|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GIA NGHĨA TỈNH ĐẮK NÔNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 42/2024/DS-ST
Ngày 16-9-2024
Ngày: V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GIA NGHĨA, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Huế.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Thông
- Bà Đặng Thị Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hồng Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Cẩm Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 78/2024/TLST-DS ngày 05 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2024/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng N; địa chỉ: Số B, đường L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V, chức vụ: Tổng Giám đốc Ngân hàng N; địa chỉ: Số B, đường L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Công Q, chức vụ: Giám đốc Ngân hàng N - Chi nhánh tỉnh Đ; địa chỉ: Số C đường B, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông (Quyết định uỷ quyền số 2665/QĐ-NHNo ngày 01-12-2022).
Người đại diện theo ủy quyền của ông Phan Công Q: Ông Nguyễn Châu L, chức vụ: Trưởng phòng Khách hàng cá nhân Ngân hàng N - Chi nhánh tỉnh Đ; địa chỉ: Số C đường B, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông. Vắng mặt - Có đơn xin xét xử vắng mặt (Văn bản uỷ quyền số 1791/NHNo.Đno-KHCN ngày 16-5-2024).
2. Bị đơn: Ông Phạm Văn K, sinh năm: 1985.
Địa chỉ: Thôn B, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt - Có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 27/5/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Nguyễn Châu L trình bày:
Ngày 20-9-2024, ông Phạm Văn K có vay vốn tại Ngân hàng A1 - Chi nhánh tỉnh Đ (viết tắt: Ngân hàng A1) theo hợp đồng tín dụng số 5300-LAV-201808579, với số tiền vay 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng), mục đích vay để mua sắm vật dụng sinh hoạt, thời hạn vay là 60 tháng kể từ ngày ký hợp đồng, lãi suất tại thời điểm cho vay là 11,5%/năm có điều chỉnh, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, phân kỳ trả nợ gốc và lãi vào ngày 15 hằng tháng. Khoản vay trên không có tài sản bảo đảm. Trong quá trình vay vốn ông K không thực hiện đúng các nội dung đã thỏa thuận về trả nợ gốc và nợ lãi trong hợp đồng. Hiện tại khoản vay trên đã quá hạn chuyển nợ xấu, tính đến ngày 31-03-2024, ông K còn nợ Ngân hàng A1 số tiền là 52.380.940đ (Năm mươi hai triệu ba trăm tám mươi nghìn chín trăm bốn mươi đồng). Vì vậy, Ngân hàng N khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết: Buộc ông Phạm Văn K trả cho Ngân hàng số tiền 52.380.940 đồng (trong đó nợ gốc là 32.100.000 đồng; nợ lãi là 20.280.940 đồng). Buộc ông Phạm Văn K phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo hợp đồng cho đến khi trả xong khoản vay.
Ngày 26-8-2024, Ngân hàng N có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 13.024.979 đồng vì ông K đã trả 01 phần tiền gốc và lãi. Ngân hàng yêu cầu Toà án buộc ông K trả số tiền 41.949.804 đồng, trong đó nợ gốc là 19.500.000 đồng, nợ lãi là 22.445.804 đồng tính đến ngày xét xử sơ thẩm và tiếp tục tính lãi phát sinh theo quy định trong hợp đồng cho đến khi ông K trả xong nợ.
Bị đơn ông Phạm Văn K trình bày: Ông thừa nhận có vay vốn Ngân hàng A1 - Chi nhánh tỉnh Đ với số tiền 100.000.000 (Một trăm triệu đồng). Quá trình vay ông K đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với ngân hàng, tính đến ngày 31-3-2024, ông còn nợ ngân hàng số tiền gốc là 32.100.000 đồng và lãi suất. Do đó, ngân hàng khởi kiện ông K hoàn toàn đồng ý và sau khi ngân hàng khởi kiện thì đến ngày 15-8-2024, ông K đã trả số tiền là 13.024.979 đồng, trong đó trả gốc: 12.600.000 đồng và trả lãi 424.979 đồng. Số tiền gốc còn lại là 19.500.000 đồng. Do điều kiện hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên ông K mong ngân hàng tạo điều kiện cho ông K được trả dần.
Tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn ông Phạm Văn K có đơn xin xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật: Toà án cấp sơ thẩm thụ lý vụ án đúng quy định tại Điều 26, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Toà án xác định người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, cấp tống đạt văn bản tố tụng cho những người tham gia tố tụng, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Tại phiên toà sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã chấp hành đầy đủ đảm bảo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc vắng mặt nguyên đơn, bị đơn: Nguyên đơn, bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định tại khoản 2 Điều 227, điểm b khoản 2 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm g khoản 1 Điều 40, Điều 144, Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, điểm a, b khoản 1 Điều 238, khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 463, Điều 466 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự; Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N. Buộc bị đơn ông Phạm Văn K phải trả cho Ngân hàng N số tiền tính đến ngày 16-9-2024 là 41.766.741đ (Bốn mươi mốt triệu bảy trăm sáu mươi sáu nghìn bảy trăm bốn mươi mốt đồng), trong đó nợ gốc: 19.500.000đ (Mười chín triệu năm trăm nghìn đồng), nợ lãi 22.266.741đ (Hai mươi hai triệu hai trăm sáu mươi sáu nghìn bảy trăm bốn mươi mốt đồng). Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N về việc buộc bị đơn ông Phạm Văn K trả số tiền 13.024.979đ (Mười ba triệu không trăm hai mươi bốn nghìn chín trăm bảy mươi chín đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Vào ngày 20-9-2018, giữa Ngân hàng Agribank tỉnh A1 và ông Phạm Văn K ký kết hợp đồng tín dụng số 5300-LAV-201808579, về việc Ngân hàng cho ông K vay tiền với mục đích mua sắm vật dụng sinh hoạt. Quá trình thực hiện hợp đồng bị đơn không thực hiện đúng nghĩa vụ như cam kết nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết. Do đó, tranh chấp phát sinh từ hợp đồng nêu trên là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, nguyên đơn lựa chọn Toà án nơi thực hiện hợp đồng giải quyết vì vậy thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm g khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn, bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đại diện phía nguyên đơn và bị đơn là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 227, điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[3.1] Về hợp đồng tín dụng: Tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp và thu thập trong quá trình giải quyết vụ án thể hiện: Ngân hàng N cho ông Phạm Văn K vay theo Hợp đồng tín dụng số 5300-LAV-201808579 ngày 20-9-2018 với số tiền 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng) để sử dụng vào mục đích mua sắm vật dụng sinh hoạt với mức lãi suất, phương thức và thời hạn trả nợ như đại diện Ngân hàng A1 đã trình bày nêu trên. Quá trình thực hiện hợp đồng ông K đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi theo thoả thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết nên khoản nợ đã quá hạn và chuyển sang nợ xấu. Sau khi Ngân hàng A1 khởi kiện thì ông K đã trả cho Ngân hàng số tiền 13.024.979 đồng, trong đó trả tiền gốc là 12.600.000 đồng và trả lãi là 424.979 đồng. Tính đến ngày 16-9-2024, ông K còn nợ ngân hàng số tiền 41.766.741 đồng, trong đó nợ gốc: 19.500.000 đồng, nợ lãi 22.266.741 đồng.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Phạm Văn K thừa nhận có vay vốn của Ngân hàng A1 - Chi nhánh tỉnh Đ tại Hợp đồng tín dụng số: 5300-LAV-201808579 ký ngày 20/09/2018. Ngày 15-8-2024, ông K đã trả số tiền là 13.024.979 đồng, trong đó trả gốc: 12.600.000 đồng và trả lãi 424.979 đồng. Ông K cũng thừa nhận số tiền gốc còn nợ là 19.500.000 đồng và xin trả dần số tiền này.
Hội đồng xét xử xét thấy, tại thời điểm ký kết hợp đồng bị đơn có đầy đủ năng lực xác nhận về thời gian vay, phương thức thanh toán và lãi suất của hợp đồng vay tại Ngân hàng N chi nhánh Đ. Căn cứ khoản 1 Điều 91 Luật tổ chức tín dụng năm 2010 thì “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thoả thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Đến thời hạn thanh toán mà bên vay không trả nợ vay hoặc thanh toán không đầy đủ tiền lãi như đã thoả thuận thì bên vay còn phải trả lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả. Vì vậy Ngân hàng N yêu cầu ông Phạm Văn K phải thanh toán số tiền gốc và lãi của hợp đồng số 5300-LAV-201808579 ký ngày 20-09-2018, tính đến ngày 16-9-2024 tổng số tiền là 41.766.741 đồng, (trong đó nợ gốc: 19.500.000 đồng, nợ lãi 22.266.741 đồng). Đồng thời ông K còn phải trả thêm tiền lãi phát sinh từ ngày 17-9-2024 cho đến khi tất toán hết toàn bộ số tiền nợ gốc theo lãi suất quá hạn của hợp đồng 5300-LAV-201808579 ký ngày 20/09/2018 là có cơ sở chấp nhận.
[3.2] Nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 13.024.979 đồng. Xét việc rút yêu cầu của nguyên đơn là tự nguyện nên căn cứ khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đã rút.
[4] Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí là 2.088.337 đồng. Nguyên đơn được hoàn tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[6] Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm g khoản 1 Điều 40, Điều 144, Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, điểm a, b khoản 1 Điều 238, khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 357, Điều 463, Điều 466 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự; Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N. Buộc bị đơn ông Phạm Văn K phải trả cho Ngân hàng N số tiền tính đến ngày 16-9-2024 là 41.766.741đ (Bốn mươi mốt triệu bảy trăm sáu mươi sáu nghìn bảy trăm bốn mươi mốt đồng), trong đó nợ gốc: 19.500.000đ (Mười chín triệu năm trăm nghìn đồng), nợ lãi 22.266.741đ (Hai mươi hai triệu hai trăm sáu mươi sáu nghìn bảy trăm bốn mươi mốt đồng).
- Kể từ ngày 17-9-2024, ông Phạm Văn K phải chịu lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng số 5300-LAV-201808579 ngày 20-09-2018 mà ông K đã ký kết với Ngân hàng N chi nhánh Đ cho đến khi ông K thanh toán xong khoản nợ.
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N về việc buộc bị đơn ông Phạm Văn K trả số tiền 13.024.979đ (Mười ba triệu không trăm hai mươi bốn nghìn chín trăm bảy mươi chín đồng).
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Phạm Văn K phải chịu 2.088.337₫ (Bằng chữ: Hai triệu không trăm tám mươi tám nghìn ba trăm ba mươi bảy đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Hoàn trả cho Ngân hàng N 1.310.000₫ (Bằng chữ: Một triệu ba trăm mười nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí bà Trần Thị Thúy A đã nộp thay theo biên lai số 0007117 ngày 03-6-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Huế |
Bản án số 42/2024/DS-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GIA NGHĨA, TỈNH ĐẮK NÔNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 42/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GIA NGHĨA, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
