Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TÂN CHÂU

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 42/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 07/5/2024

“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hữu Dẫm

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lưu Văn Hoàng;
  2. Ông Lê Trường Vũ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lâm Phước Tín

– là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu tham gia phiên tòa:

Ông Trần Huy Cường– Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 525/2023/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 56/2024/QÐST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị V, sinh năm 1978; nơi cư trú: Số A, Tổ A, ấp V, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang (có mặt).
  2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1986; nơi cư trú: Tổ A, ấp V, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Trần Thị V trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị V và anh P tự tìm hiểu và yêu thương nhau được hai bên gia đình đồng ý, có tổ chức lễ cưới năm 2007, không có đăng ký kết hôn. Sau khi cưới vợ chồng sống tại xã V đến năm 2014 thì sinh sống tại Bình Dương. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, anh P không chăm lo làm ăn để phụ giúp gia đình, thường xuyên cờ bạc và có mối quan hệ với người phụ nữ khác dẫn đến cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, thường xuyên cự cãi, nhiều lần chị V khuyên nhủ nhưng anh P không thay đổi, anh P và chị V không còn chung sống với nhau từ năm 2018 đến nay. Nay nhận thấy tình cảm không còn nên chị V yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn P.

- Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, có 01 (một) con chung tên Nguyễn Hoàng K, sinh ngày 05/02/2008, hiện cháu K đang sống với chị V, khi ly hôn chị V yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu K và không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Trần Thị V trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã tiến hành tống đạt Thông báo thụ lý vụ án số 894/TB-TLVA ngày 08/12/2023; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 139/TB-TA ngày 28/02/2024 và các văn bản tố tụng khác cho anh Nguyễn Văn P nhưng anh P vắng mặt tham gia tố tụng tại Tòa án và không cung cấp văn bản ý kiến phản hồi cho Tòa án và tài liệu, chứng cứ kèm theo (nếu có).

Ngày 27/02/2024, Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu xác minh tình trạng cư trú của bị đơn anh Nguyễn Văn P được biết: Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1986 có nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Tổ A, ấp V, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang và lập biên bản không lấy được lời khai anh Nguyễn Văn P có sự chứng kiến của đại diện Ban Ấp.

Ngày 29/12/2023, Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu tiến hành ghi nhận ý kiến cháu Nguyễn Hoàng K trình bày cháu K có nguyện vọng được sống với mẹ là Trần Thị V khi cha mẹ cháu ly hôn.

Công văn số 41/UBND ngày 05/01/2024 của UBND xã V cung cấp: Không tìm thấy thông tin về việc đăng ký kết hôn đối với chị Trần Thị V và anh Nguyễn Văn P.

Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu:

Phát biểu của Kiểm sát viên về việc tuân thủ pháp luật Tố tụng dân sự: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo đúng quy định tại Điều 48; Điều 203; Điều 239 Bộ luật Tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý cho đến khi giải quyết vụ án. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng từ giai đoạn thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71, 234 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, bị đơn anh Nguyễn Văn P vắng mặt lần thứ hai không có lý do, do đó căn cứ vào khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 14, Điều 53, Điều 81, 82, 83, và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

  • Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Trần Thị V và anh Nguyễn Văn P.
  • Về con chung: Chị V được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hoàng K, sinh ngày 05/02/2008 đến khi con chung trưởng thành và có khả năng lao động. Anh P không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
  • Về tài sản chung và nợ chung: Chị Trần Thị V trình bày không có, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  • Về án phí: Chị Trần Thị V phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Chị Trần Thị V khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn P có địa chỉ cư trú tại: Tổ A, ấp V, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn anh Nguyễn Văn P đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị V và anh Nguyễn Văn P sống chung vào năm 2007, không có đăng ký kết hôn theo kết quả xác nhận tình trạng hôn nhân của UBND xã V (Công văn số 41/UBND ngày 05/01/2024) cung cấp: Không tìm thấy thông tin về việc đăng ký kết hôn đối với chị Trần Thị V và anh Nguyễn Văn P.

Chị V và anh P chung sống với nhau có đủ điều kiện kết hôn nhưng không đăng ký kết hôn đã vi phạm Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Xét, không công nhận chị Trần Thị V và anh Nguyễn Văn P là vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2] Về con chung: Trong thời gian chung sống, chị V và anh P có 01 (một) con chung tên Nguyễn Hoàng K, sinh ngày 05/02/2008, hiện cháu K đang sống với chị V, khi ly hôn chị V yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu K và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Cháu Nguyễn Hoàng K có nguyện vọng được sống với mẹ là Trần Thị V khi cha mẹ cháu ly hôn.

Để đảm bảo môi trường sống của cháu K không bị xáo trộn và quyền lợi mọi mặt của của con, chị V yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy con chung Nguyễn Hoàng K, sinh ngày 05/02/2008, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xét chấp nhận.

[3] Về tài sản và nợ chung: Chị Trần Thị V trình bày không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Nếu sau này giữa chị V và anh P có phát sinh tranh chấp về tài sản chung thì giải quyết bằng vụ kiện khác.

[4] Về án phí: Chị Trần Thị V phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

[5] Xét quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa về giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53, Điều 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị V.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Trần Thị V và anh Nguyễn Văn P là vợ chồng.
  2. Về nuôi con chung: Chị Trần Thị V được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hoàng K, sinh ngày 05/02/2008 đến khi con chung trưởng thành và có khả năng lao động. Anh Nguyễn Văn P không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

    Chị Trần Thị V cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh Nguyễn Văn P trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

    Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định

  3. Về án phí: Chị Trần Thị V phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm được khấu trừ từ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007670 ngày 30/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang. Chị V đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Anh P không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật thị hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND TX Tân Châu;
  • - Chi cục THADS TX Tân Châu;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu: hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Hữu Dẫm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/HNGĐ-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 42/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Trần Thị V ly hôn Anh Nguyễn Văn P
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger