TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do-Hạnh phúc |
Bản án số: 42/2024/DS-ST
Ngày 19-9-2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng
và hợp đồng thế chấp tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Hữu Bình
Các hội thẩm nhân dân: Ông Đào Xuân Nhi
Ông Nguyễn Văn Được
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên Tòa: Ông Bùi Hoàng Long
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài: Bà Trần Thị Thủy Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân Thành phố Đồng Xoài mở phiên Tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 184/2024/TLST-DS ngày 10 tháng 7 năm 2024 về: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2024/QÐST-DS ngày 30 tháng 8 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 35/2024/QĐ-HPT ngày 10 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần N
Địa chỉ: 2 C, phường D, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngô Phúc V - Chức vụ: Chủ tịch hội đồng quản trị.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Nguyễn Quốc T – CV: Chuyên viên xử lý nợ. (Có mặt)
Bị đơn: Bà Đặng Thị Tuyết S - SN: 1987; Trú tại: Số D đường L, khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. (Vắng mặt)
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Anh T1 – SN: 1989; Trú tại: Số D đường L, khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. (Vắng mặt)
NHẬN THẤY
Theo đơn khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần N và tại phiên tòa ông Phạm Nguyễn Quốc T là người được ủy quyền trình bày:
Bà Đặng Thị Tuyết S đã ký kết Hợp đồng tín dụng từng lần số 0338/2023/701-TD- CV ngày 30/03/2023, Giấy nhận nợ số: 01/GNN-0338/2023/701-TD-CV ngày 12/04/2023 để vay số tiền 3.000.000.000 đồng (Ba tỷ đồng) tại Ngân hàng TMCP N (viết tắt là Ngân hàng), cụ thể như sau:
Giấy nhận nợ số: 01/GNN-0338/2023/701-TD-CV ngày 12/04/2023:
- Số tiền nhận nợ: 3.000.000.000 đồng (Ba tỷ đồng);
- Thời hạn vay: 12 tháng (từ ngày 12/04/2023 đến ngày 12/04/2024);
- Mục đích vay: Mua sắm trang thiết bị gia đình;
- Lãi suất cho vay: 8.74%/năm. Lãi suất do Ngân hàng N quyết định điều chỉnh theo định kỳ 03 tháng/lần với mức lãi suất được tính theo công thức: Lãi suất điều chỉnh bằng (=) lãi suất cơ sở (%) cộng (-) biên độ; (Trong đó: Lãi suất cơ sở chuẩn (%/năm) là lãi suất cơ sở ngắn hạn do Ngân hàng N công bố và có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh. Biên độ giảm trừ sẽ phụ thuộc vào CBNV và thâm niên công tác tại N1). Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày 12/07/2023.
Tài sản bảo đảm cho khoản vay theo Hợp đồng thế chấp tài sản số: 0257/2023/701- TD-BĐ ký ngày 12/04/2023 tại Văn Phòng Công Chứng B, tỉnh Bình Phước là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 138 (số cũ là 25a), tờ bản đồ số 22 (số tờ bản đồ cũ là Cụm có ký hiệu N12-26), diện tích đất thế chấp 132,4 m², mục đích sử dụng: Đất ở tại đô thị, địa chỉ tại Khu T, phường T, thành phố Đ, Tỉnh Bình Phước. Chủ sở hữu/sử dụng tài sản: Bà Đặng Thị Tuyết S cùng chồng ông Nguyễn Anh T1, theo GCN quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CX 847099, Số vào số cấp GCN: CS 15797 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 30/10/2020.
Tạm tính đến ngày 10/07/2024, bà Đặng Thị Tuyết S đã thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N tổng cộng: 103.231.608 đồng, trong đó: 0 đồng nợ gốc và 103.231.608 đồng nợ lãi. Ngày thanh toán cuối cùng: 03/10/2023, số tiền thanh toán: 1.080.000 đồng nợ lãi.
Trong thời gian thực hiện nghĩa vụ trả nợ bà Đặng Thị Tuyết S đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh. Mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, tạo điều kiện để bà Đặng Thị Tuyết S trả nợ, nhưng bà Đặng Thị Tuyết S vẫn không thực hiện. Gần đây, bà Đặng Thị Tuyết S có biểu hiện bất hợp tác, tìm cách lẫn tránh và không thiện chí giải quyết nợ vay với Ngân hàng.
Việc bà S không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo cam kết, kế hoạch trả nợ với Ngân hàng TMCP N đã vi phạm các điều khoản cam kết trong hợp đồng tín dụng, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng. Nay, Ngân hàng TMCP N yêu cầu Tòa án giải quyết;
1. Buộc bà Đặng Thị Tuyết S có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP N toàn bộ số nợ gốc và lãi vay theo hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ đã ký, tổng số tiền tạm tính đến ngày 19/9/2024 (Ngày xét xử sơ thẩm vụ án) là: 3.513.404.491 đồng (Ba tỷ ba năm trăm mười ba triệu, bốn trăm lẻ bốn nghìn, bốn trăm chín mươi mốt đồng) trong đó:
- Nợ gốc: 3.000.000.000 đồng;
- Tổng nợ lãi: 513.404.491 đồng, Trong đó;
- Lãi trong hạn: 249.080.649 đồng
- Lãi quá hạn: 246.575.343 đồng
- Lãi phạt chậm trả lãi: 17.748.500 đồng
Đồng thời Ngân hàng yêu cầu S phải tiếp tục trả các khoản lãi phát sinh từ ngày 20/9/2024 theo quy định tại hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ đã ký kết cho đến khi thanh toán hết nợ.
2. Khi Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, bà Đặng Thị Tuyết S vẫn không trả nợ theo hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản đã ký, thì Ngân hàng TMCP N được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm là: “Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 138 (số cũ là 25a), tờ bản đồ số 22 (số tờ bản đồ cũ là Cụm có ký hiệu N12-26), diện tích đất thế chấp 132,4 m2, mục đích sử dụng: Đất ở tại đô thị, địa chỉ tại Khu T, phường T, thành phố Đ, Tỉnh Bình Phước. Chủ sở hữu/sử dụng tài sản: Bà Đặng Thị Tuyết S cùng chồng ông Nguyễn Anh T1, theo GCN quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CX 847099, Số vào sổ cấp GCN: CS 15797 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 30/10/2020” để thu hồi nợ theo đúng quy định trong hợp đồng thế chấp tài sản cũng như quy định của pháp luật. Nếu sau khi xử lý tài sản thế chấp mà vẫn không đủ trả nợ, Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án tiếp tục kê biên phát mãi các tài sản khác của bà Đặng Thị Tuyết S đến khi thanh toán hết toàn bộ khoản nợ.
Tại phiên tòa Ngân hàng giao nộp cho Tòa án bảng tính nợ gốc và lãi chi tiết khoản nợ của bà S còn nợ Ngân hàng tạm tính đến ngày 19/9/2024.
Bị đơn bà Đặng Thị Tuyết S và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Anh T1 vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không có ý kiến trình bày.
Phần phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài:
- - Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán tiến hành các thủ tụng tố tụng đúng theo quy định của pháp luật, việc xác định tư cách đương sự và quan hệ pháp luật đang tranh chấp là đúng, phiên tòa thực hiện đúng theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự.
- - Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP N là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN :
Sau khi nghiên cứu đầy đủ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền của Toà án: Đây là vụ án dân sự về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản”. Trong đó, bị đơn bà Đặng Thị Tuyết S hiện đang cư trú tại khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài.
[1.2] Về thủ tục giải quyết vắng mặt: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà hôm nay, mặc dù Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn bà Đặng Thị Tuyết S và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Anh T1 nhưng ông T1 và bà S vẫn vắng mặt. Việc vắng mặt của ông T1 và bà S là đương nhiên từ chối quyền lợi của mình. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông T1 và bà S theo thủ tục chung.
[2] Xét nội dung, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần N.
[2.1] Xét, khoản vay theo Hợp đồng tín dụng từng lần số 0338/2023/701-TD- CV ngày 30/03/2023;
Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng từng lần số 0338/2023/701- TD- CV ngày 30/03/2023 có chữ ký của bà Đặng Thị Tuyết S; Căn cứ vào nội dung ký kết trong hợp đồng. Hội đồng xét xử có cơ sở để xác định bà S đã vay của Ngân hàng số tiền 3.000.000.000₫ (Ba tỷ đồng), thời hạn vay 12 tháng (từ ngày 12/04/2023 đến ngày 12/04/2024), mục đích vay để mua sắm trang thiết bị gia đình; Lãi suất cho vay 8.74%/năm, lãi suất do Ngân hàng N quyết định điều chỉnh theo định kỳ 03 tháng/lần, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, lãi chậm trả đối với khoản lãi vay không trả đúng hạn được tính bằng số dư nợ lãi bị quá hạn nhân (x) số ngày quá hạn nhân (x) 10%/năm chia (:) 365 ngày. Ngân hàng và bà S ký kết Hợp đồng tín dụng trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật về hình thức và nội dung nên được thừa nhận và bảo vệ và là căn cứ phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự.
Xét thấy, trong quá trình thực hiện hợp đồng bà S chỉ trả cho Ngân hàng được số tiền lãi 103.231.608 đồng (Một trăm lẻ ba triệu, hai trăm ba mươi mốt nghìn, sáu trăm lẻ tám đồng), đối với số tiền lãi còn nợ lại thì bà S không trả. Đến hạn trả nợ bà S không thanh toán số tiền nợ gốc và lãi suất còn lại cho Ngân hàng theo hợp đồng ký kết giữa các bên đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng, vi phạm thỏa thuận đã cam kết trong hợp đồng. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Đặng Thị Tuyết S phải thanh toán số tiền nợ gốc và lãi suất còn nợ lại theo hợp đồng tín dụng tạm tính đến ngày 19/9/2024 (ngày xét xử sơ thẩm vụ án) với tổng số tiền 3.513.404.491 đồng (Ba tỷ ba năm trăm mười ba triệu, bốn trăm lẻ bốn nghìn, bốn trăm chín mươi mốt đồng), trong đó, nợ gốc là 3.000.000.000₫ (Ba tỷ đồng), tiền lãi trong hạn là 249.080.649 đồng, tiền lãi quá hạn là 246.575.343 đồng, tiền phạt lãi chậm trả 17.748.500 đồng là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bà Đặng Thị Tuyết S phải tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng đã ký kết kể từ ngày 20/9/2024 đến khi bà Đặng Thị Tuyết S trả hết nợ:
Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng từng lần số 0338/2023/701-TD- CV ngày 30/03/2023, xét thấy sự thỏa thuận về tiền lãi của các bên là tự nguyện, phù hợp với các quy định của pháp luật nên yêu cầu này của nguyên đơn là phù hợp được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.3] Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc xử lý tài sản thế chấp trong trường hợp bị đơn bà Đặng Thị Tuyết S không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ.
Xét thấy, khoản vay theo Hợp đồng tín dụng từng lần số 0338/2023/701-TD- CV ngày 30/03/2023 có bảo đảm bằng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0257/2023/701- TD-BĐ ký ngày 12/04/2023 được công chứng tại Văn phòng C. Hợp đồng thế chấp được các bên xác lập tuân thủ đúng quy định về nội dung, hình thức, chủ thể giao kết hợp đồng có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự nên Hợp đồng công chứng là hợp pháp.
Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 138 (số cũ là 25a), tờ bản đồ số 22 (số tờ bản đồ cũ là Cụm có ký hiệu N12-26), diện tích đất thế chấp 132,4 m², mục đích sử dụng: Đất ở tại đô thị, địa chỉ tại Khu T, phường T, thành phố Đ, Tỉnh Bình Phước theo GCN quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CX 847099, Số vào số cấp GCN: CS 15797 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 30/10/2020 được Chi nhánh vă phòng đăng ký đất đai thành phố Đ chỉnh lý trang 04 ngày 26/8/2021 cho ông Nguyễn Anh T1 cùng vợ bà Đặng Thị Tuyết S. Sau khi hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất được công chứng, tài sản thế chấp đã được thế chấp tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo đúng quy định của pháp luật. Do đó, nếu bà S không trả được nợ thì Ngân hàng được yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
[3]. Về chi phí tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Ngân hàng đã nộp 3.500.000₫ (Ba triệu năm trăm nghìn đồng) tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp. Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc bị đơn bà Đặng Thị Tuyết S phải trả lại số tiền này cho ngân hàng, xét thấy yêu cầu này của nguyên đơn là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ngân hàng không phải chịu án phí và được hoàn trả tiền tạm ứng án phí. Bà Đặng Thị Tuyết S phải chịu án phí trên số tiền phải thanh toán cho Ngân hàng theo quy định của pháp luật.
[5] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở nên được chấp nhận.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158, khoản 2 Điều 227, Điều 228, 271, 273, 278 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 117, 119, 280, 292, 298, 299, 318, 319, 320, 321, 322, 323, 398, 401, 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 91, 95 và Điều 98 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi bổ sung năm 2017)
Áp dụng nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên Ngân hàng Thương mại cổ phần N về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản”.
Buộc bà Đặng Thị Tuyêt S1 trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N tổng số tiền nợ theo Hợp đồng tín dụng từng lần số 0338/2023/701-TD - CV ngày 30/03/2023 tính đến ngày 19 tháng 9 năm 2024 là: 3.513.404.491 đồng (Ba tỷ ba năm trăm mười ba triệu, bốn trăm lẻ bốn nghìn, bốn trăm chín mươi mốt đồng), trong đó; nợ gốc là 3.000.000.000₫ (Ba tỷ đồng), tiền lãi trong hạn là 249.080.649đ, tiền lãi quá hạn là 246.575.343 đồng, tiền phạt lãi chậm trả 17.748.500 đồng.
Kể từ ngày 20 tháng 9 năm 2024 bà Đặng Thị Tuyết S còn phải tiếp tục trả các khoản tiền lãi phát sinh cho Ngân hàng theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng từng lần số 0338/2023/701-TD- CV ngày 30/03/2023 cho đến khi bà S hoàn thành nghĩa vụ thanh toán. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2. Trong trường hợp bà S không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền trên đất thuộc thửa đất số 138 (số cũ là 25a), tờ bản đồ số 22 (số tờ bản đồ cũ là Cụm có ký hiệu N12-26), diện tích đất 132,4m², địa chỉ tại Khu T, phường T, thành phố Đ, Tỉnh Bình Phước, theo GCN quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CX 847099, Số vào số cấp GCN: CS 15797 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 30/10/2020 được Chi nhánh văn phòng Đăng ký đất đai thành phố Đ chỉnh lý trang 04 ngày 26/8/2021 cho ông Nguyễn Anh T1 cùng vợ bà Đặng Thị Tuyết S. Số tiền phát mãi tài sản sau khi đã trừ các chi phí liên quan đến việc phát mãi sẽ được thanh toán và chi trả theo quy định của pháp luật. Nếu sau khi trả hết nợ cho Ngân hàng mà số tiền phát mãi đối với tài sản thế chấp còn dư thì sẽ được trả lại cho chủ sở hữu của tài sản thế chấp. Nếu số tiền phát mãi tài sản không đủ để trả nợ thì bà S phải tiếp tục trả cho Ngân hàng số tiền nợ còn lại.
Trong trường hợp bà S thanh toán xong số nợ cho Ngân hàng mà không phải phát mãi tài sản đã thế chấp để trả nợ thì Ngân hàng có nghĩa vụ thực hiện xóa thế chấp và trả lại cho bà S bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CX 847099, Số vào số cấp GCN: CS 15797 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 30/10/2020 được Chi nhánh văn phòng Đăng ký đất đai thành phố Đ chỉnh lý trang 04 ngày 26/8/2021 cho ông Nguyễn Anh T1 cùng vợ bà Đặng Thị Tuyết S.
3. Về chi phí tố tụng: Buộc bà Đặng Thị Tuyết S phải hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N số tiền 3.500.000đ (Ba triệu năm trăm nghìn đồng) tiền xem xét thẩm định tại chỗ tài sản thế chấp.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Đặng Thị Tuyết S phải chịu 102.268.100 (Một trăm lẻ hai triệu, hai trăm sáu mươi tám nghìn, một trăm đồng).
Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 47.500.000₫ (Bốn mươi bảy triệu năm trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001369 ngày 02 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn bà Đặng Thị Tuyết S, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Anh T1 vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hoàng Hữu B |
Bản án số 42/2024/DS-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản
- Số bản án: 42/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp Hợp đồng tín dụng
