TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 42/2024/HS-ST | |
Ngày 20-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Kim Oanh
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Bé
- Ông Võ Hùng Em
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Nhàn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Lê Kim Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp (điểm cầu trung tâm) và N tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Đồng Tháp (điểm cầu thành phần) xét xử phiên tòa trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 34/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 và Thông báo về thay đổi thời gian xét xử số: 08/TB-TA ngày 13 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:
Trần Hoài N1, sinh năm 1991 tại tỉnh Đồng Tháp; tên gọi khác: Không; nơi thường trú: Tổ A, khu phố B, thị trấn M, huyện T, tỉnh Tiền Giang; nơi ở hiện tại: khóm B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ngọc T, sinh năm 1958 (chết) và bà Nguyễn Thị Thu T1, sinh năm 1966; có vợ (đã ly hôn) và có 02 người con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 17/04/2018 bị Toà án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 18 tháng, chấp hành xong ngày 17/6/2019 và Ngày 16/12/2019 bị Toà án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 24 tháng, chấp hành xong ngày 12/7/2021; tạm giữ: Ngày 10/5/2024; tạm giam: Ngày 13/5/2024. Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T và có mặt tại phiên toà.
Người làm chứng: Nguyễn Thị Thu T1, sinh năm 1966 (vắng mặt)
Địa chỉ: khóm B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 09 giờ 30 phút, ngày 10/5/2024 Công an thị trấn T, huyện T bắt quả tang Trần Hoài N1 tàng trữ trái phép chất ma túy trong phòng ngủ của N1 tại nhà mẹ ruột tên Nguyễn Thị Thu T1, thuộc khóm B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Tại Cơ quan điều tra N1 thừa nhận số ma tuý và dụng cụ dùng để sử dụng trên bị Công an bắt quả tang là của N1 mua vào khoảng 22 giờ, ngày 03/5/2024 tại quận B, thành phố Hồ Chí Minh của một người nam thanh niên không biết tên với giá 400.000 đồng, sau đó đem về nhà mẹ ruột thuộc khóm B, thị trấn T, huyện T mục đích để sử dụng cá nhân, nhưng chưa sử dụng thì bị bắt. Đồng thời, test nhanh chất ma túy trong cơ thể của Trần Hoài N1, kết quả dương tính với chất ma túy.
Tang vật thu giữ: 01 đoạn ống nhựa, màu xanh trắng, được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa nhiều tinh thể rắn, màu trắng, nghi là ma túy; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm: 01 hộp nhựa màu trắng trong, một nắp nhựa tròn màu đỏ, trên nắp nhựa có khoét hai lỗ tròn, một lỗ có gắn ống nhựa màu vàng, một lỗ gắn ống thủy tinh màu trắng); 01 bật lửa màu trắng, đã qua sử dụng.
Kết luận giám định số: 589/KT-KTHS ngày 12/5/2024 của Phòng K - Công an tỉnh Đ, kết luận: Tinh thể rắn chứa trong 01 đoạn ống nhựa màu trắng xanh hàn kín, được niêm phong trong phong bì nêu trên, gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,374 gam loại Methamphetamine (số thứ tự 247, mục IIC thuộc Danh mục II, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ). Hoàn trả đối tượng gửi giám định: Mẫu tinh thể rắn trong phong bì còn lại sau giám định có khối lượng 0,238 gam. Mẫu vật đã được niêm phong trả cho Cơ quan trưng cầu (không còn đoạn ống nhựa, màu xanh trắng do cắt ra để lấy mẫu giám định).
Tại Cáo trạng số: 41/CT-VKSTN ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông đã truy tố bị cáo Trần Hoài N1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo N1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Trần Hoài N1, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” mức hình phạt từ 01 năm đến 02 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm: 01 hộp nhựa màu trắng trong, một nắp nhựa tròn màu đỏ, trên nắp nhựa có khoét hai lỗ tròn, một lỗ có gắn ống nhựa màu vàng, một lỗ gắn ống thủy tinh màu trắng; 01 bật lửa màu trắng, đã qua sử dụng; ma tuý còn lại sau giám định có khối lượng 0,238 gam.
Đối với 01 đoạn ống nhựa, màu xanh trắng, được hàn kín hai đầu. Do cắt ra để lấy mẫu giám định, không còn đoạn ống nhựa, màu xanh trắng nên không xem xét.
Các vấn đề khác giữ nguyên đề nghị theo cáo trạng.
Bị cáo Trần Hoài N1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như nội dung cáo trạng đã truy tố và luận tội của Kiểm sát viên, không tham gia tranh luận với Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng, bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về đoàn tụ gia đình lo cho con, cống hiến cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Toà án đã triệu tập hợp lệ bà T1 đến phiên toà nhưng vắng mặt không có lý do. Đối với người làm chứng đã có lời khai được lưu trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt bà T1 là phù hợp theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Sơ đồ hiện trường và Bản ảnh cùng ngày 10/5/2024 của Công an huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Kết luận giám định số: 589/KL-KTHS ngày 12/5/2024 của Phòng K - Công an tỉnh Đ; Lời khai người làm chứng, cùng toàn bộ chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Vào ngày 03/5/2024 bị cáo N1 đến quận B, thành phố Hồ Chí Minh mua ma túy của một nam thanh niên không biết rõ họ và tên, địa chỉ với giá 400.000 đồng đem về nhà mẹ ruột tên Nguyễn Thị Thu T1 thuộc khóm B, thị trấn T, huyện T cất giấu, mục đích để sử dụng cá nhân. Đến 09 giờ 30 phút ngày 10/5/2024 N1 bị bắt quả tang khi đang tàng trữ trái phép chất ma tuý có khối lượng 0,374gam loại Methamphetamine. Do đó, Cáo trạng số 41/CT-VKSTN ngày 26/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông truy tố N1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
Hành vi của bị cáo là xem thường pháp luật, trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng đến tình hình trật tự, trị an ở địa phương. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ tác hại của ma tuý sẽ gây hậu quả rất lớn cho bản thân, gia đình, xã hội nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo bị Toà án nhân dân huyện Tân Phước đưa bị cáo vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hai lần nhưng không từ bỏ mà tiếp tục tái nghiện ma tuý. Qua đó, thấy được ý thức xem thường pháp luật của bị cáo nên cần thiết phải áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là cháu ngoại của Liệt sĩ Dương Văn B. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng của vụ án:
Đối với 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm: 01 hộp nhựa màu trắng trong, một nắp nhựa tròn màu đỏ, trên nắp nhựa có khoét hai lỗ tròn, một lỗ có gắn ống nhựa màu vàng, một lỗ gắn ống thủy tinh màu trắng); 01 bật lửa màu màu trắng, đã qua sử dụng; ma tuý còn lại sau giám định có khối lượng 0,238 gam. Xét thấy, các vật chứng trên là chất ma túy, bị cấm tàng trữ và có liên quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với 01 đoạn ống nhựa, màu xanh trắng, được hàn kín hai đầu. Quá trình điều tra, do cắt ra để lấy mẫu giám định, không còn đoạn ống nhựa, màu xanh trắng nên không xem xét.
Đối với bà Nguyễn Thị Thu T1 (mẹ ruột bị cáo N1) trình bày không biết việc bị cáo N1 tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng. Tại phiên tòa, bị cáo khẳng định bà T1 không biết việc bị cáo mang ma túy vào nhà cất giữ nên không có căn cứ xem xét xử lý trách nhiệm bà T1.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông tại phiên tòa phù hợp với nhận định nêu trên nên chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Trần Hoài N1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trần Hoài N1 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 10 tháng 5 năm 2024.
Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: Ma tuý còn lại sau giám định có khối lượng 0,238 gam (Theo Kết luận giám định số: 589/KT-KTHS ngày 12/5/2024 của Phòng K - Công an tỉnh Đ); 01 (một) bộ D sử dụng ma túy (gồm: 01 hộp nhựa màu trắng trong, một nắp nhựa tròn màu đỏ, trên nắp nhựa có khoét 02 lỗ tròn, một lỗ có gắn ống nhựa màu vàng, một lỗ gắn ống thủy tinh màu trắng); 01 (một) bật lửa màu trắng, đã qua sử dụng.
(Tất cả vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp đang quản lý).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Trần Hoài N1 phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA đã ký Huỳnh Kim Oanh |
Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 42/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
