|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 42/2024/HS-PT Ngày 17 tháng 7 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Hán Hưởng |
| Các thẩm phán: | Ông Nguyễn Hà Giang |
| Ông Nguyễn Quang Vũ |
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Trọng Tú - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Kim Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đưa ra xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 40/2024/TLPT-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 do có kháng cáo của bị cáo Hà Văn H, đối với Bản án hình sơ thẩm số 20/2024/HSST ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ.
-
Bị cáo có kháng cáo: Hà Văn H, sinh ngày 19/6/1964, tại huyện Y, tỉnh Phú Thọ. Nơi thường trú: Khu Đ, xã L, huyện Y, tỉnh Phú Thọ. Nghề nghiệp: Làm ruộng. Trình độ văn hoá lớp: 08/10. Dân tộc: Mường. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Hà Văm N (đã chết); con bà Bùi Thị V (đã chết). Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị V1 và 03 người con, con lớn nhất sinh năm 1985, con nhỏ nhất sinh năm 1993.
Tiền án + Tiền sự: Không.
Về nhân thân: Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt.
Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam, hiện nay bị cáo đang thi hành lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú tại khu Đ, xã L, huyện Y, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Hà Văn H: Bà Hoàng Thị Thanh H1 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P (có mặt).
Những người tham gia tố tụng khác có liên quan đến kháng cáo:
-
Bị hại: Tổng công ty G - (Công ty TNHH)
Đại diện theo pháp luật: Ông Lê Công H2 – Chức vụ: Tổng giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền:
- Ông Bùi Hồng T, sinh năm 1973 - Chức vụ: Phó giám đốc công ty L1 (có mặt).
- Ông Nguyễn Khắc L, sinh năm 1976 - Chức vụ: Chuyên viên Pháp chế Tổng công ty G - Công ty TNHH (có mặt).
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Huy C, sinh năm 1988. Địa chỉ: Khu T, xã L, huyện Y, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).
- Anh Nguyễn Huy T1, sinh năm 1998. Địa chỉ: Khu T, xã L, huyện Y, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).
- Ông Hà Văn N1, sinh năm 1971. Địa chỉ: Khu T, xã L, huyện Y, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).
- Anh Trần Văn P, sinh năm 1984. Địa chỉ: Khu T, xã L, huyện Y, tỉnh Phú Thọ(vắng mặt).
- Ông Hoàng Văn V2, sinh năm 1969. Địa chỉ: Khu T, xã L, huyện Y, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vì muốn có tiền để chi tiêu, Hà Văn H, sinh năm 1964, trú tại khu Đ, xã L, huyện Y nẩy sinh ý định chặt cây bồ đề của Công ty L1 tại Đ, khu Đ, xã L, huyện Y bán lấy tiền. Do cây bồ đề được Công ty L1 trồng năm 2019 nằm rải rác trên diện tích đất 23.103m² thuộc Lô số 2 và Lô S, khoảnh 15, thửa số 9, tờ bản đồ số 02 tại Đồi U khu Đ, xã L, huyện Y (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số TC00002QSDĐ ngày 31/3/1998 do UBND tỉnh P cấp cho Tổng công ty G mà đại diện là Lâm trường A M sử dụng, nay là Công ty L1) nên để chặt được cây bồ đề thì cần nhiều người và phải chặt cây cắt thành từng đoạn trong nhiều ngày, số đoạn bồ đề phải tập kết một chỗ rồi mới được vận chuyển đi nên ngày 02/11/2023, H đã thuê anh Nguyễn Huy C, sinh năm 1988 và anh Nguyễn Huy T1, sinh năm 1998; đều ở khu T, xã L, huyện Y chặt cây bồ đề cắt thành đoạn. Khi thuê anh C và anh T1, H nói đồi cây này của H. Trong ngày 02/11/2023 anh T1 và an Cần chặt được 50 cây cắt thành các đoạn có chiều dài từ 1,3 mét (m) đến 3m, sau đó H, anh T1, anh C kéo các đoạn cây đã cắt tập kết tại lối đi lên đồi.
Ngày 03/11/2023, H tiếp tục thuê các anh Hà Văn N1, sinh năm 1971, Trần Văn P, sinh năm 1984, Hoàng Văn V2, sinh năm 1969, đều ở khu T, xã L, huyện Y chặt cây bồ đề cắt thành đoạn. Khi thuê anh N1, anh P và anh V2, H nói đồi cây này của H. Anh N1, anh P và anh V2 chặt được 60 cây bồ đề, cắt thành các đoạn có chiều dài từ 1,3m đến 3m rồi H cùng anh N1, anh P và anh V2 kéo các đoạn cây đã cắt đến xếp lên trên các đoạn cây đã cắt ngày 02/11/2023.
Ngày 04/11/2023, H tiếp tục thuê anh N1, anh P và anh V2 chặt cây bồ đề. Đến khoảng 9 giờ cùng ngày khi anh N1, anh P và anh V2 đang cắt cây thì bị Tổ bảo vệ rừng của Công ty L1 kiểm tra lập biên bản, lúc này các anh N1, P, V2 đã cặt được 14 cây bồ đề. Công ty L1 đã báo công an xã L và Công an huyện Y giải quyết. Cơ quan điều tra đã thu giữ 476 đoạn gỗ bồ đề được cắt khúc có chiều dài từ 1,3 m đến 3m; chu vi từ 25cm đến 50cm; tổng khối lượng gỗ là 14,6m³.
Ngày 20/12/2023, Cơ quan điều tra đã yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y định giá tài sản đối với 14,6m³ gỗ bồ đề đã được cắt đoạn thành 476 đoạn.
Tại kết luận định giá tài sản số 19/KL-HĐĐGTS ngày 22/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y, kết luận: 14,6m³ gỗ cây bồ đề đã được cắt thành 476 đoạn có tổng giá trị là 21.512.000đồng.
Hành vi của Hà Văn H trộm cắp 124 cây bồ đề trị giá 21.512.000đ của Công ty L1 thực hiện liên tục trong các ngày 02, 03, 04/11/2023, đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Ngày 22/02/2024, Cơ quan điều tra đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định khởi tố bị can đối với Hà Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự. Tại Cơ quan điều tra, Hà Văn H thừa nhận việc chặt 124 cây bồ đề và H đã cắt thành 476 đoạn. Tuy nhiên H khai cây bồ đề đó là cây mọc tự nhiên trên diện tích đất 23.103m² thuộc Lô số 2 và Lô S, khoảnh 15, thửa số 9, tờ bản đồ số 02, tại Đồi U khu Đ, xã L do H khai hoang.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, cơ quan điều tra xác minh, trả lại cho Công ty L1 476 đoạn gỗ bồ đề được cắt khúc có chiều dài từ 1,3m đến 3m; chu vi từ 25cm đến 50cm; tổng khối gỗ là 14,6m³. Đại diện công ty đã nhận và không có yêu cầu đề nghị gì.
Xác minh tài sản và nguồn thu nhập: Bị cáo Hà Văn H nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập thấp, không ổn định.
Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2024/HSST ngày 26/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ vào khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
-
Tuyên bố bị cáo Hà Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Hà Văn H 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Hà Văn H.
- Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận đại diện của Công ty L1 đã nhận lại 476 đoạn gỗ bồ đề tổng khối gỗ là 14,6m³ và không yêu cầu đề nghị bồi thường gì khác.
Bản án còn tuyên nghĩa vụ án phí và quyền kháng cáo của người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.
Ngày 06 tháng 5 năm 2024, bị cáo Hà Văn H có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm số 20/2024/HSST ngày 26/4/2024, của Tòa án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ về tội danh và hình phạt đối với bị cáo, đề nghị xác định bị cáo không phạm tội trộm cắp tài sản.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hà Văn H giữ nguyên kháng cáo của mình.
Người bào chữa bị cáo có quan điểm cho rằng: Cần xác định tuổi cây bồ đề để xác định thời điểm trồng cây có phải cây của công ty L1 hay cây do bị cáo trồng mới có căn cứ để buộc tội bị cáo.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm:
Về nội dung: Bị cáo không đưa ra căn cứ nào chứng minh tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản trên đất của bị cáo mà toàn bộ tài sản này đều xác định của Công ty L1.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Bác kháng cáo của bị cáo Hà Văn H, giữ nguyên quyết định Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2024/HSST ngày 26/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ
Về án phí hình sự phúc thẩm: Miễn án phí hình sự phúc thẩm cho bị cáo Hà Văn H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Hà Văn H thực hiện trong thời hạn luật định được chấp nhận.
[2] Về nội dung vụ án:
Xét kháng cáo của bị cáo Hà Văn H đề nghị cấp phúc thẩm xác định bị cáo không phạm tội Trộm cắp tài sản thấy rằng: Quá trình điều tra xác định diện tích đất 23.103m² thuộc Lô số 2 và Lô S, khoảnh 15, thửa số 9, tờ bản đồ số 02 tại Đồi U, khu Đ, xã L được UBND tỉnh P cấp cho Tổng công ty G mà đại diện là Lâm trường A M sử dụng (nay là Công ty L1). Năm 2018, giữa Công ty L1 và Hà Văn H xảy ra tranh chấp diện tích đất trên và khởi kiện ra Tòa án nhân dân huyện Yên Lập giải quyết. Tại bản án số 05 ngày 07/11/2018 của TAND huyện Yên Lập đã quyết định buộc H phải trả lại cho Công ty L1 diện tích đất trên và giao tài sản trên diện tích đất là 3680 cây keo. Tuy nhiên, H không tự nguyện thi hành bản án. Ngày 13/8/2019, Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Lập đã tổ chức cưỡng chế theo quyết định cưỡng chế số 10 ngày 22/7/2019, chuyển giao quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 23.103m² và giao tài sản trên diện tích đất là 3680 cây keo cho Công ty L1. Công ty cũng đã thanh toán cho bị có H số tiền 25.627.500 đồng đã gửi vào cơ quan thi hành án, bị cáo cố tình không nhận tiền thi hành án không phải do lỗi của công ty.
Năm 2019, Công ty L1 đã trồng trên diện tích 23.103m² đất, định mức trồng là 1,0kg/ha; hình thức trồng gieo hạt thể hiện tại văn bản số 205/CV-CTLNYL ngày 15/10/2019 về việc trồng bổ sung cây bồ đề và các tài liệu liên quan đến việc nghiệm thu trồng, chăm sóc cây bồ đề của Công ty L1. Hơn nữa, bản thân H cũng thể hiện quan điểm đây không phải là đất của H.
Như vậy, có cơ sở pháp lý xác định Hà Văn H hoàn toàn biết rõ đây là đất thuộc quyền quản lý sử dụng của Công ty L1 nhưng vẫn cố tình có hành vi Trộm cắp tài sản. Cho nên mặc dù bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội của mình nhưng qua lời khai của bị cáo tại phiên tòa, lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; biên bản khám nghiệm hiện trường, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ tại hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ kết luận: Trong 3 ngày 02/11/2023, 03/11/2023 và 04/11/2023 tại lô số 2 và lô số 4, khoảnh 15, thửa số 9, tờ bản đồ số 02 diện tích đất 23.103m² ở Đồi U khu Đ, xã L, huyện Y, Hà Văn H, đã có hành vi trộm cắp của Công ty L1 124 cây bồ đề, chặt thành 476 đoạn, tập kết ở lối đi lên đồi, chuẩn bị vận chuyển để tiêu thụ thì bị phát hiện, thu giữ, tổng khối gỗ là 14,6m³ có giá trị là 21.512.000₫ (Hai mươi mốt triệu năm trăm mười hai nghìn đồng). Hành vi của Hà Văn H đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Nên Tòa án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ đã xét xử bị cáo tội Trộm cắp tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.
Người bào chữa cho bị cáo đề nghị xác định tuổi cây bồ đề để làm căn cứ buộc tội bị cáo thấy rằng: Bản thân bị cáo H cũng xác định trước đây đã 02 lần Công ty ký hợp đồng với bị cáo để hợp tác trồng rừng, khi hết hạn hợp đồng, hai bên đã xảy ra tranh chấp, tại bản án dân sự sơ thẩm số 05/2018 của TAND huyện Yên Lập đã xác định đất và tài sản trên đất đều là của Công ty. Vì vậy, người bào chữa cho bị cáo đưa ra đề nghị xác định tuổi của cây làm căn cứ xác định hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo H là không có căn cứ để chấp nhận.
Bản án Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt tù giam thời hạn 06 tháng đối với bị cáo là hình phạt nghiêm khắc. Nhưng quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi chặt cây, nhưng không thừa nhận hành vi phạm tội trộm cắp của mình thể hiện sự ngoan cố, không ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và cũng không cung cấp được thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào khác. Nên cần tiếp tục áp dụng hình phạt tù có thời hạn, giữ nguyên quyết định hình phạt tù của bản án sơ thẩm đã tuyên mới đảm bảo trừng trị đối với bị cáo và phòng ngừa trong xã hội.
[3] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số thuộc đối tượng được miễn án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hà Văn H. Giữ nguyên quyết định bản án hình sự sơ thẩm số 20/2024/HSST ngày 26/4/2024, của Tòa án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ đối với bị cáo Hà Văn H.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ vào khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
-
Tuyên bố bị cáo Hà Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Hà Văn H 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận đại diện của công ty L1 đã nhận lại 476 đoạn gỗ bồ đề tổng khối gỗ là 14,6m³ và không yêu cầu đề nghị bồi thường gì khác.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hà Văn H.
- Về án phí hình sự phúc thẩm: Miễn án phí hình sự phúc thẩm cho bị cáo Hà Văn H.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hán Hưởng |
Bản án số 42/2024/HS-PT ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 42/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo
