Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2024/HS-ST

Ngày 20 - 5 - 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy;

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Hải
  2. Ông Nguyễn Văn Hợi

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Hiếu - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 40/2024/TLST-HS, ngày 19 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXXST- HS ngày 07 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: NGUYỄN HỮU C (Tên gọi khác: Không), S năm 1984 tại Thái Nguyên; Nơi ĐKNKTT và nơi thường trú tại: Xóm T, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hữu C1 (đã chết) và bà Phạm Thị C2, sinh năm 1954; Gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ sáu; có vợ là Nguyễn Thị T, sinh năm 1985, và có 04 con, lớn sinh năm 2007 (đã chết), con nhỏ sinh năm 2014;

Tiền án: Tại Bản án số 14/2016/HSST ngày 18/3/2016 của Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, xử phạt Nguyễn Hữu C3 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng. Chuyển chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung và án phí.

Tiền sự: Không;

Bị cáo Nguyễn Hữu C3 bị bắt tạm giam từ ngày 25/02/2024 đến ngày 21/3/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại địa phương.

(Có mặt tại phiên tòa)

1

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Hoàng Văn H, sinh năm 1984
  2. Nơi thường trú: Xóm T, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt)

  3. Anh Lê Văn B, sinh năm 1973
  4. Nơi thường trú: Xóm T, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt)

  5. Ông Nguyễn Hữu L, sinh năm 1955
  6. Nơi thường trú: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang. (Vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Người chứng kiến:

Anh Nguyễn Anh H1, sinh năm 1980

Nơi thường trú: Xóm T, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 04/01/2024, Công an xã T, huyện P, Thái Nguyên tỉnh Thái Nguyên nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc tại sân nhà của Nguyễn Hữu C3, sinh năm: 1984, trú tại: xóm T, xã T, huyện P, Thái Nguyên có nhóm đối tượng đang tụ tập đánh bạc trái phép. Công an xã T đã thành lập tổ công tác đến địa điểm trên để kiểm tra tin báo. Khoảng 22 giờ 05 phút cùng ngày, khi đến nơi, tổ công tác của Công an xã T đã phát hiện 04 (bốn) đối tượng đang có hành vi “Đánh bạc” bằng hình thức xóc đĩa, sát phạt nhau bằng tiền, gồm: Nguyễn Hữu C3, Hoàng Văn H, Lê Văn B và Nguyễn Hữu L. Tổ công tác đã lập biên bản sự việc, thu giữ vật chứng và các đồ vật, tài liệu liên quan gồm:

- Thu giữ trên chiếu bạc số tiền 750.000₫ (Bẩy trăm năm mươi nghìn đồng), 01 (một) bát sứ, 01 (một) đĩa sứ, bốn quân vị bằng tre một mặt được bôi đen kích thước 1,5cm x 1cm và 01 chiếu cói kích thước 1,8m x 1,6m.

- Tạm giữ trên người Lê Văn B số tiền 32.830.000đ (Ba mươi hai triệu, tám trăm ba mươi nghìn đồng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen trắng.

- Thu giữ trên người của Nguyễn Hữu L có 250.000₫ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu vàng.

- Thu giữ trên người của Nguyễn Hữu C3 có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung màu đen.

- Thu giữ trên người của Hoàng Văn H có 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).

2

Ngày 05/01/2024 Công an xã T, huyện P đã chuyển hồ sơ vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P để giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Hữu C3, Hoàng Văn H, Lê Văn B và Nguyễn Hữu L khai nhận như sau: Chiều ngày 04/01/2024, gia đình Nguyễn Hữu C3 tổ chức ăn cơm tối để đến đêm làm lễ “bốc mộ” cho bà nội của C3. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, mọi người ăn uống xong và ngồi uống nước tại chiếu cói chải ở sân nhà C3 thì Hoàng Văn H rủ Nguyễn Hữu C3, Nguyễn Hữu L, Lê Văn B đánh bạc ăn tiền bằng hình thức sóc đĩa thì tất cả đồng ý. H xuống bếp nhà C3 lấy một bát sứ, một đĩa sứ và lấy mảnh tre cắt lấy 04 mảnh kích thước khoảng 1,5cm x 1cm, lấy nhọ nồi bôi đen một mặt để làm quân vị. Do C3 không có tiền nên H bảo C3 xóc cái hộ để H, B, L đánh bạc với nhau. Khi các đối tượng đánh bạc đến khoảng 22 giờ 05 phút cùng ngày thì bị tổ công tác của Công an xã T phát hiện lập biên bản sự việc và thu giữ vật chứng như nêu trên.

Lời khai của C3, H, B, L phù hợp nhau và phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Lời khai của người chứng kiến, kết quả kiểm tra điện thoại, vật chứng thu giữ, cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Cách thức chơi đánh bạc bằng hình Xóc đĩa, các đối tượng quy ước như sau: Người chơi sẽ đặt cược số tiền tối thiểu là 50.000 đồng/1 ván. Người chơi sẽ đặt bên chẵn hoặc bên lẻ tùy theo mỗi ván bạc, quy ước với nhau bên tay trái của người xóc cái, là bên lẻ, bên tay phải của người xóc cái là bên chẵn. Mỗi ván bạc sau khi người xóc cái xóc xong và đặt cái xuống chiếu bạc thì người chơi sẽ tiến hành đặt cược bên chẵn hoặc bên lẻ tùy theo. Khi xóc cái thì 01 bát úp lên 01 đĩa và có 04 quân vị gồm 2 mặt bên trong. Sau khi người chơi đặt cược xong sẽ tiến hành mở bát, nếu trong bốn quân có cả 04 (bốn) quân cùng mặt đen, hoặc là cả 04 (bốn) quân cùng mặt màu trắng hoặc có 02 quân mặt trắng, 02 quân mặt đen thì là về chẵn. Còn nếu 03 mặt đen, 01 mặt trắng hoặc 03 mặt trắng, 01 mặt đen thì được xác định là về lẻ. Người đặt cược bên chẵn hoặc bên lẻ mà mở bát ra về bên nào thì được coi là thắng và người thua phải mất tiền cho bên thắng.

Về số tiền dùng để đánh bạc các đối tượng khai nhận như sau: Khi đánh bạc thì H bỏ ra số tiền 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) để đánh bạc (bị thu giữ trên chiếu bạc) còn số tiền 200.000 đồng trên người của H thì H khai nhận nếu đánh bạc thua thì tiếp tục bỏ ra để đánh bạc; L bỏ ra số tiền 250.000đ (hai trăm năm mươi nghìn đồng) để đánh bạc (bị thu giữ trên người); B bỏ ra số tiền 350.000đ (ba trăm năm mươi nghìn đồng) để đánh bạc (bị thu giữ trên chiếu bạc), còn lại số tiền 32.830.000đ (ba mươi hai triệu tám trăm ba mươi nghìn đồng) trên người của B là tiền bán hàng B không dùng để đánh bạc. Các điện thoại tạm giữ của C3, L, B không sử dụng vào việc đánh bạc. Như vậy, xác định được tổng số tiền bị cáo và các đối tượng dùng để đánh bạc là 1.200.000 đồng.

Tuy số tiền các đối tượng dùng để đánh bạc dưới 5.000.000 đồng nhưng Nguyễn Hữu C3 đã bị kết án về tội đánh bạc chưa được xóa án tích nên hành vi của C3 đã cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

3

Vật chứng của vụ án gồm:

- Đối với các vật chứng: Số tiền 32.830.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen của Lê Văn B; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu vàng của Nguyễn Hữu L. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu.

- Đối với các vật chứng còn lại: Số tiền 1.200.000 đồng đang được tạm gửi tại kho bạc nhà nước huyện P, tỉnh Thái Nguyên; 01 (một) chiếu cói kích thước 1,8 m x 1,6 m cũ đã qua sử dụng; 01 (một) bát sứ; 01 (một) đĩa sứ; 04 (bốn) quân vị bằng tre có kích thước 1,5cm x 1cm một mặt được bôi đen được niêm phong vào hộp bìa cattong ký hiệu B; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A30 màu đen, cũ đã qua sử dụng của Nguyễn Hữu C3 được niêm phong vào bì thư ký hiệu A5.

Tại Bản cáo trạng số 43/CT-VKSPB, ngày 17/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu C3 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình trình bầy lời luận tội và đề nghị với Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu C3 phạm tội “Đánh bạc”.

Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu C3 từ 06 đến 09 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy vật chứng không có giá trị sử dụng gồm có: 01 (một) chiếu cói kích thước 1,8 m x 1,6 m cũ đã qua sử dụng; 01 (một) bát sứ; 01 (một) đĩa sứ; 04 (bốn) quân vị bằng tre có kích thước 1,5cm x 1cm một mặt được bôi đen được niêm phong vào hộp bìa cattong ký hiệu B;

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước:Khoản tiền 1.200.000đ (Một triệu hai trăm nghìn đồng) là số tiền bị cáo và các đối tượng dùng để đánh bạc;

- Trả lại bị cáo Nguyễn Hữu C3: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A30 màu đen, cũ đã qua sử dụng của Nguyễn Hữu C3 được niêm phong vào bì thư ký hiệu A5.

Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự: Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Hữu C3 từ 10.000.000đ đến 12.000.000đ nộp sung quỹ nhà nước, trừ vào số tiền bị cáo đã nộp tạm ứng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Bình.

4

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên, của Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt quả tang, vật chứng của vụ án và lời khai của những người tham gia tố tụng khác, có đủ căn cứ để khẳng định:

Khoảng 22 giờ 05 phút, ngày 04/01/2024, tại nhà của gia đình Nguyễn Hữu C3 thuộc xóm T, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Hữu C3, Hoàng Văn H, Lê Văn B và Nguyễn Hữu L đã có hành vi Đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa được thua bằng tiền Việt Nam đồng thì bị tổ Công tác của Công an xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên phát hiện lập biên bản sự việc, thu giữ trên chiếu bạc 750.000 đồng, thu giữ trên người Hoàng Văn H 200.000 đồng (H dùng để đánh bạc), trên người Nguyễn Hữu L 250.000 đồng (L dùng để đánh bạc), tổng số tiền bị cáo C3 và các đối tượng dùng để đánh bạc là 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng). Mặc dù, số tiền dùng vào việc đánh bạc dưới mức tối thiểu của điều luật quy định, nhưng do trước đó bị cáo C3 đã bị kết án về tội đánh bạc, chưa được xóa án tích. Vì vậy, hành vi đánh bạc lần này của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm, Hội đồng xét xử kết luận bị cáo C3 phạm vào tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Nội dung Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này

5

hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. ...

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”

[3]. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy:

Hành vi của bị cáo Nguyễn Hữu C3 đã phạm vào tội “Đánh bạc”, khung hình phạt mà bị cáo phải chịu trách nhiệm thuộc trường hợp là tội phạm ít nghiêm trọng. Bị cáo nhận thức rõ việc đánh bạc trái phép là gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự của địa phương, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, do vậy cần phải xử lý nghiêm minh bị cáo bằng pháp luật hình sự.

Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, thấy: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi thực hiện tội phạm của mình. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Từ những căn cứ nêu trên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần có một mức án phù hợp với nhân thân, tính chất mức độ tội phạm, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Xét hành vi phạm tội của bị cáo nhằm mục đích thu lời bất chính, do đó cần áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo nộp sung công quỹ Nhà nước, theo khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

[5]. Ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Nguyễn Hữu C3, buộc bị cáo không được phép đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 20 tháng 5 năm 2024 cho đến khi bị cáo chấp hành án. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú để quản lý, theo dõi.

[6]. Về xử lý vật chứng: Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, xử lý vật chứng như sau:

- Đối với những vật chứng không có giá trị sử dụng gồm có: 01 (một) chiếu cói kích thước 1,8 m x 1,6 m cũ đã qua sử dụng; 01 (một) bát sứ; 01 (một) đĩa sứ; 04 (bốn) quân vị bằng tre có kích thước 1,5cm x 1cm một mặt được bôi đen được niêm phong vào hộp bìa cattong ký hiệu B cần tịch thu tiêu hủy;

- Đối với số tiền liên quan đến việc phạm tội là: Khoản tiền 1.200.000₫ (Một triệu hai trăm nghìn đồng), là số tiền bị cáo và các đối tượng dùng để đánh bạc cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước;

6

- Đối với vật chứng là: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A30 màu đen, cũ đã qua sử dụng của Nguyễn Hữu C3 được niêm phong vào bì thư ký hiệu A5 là tài sản của bị cáo C3, không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo quản lý, sử dụng.

[7]. Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội đối với bị cáo như đề nghị về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung, biện pháp cải tạo là phù hợp với quy định của Pháp luật, do đó Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

[8]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Hữu C3 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước, theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[9]. Thông báo quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ, áp dụng pháp luật:

  • Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự;
  • Điểm a khoản 1 Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu C3 phạm tội “Đánh bạc”.
  2. Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu C3 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù chung tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Được trừ đi thời gian đã bị tạm giam từ ngày 25/02/2024 đến ngày 21/3/2024.
  3. Hình phạt bổ sung (phạt tiền): Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Hữu C3 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) nộp sung quỹ Nhà nước được trừ vào số tiền 10.000.000 đồng bị cáo đã tự nguyện nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Bình theo biên lai thu tiền số 0001849 ngày 24/4/2024.
  4. Ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Nguyễn Hữu C3, buộc bị cáo không được phép đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 20 tháng 5 năm 2024 cho đến khi bị cáo chấp hành án. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú để quản lý, theo dõi.
  5. Xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:
    • - Tịch thu tiêu hủy vật chứng không có giá trị sử dụng gồm có: 01 (một) chiếc chiếu cói kích thước 1,8 m x 1,6 m, cũ đã qua sử dụng; 01 (một) hộp bìa cattong niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu B, bên

7

trong có chứa 01 bát sứ; 01 đĩa sứ; 04 quân vị bằng tre có kích thước 1,5cm x 1cm một mặt được bôi đen;

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Khoản tiền 1.200.000đ (Một triệu hai trăm nghìn đồng) là số tiền bị cáo và các đối tượng dùng để đánh bạc;

- Trả lại bị cáo Nguyễn Hữu C3: 01 (một) bì thư niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu A5, bên trong có chứa 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A30 màu đen, cũ đã qua sử dụng của Nguyễn Hữu C3.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/5/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra của Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình và Ủy nhiệm chi chuyển khoản, chuyển tiền điện tử số 100 ngày 10/5/2024 giữa đơn vị trả tiền Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên và đơn vị nhận tiền Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên).

  1. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Hữu C3 phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp sung quỹ Nhà nước, được trừ vào số tiền 200.000 đồng bị cáo đã tự nguyện nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Bình theo biên lai thu tiền số 0001849 ngày 24/4/2024.
  2. Thông báo quyền kháng cáo: Án xét xử hình sự công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKS ND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKS ND huyện Phú Bình;
  • - Cơ quan điều tra CA huyện Phú Bình;
  • - CQTHAHS Công an huyện Phú Bình;
  • - CC T.H.A DS huyện Phú Bình;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu: HS, VP, T.H.A HS.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thủy

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN về đánh bạc

  • Số bản án: 42/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger