|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 42/2024/HS-ST
Ngày: 30 - 8 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Huệ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Quốc Toàn
Bà Trần Ngọc Diệu
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Minh Thơ - Thư ký của Tòa án nhân dân
huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Tuyết Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 39/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 08 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Đỗ Văn T, sinh ngày 05/4/1985, tại tỉnh Bến Tre, tên gọi khác: không. Nơi cư trú: ấp B, xã C, huyện G, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn T1, sinh năm 1963 và bà Huỳnh Thị N, sinh năm1962; vợ Nguyễn Thị Huyền T2, sinh năm 1989 (đã ly hôn), có 01 người con sinh năm 2014; hiện tại sống chung như vợ chồng với Phạm Thị Thu T3 (là bị cáo trong vụ án); tiền án, tiền sự: không, nhân thân: tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 29/QĐ-XPHC ngày 23/4/2024 của Công an huyện G xử phạt số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã nộp phạt. Bị tạm giữ từ ngày 04/12/2023, chuyển tạm giam từ ngày 07/12/2023 cho đến nay (có mặt).
2. Phạm Thị Thu T3, sinh ngày 27/8/1984, tại tỉnh Bến Tre, tên gọi khác: không. Nơi cư trú: ấp H, xã M, huyện B, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn G, sinh năm 1959 và Lê Thị Đ, sinh năm 1962; bị cáo đã từng sống chung như vợ chồng với Phan Thế C, sinh năm 1985, có con 01 người con sinh năm 2004. Hiện tại sống chung như vợ chồng với Đỗ Văn T (là bị cáo trong vụ án); tiền án, tiền sự: không. Bị tạm giữ từ ngày 04/12/2023, chuyển tạm giam từ ngày 07/12/2023 cho đến nay (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Phan Thành T4, sinh năm 1981. Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).
- Người làm chứng: Văn Ngọc P, sinh năm 1977. Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đỗ Văn T và Phạm Thị Thu T3 sống chung như vợ chồng tại phòng số 4, nhà T ở ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre. Do nghiện ma túy, T và T3 bàn bạc với nhau mua mua túy về cho T sử dụng và bán lại cho người khác kiếm lời. Ngày 02/12/2023, T đến huyện B, tỉnh Bến Tre mua 01 gói ma túy (loại ma túy đá) của người phụ nữ tên “Út Mười” (không rõ họ tên, địa chỉ) với giá 750.000 đồng, rồi đem ma túy về phòng trọ chia thành nhiều tép nhỏ để sử dụng và cùng với T3 bán lại cho người khác kiếm lời tổng cộng 04 lần, cụ thể như sau:
- Lần 1: khoảng 19 giờ ngày 03/12/2023, Văn Ngọc P (tên gọi khác là D), gọi điện thoại cho T hỏi mua 01 gói ma túy giá 300.000 đồng, T đồng ý bán ma túy cho P. Sau đó, T điều khiển xe mô tô biển số 59E2-138.86 đến nhà của P để giao ma túy cho P, P trả cho T 300.000 đồng. Sau khi bán ma túy cho P, T về phòng trọ và thông báo lại cho T3 biết T vừa bán ma túy cho P.
- Lần 2: khoảng 12 giờ ngày 04/12/2023, Văn Ngọc P gọi điện thoại cho T hỏi mua 01 gói ma túy giá 300.000 đồng, T đồng ý bán ma túy cho P. Sau đó, T đưa cho T3 giữ 01 gói ma túy rồi T điều khiển xe mô tô biển số 59E2-138.86 chở T3 đến nhà của P để giao gói ma túy cho P, P trả cho T và T3 300.000 đồng.
- Lần 3: khoảng 15 giờ ngày 04/12/2023, Văn Ngọc P gọi điện thoại cho T hỏi mua 01 gói ma túy giá 200.000 đồng, T đồng ý bán ma túy cho P. Sau đó, T đưa cho T3 01 gói ma túy và nhờ T3 đi giao ma túy cho P. T3 lấy gói ma túy của T đưa rồi điều khiển xe mô tô biển số 59E2-138.86 đến nhà của P để giao gói ma túy cho P, P trả cho T3 200.000 đồng.
- Lần 4: khoảng 17 giờ ngày 04/12/2023, Phan Thành T4 gọi điện thoại cho T hỏi mua 01 gói ma túy giá 300.000 đồng, T đồng ý bán ma túy cho T4. Sau đó, T đưa cho T3 01 gói ma túy và nhờ T3 đi giao ma túy cho T4. T3 điều khiển xe mô tô biển số 59E2-138.86 đi giao ma túy cho T4, khi đến khu vực thuộc ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G phối hợp Công an xã T bắt quả tang.
Tài sản, vật chứng tạm giữ:
- 01 gói nylon màu trắng kích thước 02cm x 02cm, được hàn ba cạnh, cạnh còn lại có rảnh khép màu đỏ, bên trong có chứa tinh thể màu trắng (được niêm phong trong phong bì ký hiệu NS4A 099967).
- 01 xe mô tô không rõ nhãn hiệu, dáng keo bên ngoài màu đen, biển số 59E2-138.86.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của T và T3 tại phòng số 4 nhà T tại ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre thu giữ: 01 bộ sử dụng ma túy gồm: một chai nhựa màu trắng có nắp đậy màu trắng, trên nắp có 02 lỗ, một lỗ gắn nỏ thủy tinh, lỗ còn lại gắn ống hút nhựa màu trắng sọc tím; 01 bật lửa trên thân có chữ Hoa Việt có gắn đoạn kim loại hình trụ tròn dài 05cm, đường kính 0,2cm; 01 hộp nhựa hình hộp chữ nhật bằng nhựa trong suốt kích thước (10 x 8,2 x 03)cm, có nắp đậy, trên thân có chữ Joly; 01 cân điện tử kích thước (07 x 04 x 01)cm, có nắp đậy bằng nhựa màu đen; 03 gói nylon màu trắng được hàn kín ba cạnh, cạnh còn lại có rảnh khép màu đỏ, kích thước (02x 02)cm, bên trong rỗng; 04 gói nylon màu trắng được hàn kín ba cạnh, cạnh còn lại có rảnh khép màu xanh, kích thước (02x 02)cm, bên trong rỗng; 01 đoạn ống nhựa màu trắng được cắt nhọn một đầu dài 09cm, đường kính 0,5cm; 02 cái kéo bằng kim loại màu trắng, dài 14cm và 10,4cm; 01 gói nylon màu trắng được hàn kín ba cạnh, cạnh còn lại có rảnh khép có sọc màu xanh, kích thước (04 x 3,5)cm, bên trong có chứa tinh thể màu trắng; 01 gói nylon màu trắng, được hàn kín ba cạnh, cạnh còn lại có rảnh khép có sọc màu xanh, kích thước (02 x 02)cm, bên trong có chứa tinh thể màu trắng; tiền Việt Nam 1.170.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A24, loại cảm ứng, vỏ màu đen, có gắn sim số 0706.924.594 chủ sở hữu là ông Bùi Quốc B; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J4+, loại cảm ứng, vỏ màu đen và 01 vật bằng kim loại màu vàng có hình con tỳ hưu được đựng trong hộp nhựa màu đỏ của T3; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A 11, loại cảm ứng, vỏ điện thoại màu đen, có gắn thẻ số 0363647893 và 0904808215 của T; 01 giấy tập học sinh ghi nội dung mượn tiền ngày 16/02/2024, người nhận Hồ Văn T5.
Ngoài ra, còn tạm giữ của Phan Thành T4: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, loại bàn phím, vỏ màu đen, có gắn sim số 0908.066.252.
Tại Bản kết luận giám định số 924A/KL-KTHS ngày 07/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: tinh thể màu trắng đựng trong 01(một) gói nylon được niêm phong trong túi niêm phong mã số NS4A 099967 gửi giám định là ma túy; loại: Methamphetamine; khối lượng 0,1644 gam.
Tại Bản kết luận giám định số 924B/KL-KTHS ngày 13/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: tinh thể màu trắng đựng trong 02 (hai) gói nylon được niêm phong trong túi niêm phong mã số NS3 2159337 gửi giám định là ma túy; loại: Methamphetamine; khối lượng 0,9958 gam.
Quá trình điều tra, Đỗ Văn T và Phạm Thị Thu T3 khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản xác định hiện trường, vật chứng thu giữ, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập.
Bản Cáo trạng số 40/CT-VKSGT, ngày 09/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre truy tố các bị cáo Đỗ Văn T và Phạm Thị Thu T3 về “Tội mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự .
Tại phiên tòa:
Các bị cáo Đỗ Văn T và Phạm Thị Thu T3 đã khai nhận hành vi phạm tội của các bị cáo phù hợp với nội dung cáo trạng truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Đỗ Văn T và Phạm Thị Thu T3 phạm“Tội mua bán trái phép chất ma túy”.
Về trách nhiệm hình sự:
- Đối với bị cáo Đỗ Văn T: áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị phạt bị cáo Đỗ Văn T có mức án từ 08 (tám) năm đến 09 (chín) năm tù.
- Đối với bị cáo Phạm Thị Thu T3: áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị phạt bị cáo Phạm Thị Thu T3 có mức án từ 07 (bảy) năm đến 08 (tám) năm tù.
Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:
- Ghi nhận trong quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã xử lý vật chứng như sau: đối với 01 bộ sử dụng ma túy, đã chuyển tiêu hủy theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 29/QĐ/XPHC ngày 23/4/2024 của Công an huyện G; trả lại cho bị cáo Phạm Thị Thu T3 số tiền 370.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J4+ loại cảm ứng, vỏ màu đen, 01 vật bằng kim loại màu vàng có hình con tỳ hưu được đựng trong hộp nhựa màu đỏ; trả lại cho ông Bùi Quốc B 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A24, loại cảm ứng, vỏ màu đen, có gắn sim số 0706.924.594; trả lại cho ông Đỗ Hoàng V 01 giấy tập học sinh ghi nội dung mượn tiền ngày 16/02/2024, người nhận Hồ Văn T5. Các tài sản nêu trên không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên trả lại cho các chủ sở hữu.
- Đối với 01 một phong bì số 924/2023 được niêm phong có chữ ký ghi tên Bùi Quốc C1, Phạm Thị Thanh T6, Đỗ Văn T, Phan Trung T7 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỷ thuật hình sự công an tỉnh B, bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 1.0368 gam Methamphe tamine là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, nên tịch thu và tiêu huỷ.
- Đối với: 01 hộp nhựa hình hộp chữ nhật bằng nhựa trong suốt kích thước (10 x 8,2 x 03)cm, có nắp đậy, trên thân có chữ Joly; 01 cân điện tử kích thước (07 x 04 x 01)cm, có nắp đậy bằng nhựa màu đen; 03 gói nylon màu trắng được hàn kín ba cạnh, cạnh còn lại có rảnh khép màu đỏ, kích thước (02x 02)cm, bên trong rỗng; 04 gói nylon màu trắng được hàn kín ba cạnh, cạnh còn lại có rảnh khép màu xanh, kích thước (02x 02)cm, bên trong rỗng; 01 đoạn ống nhựa màu trắng được cắt nhọn một đầu dài 09cm, đường kính 0,5cm; 02 cái kéo bằng kim loại màu trắng, dài 14cm và 10,4cm; sim số 0363647893 và 0904808215 của bị cáo T và sim số 0908.066.252 của T4. Các vật chứng nêu trên có liên quan đến dấu vết tội phạm hiện không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu và tiêu hủy.
- Đối với: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A 11, loại cảm ứng, vỏ điện thoại màu đen của bị cáo T và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, loại bàn phím, vỏ màu đen của T4. Bị cáo T và T4 sử dụng điện thoại vào việc phạm tội, nên tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Đối với tiền Việt Nam là 800.000 đồng đã tạm giữ là tiền thu lợi bất chính của bị cáo T và T6 có được từ việc bán ma tuý trái phép, nên tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 xe mô tô không rõ nhãn hiệu, dáng keo bên ngoài màu đen, biển số 59E2-138.86, đang tạm giữ chưa rõ nguồn gốc, đề nghị chuyển giao lại cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G để tiếp tục xác minh làm rõ nguồn gốc và xử lý theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng của các bị cáo là đã hối hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, những người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan liên quan đều vắng mặt, tuy nhiên trong quá trình điều tra những người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan liên quan đã có lời khai rõ ràng nên xét thấy sự vắng mặt của những người này không trở ngại cho việc xét xử, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng nêu trên theo quy định tại Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: tại phiên tòa, các bị cáo Đỗ Văn T và Phạm Thị Thu T3 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng với các tình tiết của vụ án, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với biên bản sự việc, khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập trong quá trình điều tra, do vậy có cơ sở khẳng định:
Do T nghiện ma túy, T trao đổi với T3 cùng nhau mua ma túy về để T sử dụng và bán lại kiếm lời và T3 đã đồng ý. Ngày 02/12/2023, T đến huyện B, tỉnh Bến Tre mua 01 gói ma túy (loại ma túy đá) của người phụ nữ tên “Út Mười” (không rõ họ tên, địa chỉ) với giá 750.000 đồng, rồi đem ma túy về phòng trọ chia thành nhiều tép nhỏ để T sử dụng và cùng với T3 bán lại cho người khác kiếm lời. Trong hai ngày 03/12/2023 và ngày 04/12/2023, trên địa bàn xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre, T và T3 đã bán trái phép chất ma túy 04 lần/04 gói ma túy, trong đó bán cho P 03 lần thu lợi bất chính 800.000 đồng. Trong lúc, T3 đang trên đường bán ma túy cho Phan Thành T4 thì bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G phát hiện bắt quả tang và thu giữ của T và T3 1.1602 gam ma túy loại ma túy, loại Methamphetamine mà T và T3 tàng trữ để sử dụng và bán lại cho người khác.
Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo Đỗ Văn T và Phạm Thị Thu T3 đã đủ yếu tố cấu thành “Tội mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo có tính chất và mức độ nguy hiểm lớn cho xã hội, các bị cáo T và T3 nhận thức được hành vi mua bán và tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích mua bán cho người nghiện ma túy khác để thu lợi bất chính là vi phạm pháp luật, nhưng các bị cáo đã bất chấp pháp luật để thực hiện. Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác bởi ma túy là hiểm họa lớn cho toàn xã hội, gây tác hại cho sức khỏe, làm suy giảm nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình. Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.
Xét về vai trò đồng phạm của các bị cáo trong vụ án là đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công vai trò, nhiệm vụ cụ thể của từng người trước khi thực hiện hành vi phạm tội. Trong vụ án này, bị cáo T có vai trò chính đã chủ động liên hệ mua ma túy về để sử dụng và cùng T3 bán lại cho người khác kiếm lời. Trong 04 lần bán ma tuý cho P và T4 bị cáo T là người trực tiếp liên hệ, T và T3 đã bán trái phép chất ma túy 04 lần/04 gói ma túy, trong đó bán cho P 03 lần thu lợi bất chính 800.000 đồng.
Trong 04 lần bán ma tuý bị cáo T trực tiếp giao ma tuý 01 lần thu lợi bất chính là 300.000 đồng và 01 lần T và T3 cùng giao ma tuý thu lợi bất chính 300.000 đồng; bị cáo T3 trực tiếp giao 02 lần, trong đó: giao 01 lần thu lợi bất chính là 200.000 đồng và lần thứ hai trên đường giao ma tuý thì bị bắt quả tang. Do vậy các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với tính chất mức độ hành vi của từng bị cáo, trong đó bị cáo T phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn so với bị cáo T3.
[5] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
- Về nhân thân: Bị cáo T không có tiền án, tiền sự, nhưng bị cáo bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, nên xác định bị cáo có nhân thân xấu. Bị cáo T3 không có tiền án, tiền sự nên xác định bị cáo có nhân thân tốt.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: ngoài tình tiết định tội và định khung hình phạt các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, nên các bị cáo đều được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, đối với các bị cáo tự nguyện đồng ý nộp tiền thu lợi bất chính từ việc bán trái phép chất ma túy từ số tiền đã tạm giữ, nên được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, đối với bị cáo T trong gia đình có người thân có công với cách mạng nên được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi của các bị cáo gây ra là rất nguy hiểm cho xã hội, xét thấy việc cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống cộng đồng một thời gian nhất định là điều cần thiết, nhằm để cải tạo, giáo dục các bị cáo sau này trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, có ý thức chấp hành pháp luật, đồng thời để răn đe phòng ngừa tội phạm.
[7] Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp:
- Trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng như sau: đối với 01 bộ sử dụng ma túy, đã chuyển tiêu hủy theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 29/QĐ/XPHC ngày 23/4/2024 của Công an huyện G.Trả lại cho bị cáo Phạm Thị Thu T3 số tiền 370.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J4+, loại cảm ứng, vỏ màu đen và 01 vật bằng kim loại màu vàng có hình con tỳ hưu được đựng trong hộp nhựa màu đỏ; trả lại cho ông Bùi Quốc B 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A24, loại cảm ứng, vỏ màu đen, có gắn sim số 0706.924.594; trả lại cho ông Đỗ Hoàng V: 01 giấy tập học sinh ghi nội dung mượn tiền ngày 16/02/2024, người nhận Hồ Văn T5. Các vật chứng nêu trên không liên quan đến việc phạm tội của các bị cáo, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G trả lại cho các chủ sở hữu nêu trên là phù hợp với quy định của pháp luật.
- Đối với: 01 một phong bì số 924/2023 được niêm phong có chữ ký ghi tên Bùi Quốc C1, Phạm Thị Thanh T6, Đỗ Văn T, Phan Trung T7 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỷ thuật hình sự công an tỉnh B, bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 1.0368 gam Methamphe tamine là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành cần xét tịch thu và tiêu hủy.
- Đối với: 01 hộp nhựa hình hộp chữ nhật bằng nhựa trong suốt kích thước (10 x 8,2 x 03)cm, có nắp đậy, trên thân có chữ Joly; 01 cân điện tử kích thước (07 x 04 x 01)cm, có nắp đậy bằng nhựa màu đen; 03 gói nylon màu trắng được hàn kín ba cạnh, cạnh còn lại có rảnh khép màu đỏ, kích thước (02x 02)cm, bên trong rỗng; 04 gói nylon màu trắng được hàn kín ba cạnh, cạnh còn lại có rảnh khép màu xanh, kích thước (02x 02)cm, bên trong rỗng; 01 đoạn ống nhựa màu trắng được cắt nhọn một đầu dài 09cm, đường kính 0,5cm; 02 cái kéo bằng kim loại màu trắng, dài 14cm và 10,4cm; sim số 0363647893 và 0904808215 của bị cáo T và sim số 0908.066.252 của T4. Các vật chứng nêu trên có liên quan đến dấu vết tội phạm hiện tại không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu và tiêu hủy.
- Đối với tiền Việt Nam: 800.000 (tám trăm nghìn) đồng của bị cáo T và T6 có được từ việc mua bán trái phép chất ma túy, xét cần tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Đối với: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A 11, loại cảm ứng, vỏ điện thoại màu đen của bị cáo T và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, loại bàn phím, vỏ màu đen của T4. Bị cáo T và T4 sử dụng điện thoại vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- 01 xe mô tô không rõ nhãn hiệu, dáng keo bên ngoài màu đen, biển số 59E2-138.86, chưa rõ nguồn gốc đang tạm giữ, chuyển lại cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G tiếp tục xác minh làm rõ nguồn gốc và xử lý theo quy định của pháp luật.
[8] Đối với việc bị cáo T khai có mua ma túy của người có tên “Út Mười” vào ngày 02/12/2023 tại huyện B nhưng không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể của người này. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G chuyển thông tin đến bộ phận nghiệp vụ tiếp tục xác minh làm rõ.
[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với các bị cáo, về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp là có căn cứ đúng với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[10] Về án phí: các bị cáo T và T6 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Đỗ Văn T và Phạm Thị Thu T3 phạm“Tội mua bán trái phép chất ma túy” .
1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Phạt bị cáo Đỗ Văn T 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/12/2023.
2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Phạt bị cáo Phạm Thị Thu T3 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/12/2023.
3. Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu và tiêu hủy:
- - 01 một phong bì số 924/2023 được niêm phong có chữ ký ghi tên Bùi Quốc C1, Phạm Thị Thanh T6, Đỗ Văn T, Phan Trung T7 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỷ thuật hình sự công an tỉnh B, bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 1.0368 gam Methamphetamine;
- - 01 hộp nhựa hình hộp chữ nhật bằng nhựa trong suốt kích thước (10 x 8,2 x 03) cm, có nắp đậy, trên thân có chữ Joly;
- - 01 cân điện tử kích thước (07 x 04 x 01) cm, có nắp đậy bằng nhựa màu đen;
- - 03 gói nylon màu trắng được hàn kín ba cạnh, cạnh còn lại có rảnh khép màu đỏ, kích thước (02x 02)cm, bên trong rỗng;
- - 04 gói nylon màu trắng được hàn kín ba cạnh, cạnh còn lại có rảnh khép màu xanh, kích thước (02x 02)cm, bên trong rỗng;
- - 01 đoạn ống nhựa màu trắng được cắt nhọn một đầu dài 09cm, đường kính 0,5cm;
- - 02 cái kéo bằng kim loại màu trắng, dài 14cm và 10,4cm.
- - Sim số 0363647893 và 0904808215 của bị cáo Đỗ Văn T; sim số 0908.066.252 của Phan Thành T4.
Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước:
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A11, loại cảm ứng, vỏ điện thoại màu đen của bị cáo Đỗ Văn T.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, loại bàn phím, vỏ màu đen, của Phan Thành T4.
Giao 01 xe mô tô không rõ nhãn hiệu, dáng keo bên ngoài màu đen, biển số 59E2-138.86, cho cơ quan cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G tiếp tục xác minh làm rõ nguồn gốc và xử lý theo quy định của pháp luật.
(Các vật chứng nêu trên được giao nhận theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 29/8/2024 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện G với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm).
Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước: tiền Việt Nam là 800.000 (tám trăm nghìn) đồng của các bị cáo T và T6. (Công an huyện G đã nộp vào ngày 23/02/2024, số tiền 500.000 đồng và ngày 21/6/2024 số tiền 300.000 đồng vào Kho bạc Nhà nước huyện G, tỉnh Bến Tre theo tài khoản của Công an huyện G tại Ngân hàng N1 Chi nhánh huyện G, tỉnh Bến Tre).
4. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc:
Các bị cáo Đỗ Văn T và Phạm Thị Thu T3 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo đối với bản án: các bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo tring tời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Thanh Huệ |
Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE về tội mua bán trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 42/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội mua bán trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tội mua bán trái phép chất ma túy
