Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔ LƯƠNG

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 42/2024/ HNGĐ - ST

Ngày: 16/8/2024

"V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Đạt

Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Văn Hào

2. Bà Lê Thị Sử

Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hường – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Minh - Kiểm sát viên

Ngày 16 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 121/2024/TLST-HNGĐ ngày 16/5/2024 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2024/TLST-HNGĐ ngày 16/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2024/QĐ-HPT ngày 30/7/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị H – Sinh năm 1986

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xóm V, xã N, huyện Đ

Nơi cư trú: Xóm Văn T, xã H, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Có mặt

- Bị đơn: Anh Võ Hữu N – Sinh năm 1989

Nơi cư trú: Xóm V, xã N, huyện Đ, tỉnh Nghệ An . Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 16/5/2024 Chị Phạm Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H và Anh Võ Hữu N kết hôn vào ngày 25/02/2010, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N. Hôn nhân dựa trên cơ sở tự nguyện có tìm hiểu. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 5 năm 2023 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và từ tháng 11 năm 2023 đến nay vợ chồng sống ly thân. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, anh N thường xuyên uống rượu mà có hành vi bạo hành đối với chị H

- Về quan hệ con chung: Vợ chồng chị H, anh N có hai con chung là cháu Võ Thị T1 sinh ngày 27/12/2010 và cháu Võ Hữu N1, sinh ngày 23/10/2015. Nay vợ chồng ly hôn nguyện vọng của chị H là muốn được trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục cháu Võ Thị T1 còn giao cháu Võ Hữu N1 cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

- Về quan hệ tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Phạm Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngày 17/6/2024 tại biên bản hòa giải chị Phạm Thị H Trình bày:

Về tình cảm: nguyện vọng được ly hôn được ly hôn anh Võ Hữu N

Về quan hệ con chung: nguyện vọng được giao 02 con chung cháu Võ Thị T1, sinh ngày 27/12/2010 và cháu Võ Hữu N1, sinh ngày 23/10/2015 cho anh Võ Hữu N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng

Về quan hệ tài sản và nghĩa vụ tài sản chung: chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết

Ngày 20/6/2024 chị Phạm Thị H có đơn yêu cầu thay đổi thỏa thuận của vợ chồng, giữ nguyên yêu cầu khởi kiện ban đầu là được trực tiếp được nuôi dưỡng cháu Võ Thị T1, sinh ngày 27/10/2010 và giao cháu Võ Hữu N1, sinh ngày 23/10/2015 cho anh Võ Hữu N nuôi dưỡng, lý do chị N đưa ra là do cháu Võ Thị T1 nguyện vọng được ở với mẹ, chị H mong muốn được chăm sóc cháu T1

Tại biên bản lấy lời khai ngày 17/6/2024, tại biên bản hòa giải ngày 17/6/2024 bị đơn Anh Võ Hữu N trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Võ Hữu N đồng ý với lời trình bày của chị Phạm Thị H về thời gian và điều kiện kết hôn cũng như nguyên nhân mâu thuẫn. Tuy nhiên anh N vẫn muốn vợ chồng đoàn tụ để nuôi dạy con cái, tuy nhiên do chị H kiên quyết ly hôn nên anh N đồng ý ly hôn.

- Về quan hệ con chung: Vợ chồng chị H anh N có hai con chung là cháu Võ Thị T1, sinh ngày 27/12/2010 và cháu Võ Hữu N1, sinh ngày 23/10/2015. Nay ly hôn anh N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cả hai con chung và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về quan hệ tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Anh Võ Hữu N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 25/6/2024 đối với cháu Võ Hữu N1 và Võ Thị T1: Cháu Võ Hữu N1 trình bày nguyện vọng của cháu là được ở với bố nếu bố mẹ ly hôn; cháu Võ Thị T1 trình bày nguyện vọng của cháu là muốn được ở với mẹ nếu bố mẹ ly hôn.

Tại biên bản xác minh ngày 04 tháng 7 năm 2024 Ủy ban nhân dân xã N cho biết: Chính quyền địa phương được biết chị Phạm Thị H đang yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Võ Hữu N nhưng nguyên nhân mâu thuẫn cụ thể giữa hai vợ chồng địa phương không nắm được. Chị H hiện tại đang làm công nhân may, anh N là thợ hồ. Hiện tại hai con chung của chị H anh N đang sống cùng anh N ở xóm V, xã N.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương phát biểu ý kiến theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự như sau:

- Về tố tụng: Thẩm phán đã tuân thủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong việc thụ lý vụ án, thông báo thụ lý vụ án, xác minh và thu thập chứng cứ, tổ chức hòa giải cũng như thời hạn giải quyết vụ án.

Hội đồng xét xử tuân thủ đúng quy định về thành phần, nguyên tắc xét xử, trình tự tố tụng tại phiên tòa.

Thư ký Tòa án thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn và bị đơn chấp hành nghiêm chỉnh quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Sau khi phân tích các tình tiết của vụ án và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Phạm Thị H và anh Võ Hữu N

Về con chung: Giao con chung là cháu Võ Thị T1, sinh ngày 27/12/2010 cho chị Phạm Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục; giao cháu Võ Hữu N1 cho anh Võ Hữu N trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

Về quan hệ tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết

Chị Phạm Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

Các đương sự có quyền kháng cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng:

Đây là vụ án hôn nhân gia đình do Chị Phạm Thị H yêu cầu, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay của anh Võ Hữu N tại xóm V, xã N, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.

Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cũng như phiên tòa nhưng bị đơn không có mặt; nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 227; Bộ luật tố tụng Dân sự.

[2]. Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H và Anh Võ Hữu N kết hôn vào ngày 25/02/2010, có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân dựa trên cơ sở tự nguyện có tìm hiểu. Đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn vợ chồng sống ly thân từ tháng 11/2023 đến nay. Cả anh N và chị H đều thống nhất nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, anh N thường xuyên chửi bới, đánh đập chị H. Nay cả chị H và anh N xét thấy tình cảm không còn nên thống nhất ly hôn. Xét thấy việc thỏa thuận thuận tình ly hôn của chị H và anh N hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, nên công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Phạm Thị H và anh Võ Hữu N

Về quan hệ con chung: Chị Phạm Thị H và Anh Võ Hữu N có hai con chung là cháu Võ Thị T1 sinh ngày 27/12/2010 và cháu Võ Hữu N1 sinh ngày 23/10/2015. Nay vợ chồng ly hôn anh N có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cả hai con chung, không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con; chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu Võ Thị T1 còn giao cháu Võ Hữu N1 cho anh N nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy nguyện vọng nuôi con của chị H và anh N là chính đáng. Tuy nhiên tại biên bản lấy lời khai đối với cháu Võ Thị T1 và cháu Võ Hữu N1 thể hiện: Cháu T1 muốn được ở với mẹ, cháu N1 muốn được ở với bố nếu bố mẹ các cháu phải ly hôn. Xét đây là nguyện vọng chính đang của hai cháu nên cần được chấp nhận. Mặt khác cháu Võ Thị T1 là nữ, đang trong quá trình hoàn thiện về tâm sinh lý nên cần sự hỗ trợ của người mẹ trong quá trình phát triển, chị H hiện đang làm công nhân thu nhập trung bình 5000.000₫ (năm triệu đồng)/tháng, đảm bảo nuôi dưỡng được cháu T1. Chính vì vậy cần giao cháu Võ Thị T1 cho chị Phạm Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục; Đối với cháu Võ Hữu N1 nguyện vọng được ở với anh Võ Hữu N, anh N làm nông nghiệp, ngoài ra còn làm thợ hồ, thu nhập trung bình 5000.000đ (năm triệu đồng)/tháng, đảm bảo cho việc nuôi nuôi dưỡng cháu N1, nên giao cháu Võ H1 cho anh Võ Hữu N nuôi dưỡng giáo dục là phù hợp. Anh Võ Hữu N và chị Phạm Thị H không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

Về quan hệ tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Phạm Thị H và Anh Võ Hữu N đều thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử miễn xét.

[3]. Về án phí: Do các bên đương sự đã thống nhất thuận tình ly hôn, nhưng không thống nhất được về con chung nên phải chịu 50% án phí quy định, chị Phạm Thị H tự nguyện chịu 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương theo biên lai số 0009498 ngày 16/5/2024. Trả lại cho chị Phạm Thị H số tiền 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm b Khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý sử dụng án phí lệ phí Tòa án; Điều 11 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân tối cao về hưỡng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình

  1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Phạm Thị H và anh Võ Hữu N
  2. Về con chung: Giao cháu Võ Thị T1, sinh ngày 27/12/2010 cho chị Phạm Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu Võ Thị T1 thành niên đủ 18 tuổi; giao cháu Võ Hữu Ngọc s, ngày 23/10/2015 cho anh Võ Hữu N trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu Võ Hữu N1 thành niên đủ 18 tuổi. Anh Võ Hữu N và chị Phạm Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
  3. Chị Phạm Thị H, anh Võ Hữu N có quyền đi lại thăm nom chăm sóc con chung mà không ai có quyền ngăn cấm, cản trở. Chị Phạm Thị H, anh Võ Hữu N không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
  4. Vì lợi ích của con chung các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
  5. "Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự".
  6. Về quan hệ tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Miễn xét.
  7. Về án phí: Buộc chị Phạm Thị H chịu 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương theo biên lai số 0009498 ngày 16/5/2024. Trả lại cho chị Phạm Thị H số tiền 150.000₫ (một trăm năm mươi nghìn).
  8. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Đạt

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND H.Đô Lương;
  • - Chi cục T.H.A dân sự H. Đô Lương;
  • - UBND xã Thượng Sơn, H. Đô Lương;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/ HNGĐ - ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 42/2024/ HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xét xử cho nguyên đơn được ly hôn bị đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger