Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÒA BÌNH

TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2024/HNGĐ-ST

Ngày 30-9-2024.

(Về việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con và

cấp dưỡng nuôi con)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đà Giang

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lan

Bà Phạm Thị Nga

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thái Bình – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 142/2024/TLST- HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 24/2024/QĐST-HNGĐ ngày 13/9/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Trần Thị Kim N, sinh năm 1990

Địa chỉ: Số A ngõ F đường A, tổ A, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình – Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt);

- Bị đơn: anh Phùng Xuân P, sinh năm 1994

Địa chỉ: Tổ I, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 20/5/2024 và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, nguyên đơn là chị Trần Thị Kim N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Kim N và và anh Phùng Xuân P đã tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình, đăng ký kết hôn ngày 23 tháng 8 năm 2023. Do hoàn cảnh hai bên đã từng qua một lần hôn nhân, ly hôn nên chị N đã nghĩ là vợ chồng có thể dễ thông cảm cho nhau. Do vậy chị N và anh Phùng Xuân P mới tiến tới hôn nhân. Tuy nhiên sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn. Nhất là trong thời kỳ chị Trần Thị Kim N mang thai cháu Phùng Tiến A, anh P nhiều lần đòi ly hôn và đuổi chị N ra khỏi gia đình anh. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh P là người cục tính, thường xuyên có hành vi bạo lực, hay chửi bới xúc phạm chị N dù chỉ là những chuyện nhỏ nhặt. Thời gian ở cùng gia đình nhà chồng, mẹ chồng chị N chứng kiến việc anh P đánh chị N nhưng không khuyên ngăn, tỏ ra thờ ơ như không biết. Hiện nay mặc dù con chung là cháu Phùng Tiến A được có mấy tháng tuổi nhưng nhận thấy hành vi bạo lực của chồng thường xuyên như một phần tính cách không thể thay đổi nên chị quyể tâm ly hôn. Về kinh tế, anh P cũng không bao giờ đưa tiền cho vợ là chị N nuôi con nên chị N nhận thấy không đạt được mục đích gì trong hôn nhân. Bản thân chị N phải đưa con về nhà mẹ đẻ chỉ vì anh P đánh đuổi. Sau khi chị N về nhà mẹ đẻ từ ngày 11/8/2024 anh P vẫn sang nhà mẹ đẻ chị P để la lối, chửi mắng, mang cả dao sang nhà vợ để uy hiếp dọa nạt đòi con. Ngay sau khi kết hôn về thì anh P đã có biểu hiện gia trưởng, cục súc, hay chửi bới và dễ nổi cáu vô cớ. Vợ chồng chị N và anh P đã mâu thuẫn ngay sau khi kết hôn do cả hai đã từng kết hôn và ly hôn, giờ kết hôn lần nữa do mai mối, giới thiệu nên không tìm hiểu kỹ về tính cách của nhau. Chị N đi làm ở công ty M1 gần nhà trung bình thu nhập khoảng từ 6.000.000 (sáu triệu) đồng đến 7.000.000 (bảy triệu) đồng/tháng, chưa tính làm thêm bên ngoài. Chị N kinh doanh online mỗi tháng cũng được thêm khoảng 3.000.000 (ba triệu) đồng. Mâu thuẫn vợ chồng xuất phát từ việc tính cách anh P nóng nảy và thiếu kiểm soát, gia trưởng, hay chửi tục. Một phần do mẹ chồng chị N hay bóng gió chê bai con dâu và luôn coi chị N là người phải làm mọi việc trong gia đình. Nếu chị N trót nhỡ việc do bận con nhỏ thì mẹ của anh P sẽ không vui, khi về anh P sẽ chửi bới, đánh đập vợ. Khi chị N bị chồng đánh đuổi mẹ chồng còn cười. Chị N bế con về nhà bố mẹ để ở do con còn nhỏ chưa cai sữa và cần người chăm sóc trông nom nên chị N ở cùng và nhờ mẹ chị N trông con để chị còn đi làm. Nay chị N nhận thấy không còn tình cảm vợ chồng, yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Phùng Xuân P càng sớm càng tốt, để giải thoát cho chị N khỏi cảnh bạo lực gia đình.

Về con chung: Vợ chồng chị N anh P có một con chung là Phùng Tiến A, sinh ngày 21/11/2023. Ly hôn chị N có nguyện vọng được nuôi con vì con còn nhỏ đang cần sự chăm sóc của mẹ. Chị N yêu cầu anh P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là 1.500.000 (Một triệu năm trăm nghìn) đồng/tháng, kể từ khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con được 18 tuổi hoặc có thay đổi theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung: Chị N và anh P không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về công nợ chung: Vợ chồng chị N và anh P không có công nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị N tự nguyện chịu toàn bộ án phí ly hôn theo quy định.

Bị đơn anh Phùng Xuân P:

Anh Phùng Xuân P đã được Tòa án triệu tập, giao văn bản tố tụng hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình. Do đó, Tòa án không ghi được lời khai và không tiến hành hòa giải được. Tòa án đã tiến hành giao Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa để anh Phùng Xuân P biết nhưng anh vẫn vắng mặt tại phiên tòa tất cả các lần mà không có lý do.

Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương nơi anh Phùng Xuân P cư trú. Kết quả xác minh cho thấy: Anh Phùng Xuân P có đăng ký thường trú tại tổ I, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình và vẫn sinh sống tại tổ I, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.

Tòa án đã tiến hành xác minh đối với chính quyền địa phương, họ hàng là hàng xóm gần nhà anh P và chị N.

Đại diện khu dân cư T, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình cung cấp như sau: Anh Phùng Xuân P và chị Trần Thị Kim N là hai vợ chồng hợp pháp cùng chung sống với nhau và với gia đình anh P tại tổ I, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Quá trình chung sống, chị N và anh P cũng có xích mích, mâu thuẫn, để lại điều tiếng quanh xóm làng là có mắng chửi, đánh nhau, cụ thể lý do như thế nào ông P1 không rõ. Thực tế vợ chồng N - P cũng chưa qua hòa giải tại địa phương bao giờ.

Bà Dương Thị M, sinh năm 1971 cung cấp như sau: bà xác nhận bà là dì trong họ của anh Phùng Xuân P. Bà cho biết tình hình vợ chồng anh Phùng Xuân P và chị Trần Thị Kim N cụ thể mâu thuẫn nội tình như nào bà M không rõ, chỉ nghe nói là do vợ lười, chồng lười, chồng chê vợ, vợ chê chồng, trục trặc mâu thuẫn với nhau.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử như sau:

- Về tố tụng : Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 71. Bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72 của BLTTDS. Phiên tòa xét xử vắng mặt tất cả các đương sự đã bảo đảm quy định tại Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung:

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Kim N; xử cho chị Trần Thị Kim N được ly hôn anh Phùng Xuân P.

Về con chung: Giao con chung là Phùng Tiến A, sinh ngày 21/11/2023 cho chị Trần Thị Kim N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Trần Thị Kim N yêu cầu anh Phùng Xuân P cấp dưỡng nuôi con số tiền 1.500.000 (Một triệu năm trăm nghìn) đồng/tháng, kể từ sau ly hôn cho đến khi con 18 tuổi hoặc có quyết định khác theo quy định của pháp luật là hoàn toàn phù hợp, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

Về tài sản chung, công nợ chung: Chị N khai không có, không đề nghị giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 buộc chị Trần Thị Kim N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm và buộc anh Phùng Xuân P phải chịu án pí cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Quan hệ pháp luật trong vụ án là tranh chấp về hôn nhân. Bị đơn có nơi cư trú tại thành phố H, tỉnh Hòa Bình nên Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành cấp, tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng đảm bảo tuân thủ đúng quy định pháp luật. Việc giải quyết, xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng đã bảo đảm các quy định tại Điều 207, 208, Khoản 3 Điều 210; Điều 227, 228, 238, 254 của Bộ luật tố tụng dân sự. Ngoài ra, việc cấp, tống đạt văn bản tố tụng là các Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo về kết quả phiên họp; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa đã bảo đảm đúng các quy định tại Điều 173, 177, 178, 179 của Bộ luật tố tụng dân sự về cấp, tống đạt, niêm yết công khai văn bản tố tụng.

Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử là cần thiết và đúng quy định của pháp luật. Ngoài ra, hiệc hoãn phiên tòa lần thứ nhất cũng đã bảo đảm quy định tại Điều 233 của Bộ luật tố tụng dân sự và bảo đảm quyền được tham gia tố tụng của anh P.

[2] Về nội dung vụ án:

Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Trần Thị Kim N và và anh Phùng Xuân P khi kết hôn là tự nguyện, không vi phạm quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình, đăng ký kết hôn ngày 23 tháng 8 năm 2023 trên cơ sở tự nguyện. Do vậy hôn nhân giữa chị Trần Thị Kim N và và anh Phùng Xuân P được xác định là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống, Vợ chồng ngay từ khi mới kết hôn đã thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng về tính cách, vợ chồng thiếu sự thông cảm, nhường nhịn dẫn đến bạo lực gia đình, không tôn trọng nhau. Hiện nay mặc dù con chung là cháu Phùng Tiến A chưa được khoảng 10 tháng tuổi nhưng nhận thấy gia đình tồn tại bạo lực và bất đồng về tính cách không thể chung sống; Về kinh tế, chị N cho rằng anh P không đưa tiền cho chị và không thực hiện trách nhiệm của người làm bố với con nên chị N nhận thấy không đạt được mục đích gì trong hôn nhân. Bản thân chị N phải đưa con về nhà mẹ đẻ chỉ vì anh P đánh đuổi. Sau khi chị N về nhà mẹ đẻ anh P vẫn sang nhà mẹ đẻ chị P để la lối, chửi mắng, uy hiếp, dọa nạt đòi con. Vợ chồng anh chị đã sống ly thân một thời gian, mỗi người một nơi, không còn quan tâm, chăm sóc đến nhau. Giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án đã nhiều lần đến nhà giao văn bản và để gặp anh Phùng Xuân P giải quyết yêu cầu ly hôn, Toà án yêu cầu anh P đến Tòa án để giải quyết ly hôn nhưng anh P cố tình trốn tránh, vắng mặt, không hợp tác, do vậy chị N phải đề nghị giải quyết ly hôn đơn phương theo quy định của pháp luật.

Xét thấy mâu thuẫn giữa chị Trần Thị Kim N và và anh Phùng Xuân P đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không còn tồn tại. Mặt khác, anh P biết việc chị N nộp đơn xin ly hôn nhưng vẫn cố tình vắng mặt không có lý do, không đến Tòa án trong suốt quá trình giải quyết vụ án để thể hiện ý kiến của mình, điều này chứng tỏ anh P cũng không mong muốn được hàn gắn để vợ chồng đoàn tụ. Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Kim N đối với anh Phùng Xuân P là có căn cứ, phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung:

Chị Trần Thị Kim N và anh Phùng Xuân P có 01 (một) con chung là Phùng Tiến A, sinh ngày 21/11/2023. Chị Trần Thị Kim N đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung và yêu cầu anh Phùng Xuân P cấp dưỡng nuôi con 1.500.000 (Một triệu năm trăm nghìn) đồng/tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Xét thấy con Phùng Tiến A, sinh ngày 21/11/2023 dưới 12 tháng tuổi, rất cần sự chăm sóc và gần gũi của người mẹ, hiện con vẫn đang ở với mẹ. Chị Trần Thị Kim N đi làm ở công ty M1 gần nhà trung bình thu nhập khoảng từ 6.000.000 (sáu triệu) đồng đến 7.000.000 (bảy triệu) đồng/tháng, chưa tính làm thêm bên ngoài. Chị N kinh doanh online mỗi tháng cũng được thêm khoảng 3.000.000 (ba triệu) đồng và chị N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con. Nhằm đảm bảo quyền lợi cũng như ổn định cuộc sống của con, căn cứ khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, giao cho chị Trần Thị Kim N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Phùng Tiến A, sinh ngày 21/11/2023 cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc khi có quyết định khác của Tòa án là đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các đương sự.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N có có yêu cầu anh Phùng Xuân P cấp dưỡng 1.500.000 (Một triệu năm trăm nghìn) đồng/tháng là hợp lý, cần xem xét chấp nhận.

[4] Về tài sản chung: Chị Trần Thị Kim N khai không có tài sản chung và không yêu cầu giải quyết. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về công nợ chung: Chị Trần Thị Kim N khai không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, bị đơn phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điểm a, b khoản 2 Điều 227, 228, 238, 254; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5, điểm đ khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Kim N về việc xin ly hôn với anh Phùng Xuân P.

Chị Trần Thị Kim N được ly hôn với anh Phùng Xuân P.

2. Về con chung:

Giao con là Phùng Tiến A, sinh ngày 21/11/2023 cho chị Trần Thị Kim N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc khi có quyết định khác theo quy định của pháp luật.

Anh Phùng Xuân P được quyền thăm nom con chung theo quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: anh Phùng Xuân P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 1.500.000 (Một triệu năm trăm nghìn) đồng/tháng, kể từ khi bản án ly hôn có hiệu lực cho đến khi con 18 tuổi hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí:

Chị Trần Thị Kim N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0000399 ngày 27/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình chuyển thành án phí cho chị Trần Thị Kim N.

Anh Phùng Xuân P phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung.

4. Về quyền kháng cáo:

Chị Trần Thị Kim N và anh Phùng Xuân P có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hòa Bình;
  • - VKSND tỉnh Hòa Bình;
  • - VKSND thành phố Hòa Bình;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADS thành phố Hòa Bình;
  • - UBND phường Thống Nhất (Nơi đăng ký kết hôn);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Đà Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình về tranh chấp ly hôn, nuôi con và cấp dưỡng nuôi con

  • Số bản án: 42/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con và cấp dưỡng nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, vợ nuôi con, chồng cấp dưỡng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger