả: Âm tính với chất ma túy.
Kết quả xét nghiệm hóa sinh ngày 25/4/2024 của Bệnh viện đa khoa tỉnh B ghi nhận kết quả xét nghiệm máu của Phạm Văn B có chỉ số định lượng Ethanol (cồn) là 2.02mg/100ml.
Tại bản cáo trạng số 40/CT – VKS-ĐP ngày 29/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ truy tố bị cáo Phạm Văn B về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ giữ nguyên quyết định truy tố như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt Phạm Văn B 36 tháng tù cho hưởng án treo.
Về vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an thị xã Đ đã tạm giữ và xử lý vật chứng, tài liệu sau:
- + Xe ô tô đầu kéo BKS: 50LD-134.96 kéo sơ mi rơ mooc BKS: 51R-203.80 và xe mô tô BKS: 76K1-066.65 cùng với các giấy tờ có liên quan;
- + Thiết bị giám sát hành trình tích hợp đầu ghi video trên xe ô tô đầu kéo BKS: 50LD-134.96;
- + Thiết bị giám sát hành trình xe ô tô đầu kéo BKS: 50LD-134.96;
- + Giấy phép lái xe hạng FC của Trần Quốc T, có giá trị đến ngày 25/10/2028;
- - Xét thấy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, sau khi làm các thủ tục cần thiết, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Đ đã trả lại 02 phương tiện, giấy tờ xe có liên quan và thiết bị giám sát hành trình cho chủ sở hữu, trả giấy phép lái xe cho Trần Quốc T là đúng quy định pháp luật nên đề nghị không xem xét.
Vật chứng còn tạm giữ: Giấy phép lái xe hạng A1 của Phạm Văn B; đề nghị trả lại cho Phạm Văn B.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi tai nạn xảy ra, lái xe Trần Quốc T đã hỗ trợ gia đình nạn nhân Phạm Thị N số tiền 46.000.000đ. Gia đình nạn nhân có đơn bãi nại trách nhiệm dân sự, không có yêu cầu gì thêm. Bị cáo Phạm Văn B bồi thường cho cha của bị hại là ông Phạm Văn L1 số tiền 10.000.000đ. Hiện nay không có yêu cầu bồi thường nào thêm từ phía đại diện hợp pháp của bị hại và những người có liên quan trong vụ án nên đề nghị không xem xét.
Người bào chữa cho bị báo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s, p khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 36 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo 24 tháng cải tạo không giam giữ .
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về người tham gia tố tụng tại phiên tòa: Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt; xét thấy trong hồ sơ vụ án đã có lời khai của họ. Do vậy, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[1.2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Phạm Văn B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của đại diện người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án nên có cơ sở để xác định:
Vào sáng ngày 25/4/2024, Phạm Văn B điều khiển xe mô tô BKS: 76K1-066.65 trong tình trạng cơ thể có nồng độ cồn chở theo vợ là Phạm Thị N đi trên Quốc lộ A theo hướng N-B. Khi đi đến đỉnh Đèo Bình Đ có 02 nhánh đường một chiều (01 nhánh đường ở phía Đông dành cho các phương tiện lưu thông hướng Nam – B, một nhánh đường ở phía Tây dành cho các phương tiện lưu thông hướng Bắc – N), tại nhánh đường phía Tây đã đặt biển báo cấm đi ngược chiều nhưng Phạm Văn B điều khiển xe chạy vào nhánh đường này, di chuyển trên làn xe cơ giới bên phải (phía Đông) để xuống dốc, khi đến đoạn Km 1124+600 (lúc này là 10 giờ 11 phút ngày 25/4/2024), tại khu vực đường này đường có đặc điểm cong về hướng Đông, lưng cung quay về hướng Tây, ở phía Đông có cây, bụi rậm cao 3,5m nên tầm nhìn bị che khuất, khi Phạm Văn B điều khiển xe vừa qua hết đoạn đường cong thì tông vào bên phải đầu xe ô tô đầu kéo BKS: 50LD-134.96 kéo theo sơ mi rơ mooc BKS: 51R-203.80, do Trần Quốc T điều khiển lưu thông lên dốc theo hướng từ B vào N. Hậu quả vụ tai nạn là Phạm Thị N chết, Phạm Văn B bị thương, xe ô tô đầu kéo BKS: 50LD-134.96 bị móp nhẹ phần đầu trước bên phải, xe mô tô BKS: 76K1-066.65 bị hư hỏng.
Hành vi của bị cáo Phạm Văn B điều khiển xe mô tô BKS: 76K1-066.65 trong tình trạng cơ thể có nồng độ cồn 2.02mg/100ml; đi vào đường một chiều đã có biển báo hiệu “Cấm đi ngược chiều” ở đầu đường phía Nam. Hành vi của bị cáo đã vi phạm vào khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ, khoản 23 điều 8 Luật Giao thông đường bộ, vi phạm quy định tại Điều 35 Luật phòng chống tác hại của rượu, bia năm 2019 đã sửa đổi, bổ sung khoản 8 Điều 8 của Luật giao thông đường bộ năm 2008 là “Điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn”; hành vi của bị cáo cũng là nguyên nhân trực tiếp gây nên vụ tai nạn giao thông, thực hiện với lỗi vô ý, xâm hại đến khách thể trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây hậu quả làm chết 01 người nên đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ truy tố bị cáo Phạm Văn B về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Tính chất, mức độ hành vi: Bị cáo Phạm Văn B là công dân Việt Nam, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình. Bị cáo đã được cấp giấy phép lái xe đúng quy định nên đủ điều kiện được điều khiển xe mô tô BKS: 76K1-066.65. Bị cáo biết rằng điều khiển xe mô tô là nguồn nguy hiểm cao độ, khi tham gia giao thông buộc phải chấp hành đúng các quy định của pháp luật giao thông đường bộ. Tuy hiểu biết pháp luật giao thông đường bộ nhưng bị cáo không chấp hành đúng các quy định của pháp luật giao thông đường bộ. Cụ thể là bị cáo điều khiển xe mô tô trong tình trạng cơ thể có nồng độ cồn, đi vào đường một chiều đã có biển báo hiệu “Cấm đi ngược chiều” nên đã gây tai nạn, hậu quả làm chết 01 người và bản thân bị cáo cũng bị thương tích 47%. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến khách thể trật tự an toàn giao thông đường bộ được pháp luật hình sự bảo vệ.
Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo Phạm Văn B thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường thiệt hại cho ông Phạm Văn L1 (cha của bị hại Phạm Thị N) 10.000.000 đồng để khắc phục hậu quả sau vụ tai nạn; ông L1 xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho Phạm Văn B. Do đó đây là các tình tiết xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự .
Về nhân thân: Bị cáo chưa bị xử lý hình sự, hành chính
Với tính chất, mức độ hành vi và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo nhận định nêu trên; Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi, hậu quả của bị cáo gây ra và không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ để giáo dục bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội.
[4] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
- Trả lại cho Phạm Văn B Giấy phép lái xe hạng A1
[5] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi tai nạn xảy ra, lái xe Trần Quốc T đã hỗ trợ gia đình nạn nhân Phạm Thị N số tiền 46.000.000đ. Gia đình nạn nhân có đơn bãi nại trách nhiệm dân sự, không có yêu cầu gì thêm. Bị cáo Phạm Văn B bồi thường cho cha của bị hại là ông Phạm Văn L1 số tiền 10.000.000đ. Hiện nay không có yêu cầu bồi thường nào thêm từ phía đại diện hợp pháp của bị hại và những người có liên quan trong vụ án nên không xem xét.
[6] Đề nghị của Kiểm sát viên về phần hình phạt đối với bị cáo; về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[7] Đề nghị của người bào chữa cho bị cáo chưa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
[8] Về án phí: Bị cáo Phạm Văn B là đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn tiền án phí hình sự nên được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn B 03 (Ba) năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (năm) năm, kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ lần 2 trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
Trả lại Giấy phép lái xe hạng A1 cho Phạm Văn B
Về án phí: Bị cáo Phạm Văn B được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện của người bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Minh Trung |
Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 42/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bỏi vi phạm giao thông đường bộ
