|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH TỈNH BÌNH THUẬN. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 42/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 23-8-2024
V/v “Tranh chấp không công nhận
vợ chồng và giải quyết con chung”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH-TỈNH BÌNH THUẬN
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Hạnh
- Ông Bá Đình Tâm
-Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Chiêm Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Như Thủy-Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 54/2024/TLST-HNGĐ, ngày 27 tháng 02 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:41/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 22 tháng 7năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2024/QÐST-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Tuyết P, sinh năm 1981(vắng mặt).
Địa chỉ: thôn T, xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận.
Bị đơn: Anh Đặng Chánh Đ, sinh năm 1980(vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết P trình bày:
-Về hôn nhân: bà Nguyễn Thị Tuyết P và ông Đặng Chánh Đ tự nguyện yêu nhau chung sống như vợ chồng từ năm 2000 nhưng không đăng ký kết hôn. Sau khi chung sống ông Đ có tính vũ phu với vợ, thường xuyên đánh vợ vô cớ nên mâu thuẫn vợ chồng phát sinh hơn 10 năm nay, bà P có nhiều lần chia tay nhưng vì con còn nhỏ bà tiếp tục chung sống đến tháng 8 năm 2022 ông Đ vẫn tiếp tục đánh bà nên bà không chịu tiếp tục chung sống cùng ông mà bỏ về nhà cha mẹ ở đến nay, không còn chung sống với nhau. Bà P cho rằng ông Đ không có khả năng thay đổi tính tình nên yêu cầu Tòa án giải quyết hôn nhân giữa bà và ông Đặng Chánh Đ.
-Về con chung: bà Nguyễn Thị Tuyết P và ông Đặng Chánh Đ có 03 người con chung là: Đặng Thị Minh T, sinh năm 2002, Đặng Chánh Ý, sinh năm 2004 và Đặng Chánh T1, sinh ngày 28/11/2011. Con T và Ý đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Con là Đặng Chánh T1, sinh ngày 28/11/2011 hiện nay bà nuôi, bà yêu cầu tiếp tục nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là Đặng Chánh T1.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
*Bị đơn ông Đặng Chánh Đ vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án nên vụ án không hòa giải được và đưa ra xét xử.
Tại phiên tòa: Các đương sự nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không có ý kiến bổ sung thay đổi yêu cầu khởi kiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình phát biểu ý kiến đối với vụ án:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do, Kiểm sát viên đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 238 BLTTDS năm 2015; Điều 14, Điều 15, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật HNGĐ năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban T3 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
- Về hôn nhân: Đề nghị không công nhận bà Nguyễn Thị Tuyết P với ông Đặng Chánh Đ là vợ chồng.
- Về con chung: Giao con chung tên Đặng Chánh T1, sinh ngày 28/11/2011 cho bà Nguyễn Thị Tuyết P tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Con chung là Đặng Thị Minh T, sinh năm 2002, Đặng Chánh Ý, sinh năm 2004 đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà P không yêu cầu nên không xem xét.
Tài sản chung và nợ chung: bà P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
Án phí: đương sự phải chịu nộp theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Tòa án nhận định:
[1]Về thủ tục tố tụng: Căn cứ vào tài liệu yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết về hôn nhân và giải quyết con chung giữa bà Nguyễn Thị Tuyết P với ông Đặng Chánh Đ sống chung như vợ chồng không đăng ký kết hôn, ông Đ có hộ khẩu tại xã P, huyện B thuộc trường hợp tranh chấp “nuôi con, nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn” nên Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình thụ lý là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 7 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết, ông Đặng Chánh Đ vắng mặt không tham gia hòa giải nên vụ án không tiến hành hoà giải được. Vì vậy, vụ án đưa ra xét xử.
Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo là phù hợp Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1]Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị Tuyết P và ông Đặng Chánh Đ chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2000 đến tháng 8 năm 2023 tại thôn T, xã P, đã có 3 người con chung, đủ điều kiện đăng ký kết hôn nhưng không thực hiện đăng ký kết hôn. Từ tháng 8 năm 2022 đến nay bà P không còn tự nguyện chung sống với ông Đ vì đã xảy ra mâu thuẫn, bà P yêu cầu Tòa án giải quyết việc chung sống như vợ chồng giữa ông bà. Hội đồng xét xử xét thấy, tại khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC –BTP ngày 06/01/2016 hướng dẫn “ trường hợp N, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn ( không phân biệt có vi phạm điều kiện kết hôn hay không, mà có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật hoặc có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý, giải quyết và áp dụng Điều 9 và Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa họ”. Ngoài ra, tại khoản 1Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “ Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ vợ chồng……” nên Hội đồng xét xử xét thấy quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Tuyết P chung sống với ông Đặng Chánh Đ công khai trong thời gian từ năm 2000, có con chung nhưng không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ vợ chồng nên bà P yêu cầu giải quyết ly hôn, Hội đồng xét xử không công nhận bà P và ông Đ là vợ chồng được quy định tại Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2.2]Về con chung: bà Nguyễn Thị Tuyết P xác định có 3 người con chung là Đặng Thị Minh T, sinh năm 2002, Đặng Chánh Ý, sinh năm 2004 đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết. Đặng Chánh T1,sinh ngày 28/11/2011, hiện nay bà P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử thấy căn cứ Điều 15 Luật hôn nhân và gia đình quy định quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con trong trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì con được giải quyết theo quy định của luật hôn nhân và gia đình về quyền và nghĩa vụ cha mẹ và con như ly hôn. Như vây, nguyện vọng và yêu cầu của bà Nguyễn Thị Tuyết P phù hợp nguyện vọng của con là Đặng Chánh T1 và để đảm bảo về sự ổn định học tập, sinh sống của các con nên cần tiếp tục giao con là Đặng Chánh T1 cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi trưởng thành là phù hợp quy định tại Điều 81 và Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình.
[2.3]Về cấp dưỡng nuôi con chung: nghĩa vụ và quyền của cha mẹ khi ly hôn thì người không trực tiếp nuôi con chung phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nhưng bà P không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con chung là Đặng Chánh T1 nên Hội đồng xét xử không xét được quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình và Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2.4]Về tài sản và nợ chung: bà Nguyễn Thị Tuyết P không yêu cầu Tòa án giải quyết về nợ chung,tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xét được quy định tại Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[3]Về án phí: bà Nguyễn Thị Tuyết P phải chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu,miễn giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Khoản 7 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 238; Điều 5 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14; Điều 15; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 238; Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu,miễn giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Tuyết P.
- Về hôn nhân: bà Nguyễn Thị Tuyết P và ông Đặng Chánh Đ không phải là vợ chồng.
- Về con chung: Giao con chung tên Đặng Chánh T1, sinh ngày 28/11/2011 cho bà Nguyễn Thị Tuyết P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi trưởng thành. Ông Đặng Chánh Đ được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Con chung Đặng Thị Minh T, sinh năm 2002 và Đặng Chánh Ý, sinh năm 2004 đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Bà P không yêu cầu nên không xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: bà Nguyễn Thị Tuyết P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Tuyết P phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí bà P đã nộp theo biên lai thu số 0008629 ngày 27/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bắc Bình, bà P đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thanh Thảo |
Bản án số 42/2024/HNGĐ-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH-TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp không công nhận vợ chồng và giải quyết con chung
- Số bản án: 42/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp không công nhận vợ chồng và giải quyết con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH-TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: không công nhận bà nguyễn Thị Tuyết P với ông Đặng Chánh Đ là vợ chồng.
