Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2024/HNGĐ-ST

Ngày 17-5-2024

V/v: “Ly hôn, con chung giữa chị

Thuý và anh Phong"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lại Văn Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thu Hương

Bà Trần Thị Minh Nguyệt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thu Phương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Bùi Bích Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 41/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 216/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1994; Nơi thường trú: Xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định;

Bị đơn: Anh Phạm Văn P, sinh năm 1987; Nơi thường trú: Xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định;

Nơi ở hiện nay đang cư trú và lao động tại Đài Loan;

(Tại phiên tòa vắng mặt chị Nguyễn Thị T có lý do, vắng mặt anh Phạm Văn P không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 16 tháng 12 năm 2023, bản tự khai nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T kết hôn với anh Phạm Văn P trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn vào ngày 13 tháng 5 năm 2011 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định, chung sống hạnh phúc được khoảng 7 năm, đến năm 2018 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Tháng 8 năm 2018 anh P đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan đến nay chưa về. Đến năm 2019 chị T cũng sang Đài Loan để hai vợ chồng có cơ hội hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng vợ chồng vẫn thường xuyên mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống nên chị T đã về Việt Nam, vợ chồng đã sống ly thân từ đó cho đến nay đã được 3 năm. Do địa lý xa cách nên vợ chồng ngày càng mâu thuẫn trầm trọng, không còn quan tâm đến nhau cũng như không còn nói chuyện với nhau. Hai bên đã rất cố gắng để hoà giải và hàn gắn tình cảm vợ chồng, hai gia đình cũng nhiều lần can thiệp nhưng mục đích hôn nhân không thể cứu vãn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Nay chị T xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Văn P.

Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng chị có hai con chung cháu Phạm Ngọc L, sinh ngày 24-3-2012 và cháu Phạm Bảo T1, sinh ngày 27-9-2016. Hiện nay hai con chung đang sống ổn định cùng chị T. Khi ly hôn nguyện vọng của chị T xin được nuôi dưỡng, chăm sóc hai con chung. Chị không yêu cầu anh P phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Nguyễn Thị T không đề nghị Toà án xem xét, giải quyết.

Bản thân chị T đã suy nghĩ rất nhiều trước khi làm đơn xin ly hôn với anh Phạm Văn P. Do hiện nay anh P đang cư trú và lao động tại Đài Loan, do không bố trí thời gian đến Toà án trong quá trình giải quyết vụ án nên chị T đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ theo quy định của pháp luật.

* Bị đơn anh Phạm Văn P đã được Toà án gửi thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh Phạm Văn K (em trai của anh P) nhận thay, anh P đã biết được nội dung khởi kiện của chị Nguyễn Thị T, đến nay anh P không có yêu cầu phản tố. Anh P không có tài liệu chứng cứ gì giao nộp cho Tòa án, anh P vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên toà xét xử mà không có lý do. Đến nay anh P không có quan điểm của mình đối với vụ án.

* Tại biên bản làm việc ngày 15 tháng 3 năm 2024 với Ủy ban nhân dân xã H cung cấp: Anh Phạm Văn P đăng ký kết hôn với chị Nguyễn Thị T vào ngày 13-5-2011 tại UBND xã H, huyện H, tỉnh Nam Định tại quyển sổ đăng ký kết hôn số 01 mở năm 2011, số thứ tự là 33/KH/2011. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị chung sống với nhau tại xóm A xã H, anh P làm nghề thợ mộc còn chị T địa phương không biết làm nghề gì. Đến năm 2018 anh P đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, việc vợ chồng anh chị chung sống với nhau có mâu thuẫn như thế nào thì địa phương không lắm được. Anh P và chị T có hai con chung là Phạm Ngọc L, sinh ngày 24-3-2012 và Phạm Bảo T1, sinh ngày 27-9-2016. Hiện nay hai con chung đang ở cùng chị T ở xóm A, xã H. Hiện nay anh chị có tài sản gì chung và có công nợ hay không địa phương cũng không lắm được, anh P sống cùng bố mẹ đẻ. Nay chị T làm đơn xin ly hôn anh P, đề nghị Toà án căn cứ vào quy định pháp luật để giải quyết.

Tại phiên toà hôm nay, chị Nguyễn Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày. Anh Phạm Văn P vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 21; Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, thông qua việc kiểm sát tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán đã tiến hành thu thập chứng cứ, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, tống đạt các quyết định tố tụng theo quy định tại các Điều 170, 171, 175, 177, 220 BLTTDS năm 2015. Từ khi thụ lý vụ án, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 BLTTDS như cung cấp chứng cứ. Bị đơn không có văn bản và tài liệu chứng cứ giao nộp cho Tòa án là chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 70, Điều 72 BLTTDS. Về nội dung vụ án, theo quy định tại Điều 51; Điều 56; Điều 71; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; có đủ căn cứ xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Phạm Văn P. Con chung đề nghị giao cháu Phạm Ngọc L, sinh ngày 24-3-2012 và cháu Phạm Bảo T1, sinh ngày 27-9-2016 cho chị Nguyễn Thị T nuôi dưỡng, chăm sóc. Anh P không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho chị T mà được quyền đi lại chăm sóc, thăm nom con. Tài sản chung, công nợ của chị T, anh P không đề nghị Toà án giải quyết nên không cần đề cập, giải quyết. Án phí chị T phải nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Phạm Văn P đã được Tòa án thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ 2 thông qua anh Phạm Văn K (là em trai của anh P) nhưng anh P vẫn vắng mặt. Chị Nguyễn Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt nên theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt chị T, anh P.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Phạm Văn P kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn vào ngày 13 tháng 5 năm 2011 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nam Định như vậy cuộc hôn nhân này là hợp pháp.

[3] Trong quá trình chung sống giữa chị Nguyễn Thị T và anh Phạm Văn P đã phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận nguyện vọng xin ly hôn của chị T để giải phóng cho hai bên là phù hợp với quy định tại Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4] Vợ chồng chị Nguyễn Thị T và anh Phạm Văn P có hai con chung cháu Phạm Ngọc L, sinh ngày 24-3-2012 và cháu Phạm Bảo T1, sinh ngày 27-9-2016. Hiện nay hai con chung đang do chị T nuôi dưỡng, chăm sóc tại xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định. Khi ly hôn, chị T có nguyện vọng xin được nuôi dưỡng, chăm sóc hai con chung, chị T không yêu cầu anh P đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con.

[5] Xét nguyện vọng của chị Nguyễn Thị T trong việc nuôi con chung thì thấy: Cháu Phạm Ngọc L và cháu Phạm Bảo T1 đang do chị T và gia đình chị nuôi dưỡng, chăm sóc từ khi anh P đi cư trú và làm việc tại Đài Loan cho đến nay, các cháu vẫn đang được ăn ở, cư trú ổn định, có môi trường sống tốt nhất để cho các cháu được phát triển lành mạnh cả về thể chất và tinh thần, anh P đang cư trú và lao động tại Đài Loan ở xa nhà không có điều kiện để chăm sóc các con chung. Xét thấy, các con chung của vợ chồng chị T, anh P hiện nay con nhỏ rất cần sự chăm sóc của người thân. Vì vậy, để đảm bảo sự phát triển mọi mặt của con chung nên cần tiếp tục giao cháu Phạm Ngọc L và cháu Phạm Bảo T1 cho chị T tiếp tục được nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 71, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

[6] Về cấp dưỡng tiền nuôi con: Trong quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Thị T không yêu cầu anh Phạm Văn P phải cấp dưỡng tiền nuôi con. Xét đề nghị của chị T là hoàn toàn tự nguyện. Do đó trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết.

[7] Về tài sản chung và công nợ: Chị Nguyễn Thị T trình bày chị không đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết, anh Phạm Văn P không có ý kiến gì về phần tài sản chung và công nợ của vợ chồng nên về phần tài sản chung và công nợ của vợ chồng chị T, anh P Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[8] Về án phí ly hôn sơ thẩm chị Nguyễn Thị T phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 71 ; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Phạm Văn P.

  1. Về nuôi con chung: Giao con chung cháu Phạm Ngọc L, sinh ngày 24-3-2012 và cháu Phạm Bảo T1, sinh ngày 27-9-2016 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành và có khả năng lao động tự lập được hoặc có tài sản để tự nuôi mình. Anh Phạm Văn P không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho chị T mà được quyền chăm sóc, thăm nom con nhưng không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị T phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ tại biên lai số 0005694 ngày 09-01-2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nam Định, chị Nguyễn Thị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ, anh Phạm Văn P được quyền kháng cáo trong hạn một tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nam Định;
  • - Cục THADS tỉnh Nam Định;
  • - UBND xã Hải Anh;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lại Văn Tùng

5

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Hương Trần Thị Minh N

Lại Văn T2

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/HNGĐ-ST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn, con chung giữa chị thuý và anh phong

  • Số bản án: 42/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, con chung giữa chị Thuý và anh Phong
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, con chung giữa chị T và anh P
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger