Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN Y

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 42/2024/HS-ST

Ngày: 19- 4 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà H Thị Tuyên.
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn H Hợp và ông Lưu Quang Hưng.
  • - Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Y.
  • - Đại diện VKSND huyện Y tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên.

Trong ngày 19/4//2024, tại trụ Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Hưng Yên mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 37/2024/HSST ngày 02 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:

Đỗ Văn H, sinh năm 1987; STQ: Tổ dân phố C, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ trước khi phạm tội: Không; Con ông Đỗ Ngọc S. Sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị L. Sinh năm 1965; Gia đình có 3 anh em, bị cáo là thứ hai; Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân:

Bản án số 08/2009/HSST ngày 20/02/2009 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Hưng Yên xử phạt 03 năm tù về tội Cướp giật tài sản. Chấp hành xong bản án ngày 17/3/2011.

Bản án số 19/2017/HSST ngày 18/5/2017 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Hưng Yên xử phạt 03 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Chấp hành xong bản án ngày 17/5/2019.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y. Có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng:

Anh Nguyễn Viết Th, sinh năm 1987

Trú tại: Thôn Y, xã Gi, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.

Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 19/12/2023, tại đoạn đường trước cửa quán bia V thuộc thôn Gi xã Gi, huyện Y, tỉnh Hưng Yên, Công an xã Giai Phạm kiểm tra phát hiện bắt quả tang Đỗ Văn H, sinh năm 1987 trú tại tổ dân phố C, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ: Tại tay phải H 01 gói giấy nhỏ màu trắng kích thước (2,5x1)cm bên trong chứa chất cục bột màu trắng, niêm phong ký hiệu M1 và số tiền 2.360.000 đồng.

Ngày 19/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đỗ Văn H. Kết quả không thu giữ đồ vật tài liệu gì.

Tại cơ quan điều tra, Đỗ Văn H khai: H là người sử dụng ma túy từ năm 2012. Khoảng 10 giờ 20 phút ngày 19/12/2023, H có nhu cầu sử dụng ma túy nên mượn điện thoại của người phụ nữ đi đường (không biết tên gì, ở đâu) gọi điện cho người tên Tuấn A (số điện thoại của Tuấn A được ghi vào mảnh giấy, do đã vứt đi nên không nhớ số) hỏi mua 01 quả ma túy Heroine thì được người tên Tuấn A báo giá 600.000 đồng và hẹn H đến khu vực quán bia mới mở ở gần chùa Phúc Quang, thôn Gi, xã Gi, huyện Y để giao ma túy. H đi bộ đến điểm hẹn gặp người tên Tuấn A thì Tuấn A đưa cho H 01 gói giấy nhỏ màu trắng, kích thước (2,5x1)cm, H đưa Tuấn A số tiền 600.000 đồng. H cầm gói ma túy đi tìm chỗ để sử dụng thì bị Công an xã Gi, huyện Y phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng liên quan.

Ngày 19/12/2024 xét nghiệm Đỗ Văn H, kết quả dương tính với ma túy loại Heroine.

Tại bản kết luận giám định số 76/KL-KTHS(MT) ngày 22/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ghi ký hiệu M1, có khối lượng là 0,320 gam (Không phẩy ba hai không gam), là ma túy, là loại Heroine.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã nhập kho vật chứng đối với mẫu vật hoàn lại sau giám định là: 01 phong bì niêm phong ghi số 76/KL-KTHS(MT) bên trong có 0,314g Heroine; 01 mảnh giấy và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định chờ xử lý. Số tiền 2.360.000 đồng thu của H được gửi vào tài khoản tạm giữ của Công an huyện Y tại Kho bạc Nhà nước huyện Y.

Đối với người đàn ông tên Tuấn A, bị cáo H khai đã bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lý lịch của người này nên không có căn cứ để xem xét xử lý.

Quá trình điều tra, bị cáo Đỗ Văn H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ diễn biến hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Cáo trạng số 42/CT-VKS-YM ngày 01/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố bị cáo Đỗ Văn H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay:

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Đỗ Văn H và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS.
  • - Đề nghị xử phạt: Bị cáo Đỗ Văn H từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 19/12/2023;
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo H. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y còn đề nghị về đường lối xử lý vật chứng trong vụ án.
  • Bị cáo Đỗ Văn H nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, đồng thời thành khẩn khai báo nhận tội, thái độ ăn năn hối cải, được nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo ở mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra - Công an huyện Y và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Y và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đều hợp pháp.

Về tố tụng: Tại phiên tòa người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, tuy nhiên quá trình điều người làm chứng đã có lời khai, do đó sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án xét xử vắng mặt người làm chứng.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp khách quan với biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong vật chứng, biên bản ghi lời khai của những người làm chứng, kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 19/12/2023, tại đoạn đường trước cửa quán bia V thuộc thôn Gi, xã Gi, huyện Y, tỉnh Hưng Yên bị cáo Đỗ Văn H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,320g ma túy, loại Heroine với mục đích để sử dụng thì bị Công an xã Gi, huyện Y, tỉnh Hưng Yên phát hiện, bắt quả tang. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi và khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ như nêu trên đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, làm mất an ninh, trật tự công cộng, an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác.

Ma túy làm cho người sử dụng thay đổi trạng thái tâm lý, sa sút về tinh thần, suy giảm về thể lực và trí tuệ, giảm tuổi thọ, suy thoái chất lượng giống nòi và làm tăng nguy cơ bị lây nhiễm các bệnh xã hội. Người nghiện ma túy nặng có thể có biểu hiện rối loạn tâm thần, dễ bị kích động dẫn tới các hành vi không đúng chuẩn mực xã hội hoặc vi phạm pháp luật. Ngoài ra, gia đình người nghiện ma túy còn phải chịu một gánh nặng rất lớn về kinh tế, đồng thời còn phải chịu áp lực tinh thần do bị cộng đồng kỳ thị, trở thành gánh nặng cho xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt: Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, HĐXX thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, là người nghiện ma túy, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định và việc bị cáo Tàng trữ trái phép chất ma túy cũng để phục vụ cơn nghiện của mình chứ không có mục đích tư lợi nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự, để phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng trong vụ án:

  • 01 phong bì niêm phong ghi số 76/KL-KTHS(MT) bên trong có 0,314g Heroine; 01 mảnh giấy và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định là vật liên quan đến hành vi phạm tội, vật nhà nước cấm lưu hành, hiện không còn giá trị sử dụng nên tịch thu cho tiêu hủy.
  • - Đối với số tiền 2.360.000 đồng thu của bị cáo H không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo H.

[7] Đối với người đàn ông tên Tuấn A bị cáo H khai đã bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không xác định được là ai, ở đâu nên không có căn cứ xử lý.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và khoản 2 Điều 136 của BLTTHS.

[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 của BLTTHS.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Văn H 01 (Một) năm 06 ( Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 19/12/2023.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Đỗ Văn H.

Về xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu cho tiêu hủy 0,314 g ma túy Heroine, 01 mảnh giấy và 01 vỏ phong bì niêm phong ký hiệu số 76/KL-KTHS (MT).
  • - Trả lại bị cáo Đỗ Văn H số tiền 2.360.000 đồng ( Hai triệu ba trăm sáu mươi nghìn đồng).

(Đặc điểm, tình trạng chi tiết vật chứng theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 19/4/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Y và Công an huyện Y).

Về án phí: Buộc bị cáo Đỗ Văn H phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của BLTTHS. Bị cáo Đỗ Văn H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hưng Yên;
  • - CA, VKS, THA huyện Y;
  • - Trại tạm giam - CA tỉnh Hưng Yên;
  • - Bị cáo;
  • - UBND phường B;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Tuyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 19/04/2024 của Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Hưng Yên về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 42/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Hưng Yên
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Văn Hoàng Điều 249
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger