Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ K

TỈNH K

Bản án số: 42/2024/DS-ST

Ngày: 24/9/2024

“V/v tranh chấp chậm thực hiện

nghĩa vụ dân sự”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ K – TỈNH K

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ry Thị Mỹ Hoàng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Duy Cảnh và bà Chế Thị Mai

- Thư ký phiên tòa: Ông Tô Quang Đô – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố K, tỉnh K.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố K, tỉnh K tham gia phiên tòa: Bà Y Hồng Vân – Kiểm sát viên.

Ngày 24/9/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố K - tỉnh K xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 122/2023/TLST-DS ngày 25/10/2023, về việc tranh chấp “Chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2024/QĐXXST-DS ngày 30/8/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 521/2024/QĐXXST-DS ngày 16/9/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Hải H

Địa chỉ: 13A Lê Hữu Trác, phường Thắng Lợi, thành phố K, tỉnh K (Có mặt).

- Bị đơn: Chị Lê Thị Kim Ch

Địa chỉ: 344 Đào Duy Từ, thành phố K, tỉnh K (Có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Tri Đ – Luật sư, Công ty Luật TNHH MTV 360, thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ: Số 150 Diệp Minh Châu, phường Tân Sơn Nhì, quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đào Thanh Q

Địa chỉ: 389 Phạm Văn Đồng, phường Lê Lợi, thành phố K, K (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại khởi kiện đề ngày 10/10/2023, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:

Tôi và chị Lê Thị Kim Ch vốn có quan hệ vợ chồng, nhưng đã ly hôn theo Quyết định số 202/2019/QĐST-HNGĐ ngày 06/8/2019 của Tòa án nhân dân thành phố K. Trong quá trình giải quyết ly hôn, do trước đó, chúng tôi có vay Ngân hàng số tiền là 600.000.000 đồng nên đã tự nguyện thỏa thuận về khoản nợ trên. Số tiền trên là nợ chung của hai vợ chồng, nhờ mẹ đẻ của tôi bảo lãnh, vay từ khi kết hôn. Tôi nhận trả số tiền là 400.000.000 đồng còn chị Ch nhận trả số tiền là 200.000.000 đồng. Chúng tôi thống nhất lập và ký vào Giấy xác nhận nợ, ngày 27/7/2019. Chị Ch có trách nhiệm trả dần cho tôi số tiền 200.000.000 đồng từ ngày 27/7/2019 đến 27/7/2023. Tuy nhiên, từ đó đến nay, chị Ch chưa trả cho tôi bất cứ khoản tiền nào. Giấy xác nhận nợ là chị Ch tự nguyện ký vào, tôi không hề ép buộc.

Tôi đề nghị Tòa án giải quyết buộc chị Ch trả cho tôi số tiền tổng cộng là 280.000.000 đồng (Trong đó, nợ gốc là 200.000.000đ, lãi suất từ ngày 27/7/2019 đến ngày 27/7/2023 theo lãi suất do ngân hàng quy định 10%/năm là 80.000.000đ).

Đối với yêu cầu phản tố của chị Ch tôi không chấp nhận. Bởi lẽ, việc góp vốn kinh doanh giữa tôi và anh Q vào năm 2017 là trong giai đoạn hôn nhân giữa tôi và bà Ch. Nhưng nguồn vốn góp được hình thành từ nguồn nợ chung chứ không phải là tài sản chung. Nguồn nợ của Hợp đồng vay tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh K theo Hợp đồng tín dụng số 1534/17/CT/NHNT ngày 07/8/2017 và được đáo hạn theo Hợp đồng tín dụng số 1236/18/CT/NHNT ngày 11/7/2018. Trong quá trình góp vốn ông Q đã không thực hiện đúng cam kết nên tôi đã khởi kiện đòi lại số tiền đã góp vốn là 367.070.000đ. Nếu bà Ch yêu cầu Ch số tiền này thì đề nghị Tòa án xem giải quyết nguồn nợ chung hình thành vốn góp phân Ch theo quy định pháp luật.

- Tại bản tự khai cũng như tại phiên tòa, bị đơn trình bày như sau:

Trước kia, tôi và anh Nguyễn Hải H có quan hệ vợ chồng với nhau. Đến năm 2019, chúng tôi ly hôn đúng như anh H đã trình bày. Trong quá trình chung sống, anh H và gia đình nhiều lần yêu cầu tôi đến Ngân hàng để ký thủ tục vay tiền. Tôi hoàn toàn không nợ và cầm số tiền vay Ngân hàng. Trong quá trình làm thủ tục ly hôn, anh H gây sức ép với tôi, ép tôi phải ký Giấy xác nhận nợ, ngày 27/7/2019. Nội dung, tôi có trách nhiệm trả dần cho tôi số tiền 200.000.000 đồng từ ngày 27/7/2019 đến 27/7/2023. Tuy nhiên, tôi hoàn toàn không vay nợ anh H nên tôi không đồng ý trả tiền theo yêu cầu khởi kiện của anh H. Nếu anh H cho rằng tôi nợ anh H số tiền 200.000.000 đồng thì tôi yêu cầu anh H chứng minh có đưa tiền cho tôi bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản.

Đối với yêu cầu phản tố thì tôi yêu cầu Tòa án buộc anh H phải thanh toán số tiền 183.535.000đ theo bản án số 33/2021/DS-ST ngày 21/7/2021 của TAND thành phố K. Bởi vì việc góp vốn kinh doanh giữa anh H và anh Q vào năm 2017 thì anh H có bàn bạc với tôi về việc góp vốn này; việc anh H cho rằng nguồn vốn góp này được hình thành từ nguồn nợ chung của tôi và anh H tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh K, chứ không phải là tài sản chung, là không đúng vì nếu nguồn góp vốn này hình thành từ nguồn nợ chung của tôi và anh H thì tại sao trong giấy nhận nợ ngày 27/7/2019, anh H không ghi nội dung thỏa thuận này trong giấy nhận nợ.

Ý kiến của Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp bị đơn:

Thứ nhất, đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Các bên đều thừa nhận giấy nhận nợ ngày 27/7/2019 là do anh H là người lập và chị Ch ký, điểm chỉ. Tuy nhiên, mục đích, lý do nhận nợ hoàn toàn không thể hiện. Khi khởi kiện anh H lại viện dẫn trong quá trình giải quyết vụ án là khoản vay chung và hai bên thống nhất anh H trả số tiền 400.000.000đ, còn chị Ch trả số tiền 200.000.000đ. Nhưng tại giấy nhận nợ hoàn toàn không có nội dung này và tại phiên tòa anh H lại khai số tiền anh trả vào Ngân hàng là tiền anh vay mượn nhưng anh không cung cấp tài liệu gì chứng minh. Hơn nữa, anh H cũng thừa nhận tất cả các khoản vay mượn đều do anh tự vay tự trả còn số tiền trong giấy nhận nợ là số tiền có mà chị Ch giữ hình thành từ tài sản chung trong hôn nhân, tuy nhiên anh H không có tài liệu gì chứng minh. Sau khi ly hôn, chị Ch không nhận một khoản tiền nào, vậy số tiền vay Ngân hàng trong thời kỳ hôn nhân đi đâu? Thấy rằng, lời khai của anh H trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa là bất nhất.

Thứ hai, đối với yêu cầu phản tố của bị đơn thì khoản góp vốn giữa anh H và anh Q là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Tại nhận nợ ngày 27/7/2019 không thể hiện nội dung nào liên quan đến khoản góp vốn này. Từ những cơ sở nêu trên, tôi đề nghị bác toàn bộ đơn khởi kiện của anh H và chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của chị Ch.

- Tại bản trình bày ngày 03/9/2024 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, anh Đào Thanh Q trình bày: Trước đây giữa anh và vợ chồng anh H, chị Ch có góp vốn kinh doanh vận tải đã được TAND thành phố K giải quyết bằng bản án số 33/2021/DS-ST ngày 21/7/2021 và anh đã thi hành xong. Do đó, anh không liên quan gì đến việc khởi kiện giữa anh H và chị Ch trong vụ án này.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố K phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ quy định tại điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp đều có căn cứ. Bị đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án đề nghị HĐXX:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 228; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 116; Điều 117; khoản 2 Điều 357; Điều 466; khoản 2 Điều 468; Điều 469 Bộ luật dân sự.

Căn cứ Điều 27; Điều 37; Điều 59; Điều 64 Luật Hôn nhân gia đình.

1.1. Chấp nhận một phần đơn khởi kiện về việc "Tranh chấp chậm thực hiện nghĩa vụ” của nguyên đơn anh Nguyễn Hải H, đề ngày 10/10/2023.

Buộc chị Lê Thị Kim Ch phải trả cho anh Nguyễn Hải H tổng số tiền là 223.287.671 đồng (Hai trăm hai mươi ba triệu, hai trăm tám mươi bảy nghìn, sáu trăm bảy mốt đồng). Trong đó, tiền gốc là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng); tiền lãi tính đến ngày 24/7/2024 là 23.287.671 đồng (Hai mươi ba triệu, hai trăm tám mươi bảy nghìn, sáu trăm bảy mốt đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng

Anh Nguyễn Hải H khởi kiện yêu cầu chị Lê Thị Kim Ch hiện trú tại số 344 Đào Duy Từ, thành phố K, tỉnh K thực hiện nghĩa vụ dân sự Đây là tranh chấp "Chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố K theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với anh Đào Thanh Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Đào Thanh Q.

[2] Về nội dung vụ án:

2.1. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Theo trình bày của nguyên đơn: Trước đây anh H và chị Ch là vợ chồng, nhưng đã ly hôn theo Quyết định số 202/2019/QĐST-HNGĐ ngày 06/8/2019 của Tòa án nhân dân thành phố K. Trong quá trình chung sống cả hai có vay Ngân hàng nhiều lần để làm ăn. Đến thời điểm làm thủ tục ly hôn thì cả hai còn nợ Ngân hàng số tiền là 600.000.000 đồng và cả hai bên thỏa thuận anh H nhận trả số tiền là 400.000.000 đồng còn chị Ch nhận trả số tiền là 200.000.000 đồng. Chị Ch có trách nhiệm trả dần cho anh H số tiền 200.000.000 đồng từ ngày 27/7/2019 đến 27/7/2023. Tuy nhiên, từ đó đến nay chị Ch chưa trả cho anh H bất cứ khoản tiền nào. Nên đề nghị Tòa án giải quyết quyết buộc chị Ch trả cho tôi số tiền tổng cộng là 280.000.000 đồng (Trong đó, nợ gốc là 200.000.000đ, lãi theo lãi suất ngân hàng 10%/năm từ ngày 27/7/2019 đến ngày 27/7/2023 là 80.000.000đ).

Về phía bị đơn chị Lê Thị Kim Ch không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh H vì cho rằng chị Ch không nợ anh H khoản tiền nào mà vì anh H ép buộc ký giấy nhận nợ.

HĐXX xét thấy: Tại Giấy xác nhận nợ, ngày 27/7/2019 thể hiện chị Ch có trách nhiệm trả cho anh H số tiền 200.000.000 đồng từ ngày 27/7/2019 đến 27/7/2023. Giấy nhận nợ này được lập trước ngày anh H và chị Ch ly hôn. Qua các tài liệu, chứng cứ do Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh K thấy rằng trong quá trình chung sống anh H và chị Ch có ký kết nhiều hợp đồng vay với Ngân hàng. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị Ch có thừa nhận quá trình chung sống chị và anh H có ký các hợp đồng vay tại Ngân hàng. Tuy nhiên, chị Ch cho rằng toàn bộ số tiền vay Ngân hàng chị không được sử dụng. Và chị cho rằng chị không nợ anh H khoản tiền như anh H khởi kiện mà thực tế do anh H ép buộc chị ký nhưng chị Ch không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh cho lời khai của mình. Tại phiên tòa, anh H cho rằng số tiền thể hiện trong Giấy nhận nợ là số tiền có mà chị Ch giữ hình thành từ tài sản chung trong hôn nhân, khi ly hôn chị Ch không có tiền để Ch nên nhận nợ. Tuy nhiên, anh H không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì chứng minh cho lời khai của mình.

Căn cứ vào các tài liệu thu thập được thấy rằng, ngày 27/7/2019 chị Ch ký giấy xác nhận nợ, ngày 29/7/2019 giữa chị Ch và anh H thỏa thuận được với nhau về về ly hôn, đến ngày 30/9/2019 anh H đã thanh toán cho Ngân hàng tất cả các khoản nợ chung giữa chị Ch và anh H và đến ngày 06/8/2019 anh H và chị Ch thuận tình ly hôn. Tuy lời khai của anh H có sự mâu thuẫn nhưng, lời khai của anh H phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Chị Ch không chứng minh được việc bản thân không nợ anh H số tiền 200.000.000đ như đơn khởi kiện.

Đối với yêu cầu tính lãi của anh H buộc chị Ch phải trả lãi theo lãi suất 10%/năm kể từ ngày 27/7/2019 đến ngày 27/7/2023. Xét thấy, tại Giấy xác nhận nợ, ngày 27/7/2019 các bên có thỏa thuận thời gian trả nợ nhưng không thỏa thuận về mức lãi suất. Xác định đây là hợp đồng vay có kỳ hạn và không có lãi theo quy định tại khoản 1 Điều 469 Bộ luật dân sự. Do đó, khi bên cho vay yêu cầu bên vay phải trả lãi thì được tính từ ngày nợ gốc quá hạn chưa trả từ ngày tiếp theo của ngày đến hạn trả nợ là ngày 28/7/2023 cho đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 24/9/2024. Mức lãi suất được tính căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự là 10%/năm. Như vậy, chị Ch phải trả cho anh H số tiền lãi cụ thể như sau: 200.000.000 đồng x 10%/năm x 425 ngày = 23.287.671 đồng.

Từ những phân tích nêu trên, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Hải H. Buộc chị Lê Thị Kim Ch phải trả cho anh Nguyễn Hải H tổng cộng số tiền là 223.287.671 đồng. Trong đó, tiền gốc là 200.000.000 đồng; tiền lãi là 23.287.671 đồng.

2.2. Xét yêu cầu phản tố của bị đơn:

Bị đơn yêu cầu Tòa án buộc anh H phải thanh toán số tiền 183.535.000đ theo bản án số 33/2021/DS-ST ngày 21/7/2021 của TAND thành phố K.

Xét thấy, quá trình anh H và chị Ch chung sống thì vào năm 2017 anh chị có góp vốn kinh doanh với anh Đào Thanh Q, giá trị góp vốn là 400.000.000đ. Theo anh H trình bày thì nguồn vốn góp được hình thành từ nguồn nợ chung chứ không phải là tài sản chung. Nguồn nợ đó là của Hợp đồng vay tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam Chi nhánh K theo Hợp đồng tín dụng số 1534/17/CT/NHNT ngày 07/8/2017 và được đáo hạn theo Hợp đồng tín dụng số 1236/18/CT/NHNT ngày 11/7/2018.

HĐXX xét thấy: Tại bản án số 33/2021/DS-ST ngày 21/7/2021 của TAND thành phố K đã Quyết định buộc anh Đào Thanh Q phải trả cho anh Nguyễn Hải H số tiền 367.070.000 đồng, đến nay anh Q đã thi hành xong khoản tiền này. Thấy rằng, tại thời điểm anh H và chị Ch góp vốn thì hai bên đều đang trong thời kỳ hôn nhân do đó tài sản để góp vốn được xác định là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Trước khi thỏa thuận ly hôn thì anh H và chị Ch có thỏa thuận về việc Ch nợ chung được thể hiện tại Giấy xác nhận nợ ngày 27/7/2019. Căn cứ vào giấy xác nhận nợ thì các bên chỉ thỏa thuận về việc Ch nợ và không thỏa thuận nội dung nào khác. Do đó, xác định khoản góp vốn này là trong thời kỳ hôn nhân và chưa được anh H, chị Ch thỏa thuận Ch.

Từ những căn cứ trên, HĐXX thấy cần chấp nhận yêu cầu phản tố của chị Ch. Buộc anh H phải thanh toán cho chị Ch số tiền 183.535.000 đồng.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Thị Kim Ch phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện của anh H được HĐXX chấp nhận. Anh Nguyễn Hải H phải chịu án phí đối với yêu cầu phản tố của chị Ch được HĐXX chấp nhận và án phí dân sự sơ thẩm đối với khoản tiền lãi không được chấp nhận theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 228 Điều 266; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 116; Điều 117; khoản 2 Điều 357; Điều 466; khoản 2 Điều 468; Điều 469 Bộ luật dân sự.

Căn cứ Điều 27; Điều 37; Điều 59; Điều 64 Luật Hôn nhân gia đình.

1. Tuyên xử:

1.1. Chấp nhận một phần đơn khởi kiện về việc "Tranh chấp chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự” của nguyên đơn anh Nguyễn Hải H, đề ngày 10/10/2023.

Buộc chị Lê Thị Kim Ch phải trả cho anh Nguyễn Hải H tổng số tiền là 223.287.671 đồng (Hai trăm hai mươi ba triệu, hai trăm tám mươi bảy nghìn, sáu trăm bảy mốt đồng). Trong đó, tiền gốc là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng); tiền lãi tính đến ngày 24/7/2024 là 23.287.671 đồng (Hai mươi ba triệu, hai trăm tám mươi bảy nghìn, sáu trăm bảy mốt đồng).

1.2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của chị Lê Thị Kim Ch đề ngày 11/01/2024.

Buộc anh Nguyễn Hải H phải trả cho chị Lê Thị Kim Ch số tiền là 183.535.000 đồng (Một trăm tám mươi ba triệu, năm trăm ba lăm nghìn đồng).

Căn cứ khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành mà bên phải thi hành án chậm trả số tiền nêu trên thì phải trả lãi đối với số tiền gốc chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự, cho đến khi thi hành án xong số tiền nói trên trên.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 144, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 6, Điều 18, Điều 19, khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chị Lê Thị Kim Ch phải chịu 11.164.000 đồng (Mười một triệu, một trăm sáu bốn nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Được trừ vào số tiền 4.588.375 đồng (Bốn triệu, năm tăm tám mươi tám nghìn, ba trăm bảy lăm đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000715 ngày 11/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố K. Chị Ch còn phải nộp tiếp 6.575.625 đồng (sáu triệu, năm trăm bảy lăm nghìn, sáu trăm hai lăm đồng).

Anh Nguyễn Hải H phải chịu 9.177.000 đồng (Chín triệu, một trăm bảy bảy nghìn đồng) án phí phản tố sơ thẩm và 2.863.000 đồng (Hai triệu, tám trăm sáu ba nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Được trừ vào số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000531 ngày 24/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố K. Anh H còn phải nộp tiếp 7.013.000 đồng (Bảy triệu, không trăm mười ba nghìn đồng).

3. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (24/9/2024), các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh K;
  • - VKSND Tp. K;
  • - Chi cục THADS Tp.K;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Ry Thị Mỹ Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/DS-ST ngày 24/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ K – TỈNH K về tranh chấp chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự

  • Số bản án: 42/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ K – TỈNH K
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận một phần đơn khởi kiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger