Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ LỘC

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2024/HS-ST

Ngày: 18/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thị Phương Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Minh Khôi và ông Nguyễn Thế Lâm.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hiền - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Lộc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Lợi - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 36/2024/TLST-HS, ngày 18 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 39/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Phi H; tên gọi khác: Hùng Xít; sinh ngày: 10/01/1988, tại thành phố Đà Nẵng; nơi cư trú: Tổ A, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Không có; giới tính: Nam, quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: Thiên chúa giáo; trình độ văn hóa: Lớp 12/12, con ông Nguyễn T và bà Nguyễn Thị Ngọc H1; vợ, con: Chưa có. Tiền án: có 03 tiền án:

Ngày 14/9/2010, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế tuyên phạt 15 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" tại Bản án số 150/2010/HS-ST.

Ngày 24/8/2011, bị Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tuyên phạt 7 năm tù về tội "Trộm cắp tài sản" tại bản án số 58/2011/HS-ST, tổng hợp hình phạt tại Bản án số: 150/2010/HS-ST ngày 14/9/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế tổng cộng là 08 năm 3 tháng tù.

Ngày 06/9/2018, bị Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tuyên phạt 05 năm 6 tháng tù về tội: "Trộm cắp tài sản" tại bản án số 62/2018/HSST.

Tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 07/4/2006, bị Công an quận H, thành phố Đà Nẵng ra Quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, thời hạn 24 tháng do nhiều lần có hành vi “Trộm cắp tài sản”, “Gây rối trật tự công cộng”.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 02/4/2024 đến nay, có mặt.

- Bị hại: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm: 1978; địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.

- Người làm chứng:

+ Ông Trần Ngọc H2, sinh năm 1989; địa chỉ: Tổ A, phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.

+ Bà Lê Thị Ngọc C, sinh năm 1970; địa chỉ: Tổ dân phố L,, thị trấn L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 01/4/2024, Nguyễn Phi H cùng với Trần Ngọc H2 đi xe khách từ thành phố Đà Nẵng ra thị trấn L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Quá trình đi trên xe khách, H và H2 xảy ra mâu thuẫn nên khi đến thị trấn L cả hai xuống xe. H và H2 ngồi uống nước tại quán nước trên đường Q và tiếp tục cãi nhau nên H bỏ đi tìm quán uống bia. Khoảng 16 giờ 40 phút, khi H đi đến đoạn đường N, tổ dân phố A, thị trấn L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế thì phát hiện xe mô tô Honda nhãn hiệu SH MODE biển kiểm soát 75K1-470.72 của anh Nguyễn Văn M để phía bên phải đường, không có người trông coi, chìa khóa còn treo trên xe. H nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô. H đã lén lút mở chìa khóa và điều khiển xe mô tô đi tới vị trí mà H2 đang ngồi uống nước và chở H2 đi vào thành phố Đà Nẵng. Sau khi vào thành phố Đà Nẵng, H2 về nhà H2, còn H điều khiển xe mô tô về phòng trọ H đang ở để cất giấu thì bị cơ quan cảnh sát điều tra phát hiện.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) xe mô tô SH MODE màu bạc đen, biển kiểm soát 75K1-470.72; 01 (một) điện thoại Iphone màu bạc, có ốp màu đen; 01 (một) áo khoác dài tay, màu đen, có cổ dạng bẻ đã qua sử dụng; 01 (một) quần dài, vải màu trắng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐG ngay 02/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận về giá của tài sản cần định giá: 01 (một) chiếc xe mô tô, biển kiểm soát 75K1-470.72, nhãn hiệu SH MODE có giá là: 38.500.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Nguyễn Văn M đã nhận lại đầy đủ tài sản bị mất trộm và không có yêu cầu bồi thường gì khác.

Tại bản Cáo trạng số 35/CT-VKSPL ngày 17/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc truy tố bị cáo Nguyễn Phi H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều

38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Phi H từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân Phú Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Đã có cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 40 phút ngày 01/4/2024 tại đường N, tổ dân phố A, thị trấn L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, Nguyễn Phi H đã có hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô Honda nhãn hiệu SH MODE biển kiểm soát 75K1-470.72 trị giá: 38.500.000 đồng của anh Nguyễn Văn M.

Với hành vi và hậu quả nêu trên, bị cáo Nguyễn Phi H đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo chưa được xoá án tích mà tiếp tục phạm tội nên lần phạm tội này đã phạm vào tình tiết định khung tăng nặng “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng số 35/CT-VKSPL ngày 17/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc truy tố bị cáo là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được đầy đủ tính chất hành vi phạm tội do mình gây ra. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ đồng thời gây mất trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.

[4] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng nào.

[5] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Căn cứ vào nhân thân và tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Nguyễn Phi H có nhân thân xấu, đã bị kết án về tội trộm cắp tài sản nhiều lần nhưng không chịu cải tạo, sửa chữa để trở thành người có ích cho xã hội mà tiếp tục phạm tội. Do đó cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Bị cáo nghề nghiệp

không ổn định, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Đối với Trần Ngọc H2 là người đi cùng với bị cáo, quá trình điều tra xác định được H2 hoàn toàn không biết việc H thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên không có căn cứ để xử lý.

[9] Về xử lý vật chứng:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã trả lại xe mô tô biển kiểm soát 75K1-470.72, điện thoại Iphone cho chủ sở hữu hợp pháp. Tại phiên tòa, không ai có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Các vật chứng còn lại hiện đang tạm giữ gồm 01 (một) áo khoác dài tay, màu đen, có cổ dạng bẻ đã qua sử dụng; 01 (một) quần dài, vải màu trắng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.

[10] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Phi H (tên gọi khác: H xít) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Phi H 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 02/4/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên xử:

Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) áo khoác dài tay, màu đen, có cổ dạng bẻ đã qua sử dụng; 01 (một) quần dài, vải màu trắng.

(Các vật chứng nêu trên đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Lộc quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan cảnh sát điều tra huyện P và Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Lộc).

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tuyên xử: Buộc bị cáo Nguyễn Phi H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thừa Thiên Huế;
  • - VKSND tỉnh Thừa Thiên Huế;
  • - VKSND huyện Phú Lộc;
  • - Công an huyện Phú Lộc;
  • - THADS huyện Phú Lộc;
  • - Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà




Trần Thị Phương Thảo

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về hình sự về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 42/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: trộm cắp
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger