Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK HÀ

TỈNH KON TUM

Bản án số: 42/2024/HS-ST.

Ngày: 16/8/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ -TỈNH KON TUM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quý Nhân
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Giang và ông Vũ Minh Tuấn.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Thanh Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum tham gia phiên tòa: Ông Võ Quang Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 31/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2024:

Bị cáo: Nguyễn Ngọc T; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 01/11/1990 tại tỉnh Quảng Nam. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn A, xã D, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Chỗ ở hiện tại: Tổ dân phố E, thị trấn P, huyện N, tỉnh Kon Tum. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ: Không. Con ông Nguyễn Ngọc L; Sinh năm: 1951 và bà Đặng Thị X; Sinh năm: 1952. Bị cáo có vợ tên là Trần Thị N; Sinh năm: 1995 (Đã ly hôn). Bị cáo có hai con, con lớn sinh năm 2016; con nhỏ sinh năm 2021. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/5/2024 đến nay (Có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Công ty Cổ phần D. Trụ sở: 405/15 X, phường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo pháp luật: ông Lương Duy H. Chức vụ: Tổng giám đốc

Đại diện theo ủy quyền: ông Trần Đức H1. Chức vụ: Trưởng Bưu cục. Địa chỉ: Tổ dân phố D, thị trấn Đ, huyện Đ, Kon Tum. (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1951; Địa chỉ: Tổ dân phố E, thị trấn P, huyện N, tỉnh Kon Tum. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Công ty Cổ phần D hàng nhanh được Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố H cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 0311907295 ngày 02/8/2012 có trụ sở chính tại số D X, Phường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại huyện Đ, Công ty đăng ký mở “Địa điểm kinh doanh số 01” (thường gọi là Bưu cục Đ) thuộc Chi nhánh K địa chỉ tại số B H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum được Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh K cấp giấy chứng nhận đăng ký địa điểm kinh doanh số 00001 ngày 29/11/2017 hoạt động trong lĩnh vực giao hàng.

Ngày 10/11/2022, Công ty Cổ phần D ký hợp đồng dịch vụ số 3042438/HĐDV/EXP/2022 với Nguyễn Ngọc T làm nhân viên phát triển thị trường (nhân viên giao hàng) khu vực huyện Đ, tỉnh Kon Tum với nhiệm vụ giao hàng, nhận tiền thu hộ từ khách hàng và chịu sự quản lý của Bưu cục Đ. Công ty chưa đăng ký địa điểm kinh doanh tại huyện Đ, tỉnh Kon Tum nên các đơn hàng khu vực huyện Đ được nhân viên xử lý tại Bưu cục Đ phân loại chuyển xe chở đến nhà chị Nguyễn Thị Thanh H2 (sinh năm 1993; là nhân viên giao hàng của Công ty tại khu vực huyện Đ) tại khối F, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Theo quy định, vào mỗi buổi sáng T đến nhà chị H2 soạn những đơn hàng được Bưu cục Đ chuyển đến theo tuyến được phân công với thông tin người nhận đã được cập nhật chi tiết trên ứng dụng giao hàng của Công ty (App m-PDS) được cài đặt trên điện thoại di động cá nhân của T rồi mang đi giao cho khách hàng. Các đơn hàng giao thành công (khách hàng đã nhận) hoặc giao thất bại (khách không nghe máy, từ chối nhận hàng hoặc thay đổi thời gian nhận hàng ...) T đều phải cập nhật lên App để nhân viên xử lý tại Bưu cục Đ tổng hợp tạo phiếu thu đối với những đơn hàng giao thành công chuyển lên A, căn cứ số tiền trên phiếu thu T có trách nhiệm chuyển số tiền đã thu hộ từ khách hàng vào tài khoản của Công ty chậm nhất là trước 10:00 ngày hôm sau. Đối với những đơn hàng giao thất bại T được giữ lại để ngày hôm sau tiếp tục thực hiện việc giao hàng cho khách, khi hết thời hạn những đơn hàng giao thất bại phải gửi lại cho Bưu cục Đ để xử lý. Sau khi ký hợp đồng, T được phân công giao các đơn hàng tại địa bàn xã Đ, xã N và thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Sau một thời gian làm việc, lợi dụng kẽ hở trong việc quản lý cập nhật tình trạng đơn hàng trên App giao hàng T nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền thu hộ từ khách hàng của Công ty. Trong các ngày 16, 19, 21, 26/11/2022, sau khi giao thành công nhiều đơn hàng cho khách hàng, T cập nhật lên App giao thất bại đối với 30 (Ba mươi) đơn hàng (gồm các mã đơn hàng có ký hiệu: VN2290843748668, GAH7HU7V, GAHLF6R3, GAHCDAER, GAHUQU77, GAHUWWBU, GAHUYVTF, GAHVXXDN, GAH9PPRH, GAHVCFMY, NVS207736953, GAH946RA, GAHC668X, GAHCAY4A, GAHDEQUV, GAHPN4TH, GAHBQGHA, GAHPTBNY, GAHB4CRQ, GAHDUDKC, GAHDKL3K, GAHP487A, GAHN96GB, GAHNNHGA, GAHPU3DH, GAHNENKW, GAHDUT3W, NVS208191180, GAHPQU89, VN222718776713Y với giá trị lần lượt là: 35.400 đồng; 349.000 đồng; 380.000 đồng; 280.000 đồng; 549.000 đồng; 184.000 đồng; 350.000 đồng; 319.500 đồng; 300.000 đồng; 525.000 đồng; 369.000 đồng; 330.000 đồng; 450.000 đồng; 680.000 đồng; 240.000 đồng; 280.000 đồng; 400.000 đồng; 250.000 đồng; 355.000 đồng; 353.720 đồng; 250.000 đồng; 629.000 đồng; 304.000 đồng; 670.500 đồng; 179.500 đồng; 428.000 đồng; 182.999 đồng; 1.200.000 đồng; 54.500 đồng; 249.500 đồng ); chiếm đoạt tổng số tiền của 30 (Ba mươi) đơn hàng là 11.027.619 đồng (Mười một triệu không trăm hai mươi bảy ngàn sáu trăm mười chín đồng) tiêu xài cá nhân mà không nộp về cho Công ty. Ngày 28/11/2022, Công ty phát hiện hành vi chiếm đoạt tài sản và yêu cầu T trả lại số tiền 11.027.619 đồng (Mười một triệu không trăm hai mươi bảy ngàn sáu trăm mười chín đồng); T hứa 01 (Một) tháng sau sẽ trả lại số tiền đã chiếm đoạt cho Công ty. Đến tháng 12/2022, khi chưa trả số tiền trên thì T tự ý nghỉ việc, bỏ đến xã H, thị xã C, tỉnh Gia Lai làm thuê. Sau nhiều lần Công ty liên hệ yêu cầu T hoàn trả số tiền đã chiếm đoạt nhưng không liên lạc được.

Ngày 30/6/2023, Công ty Cổ phần D uỷ quyền cho anh Lê H3 (sinh năm 1985; là Quản lý khu vực của Công ty cổ phần D Chi nhánh K) làm đơn tố cáo hành vi chiếm đoạt tài sản của Nguyễn Ngọc T đến Công an huyện Đ.

* Vật chứng của vụ án:

  • - Số tiền 11.027.619 đồng (Mười một triệu không trăm hai mươi bảy ngàn sáu trăm mười chín đồng) là tiền thu hộ Nguyễn Ngọc T chiếm đoạt của Công ty Cổ phần D, bị cáo T đã tiêu xài và sử dụng hết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu hồi được.
  • - Đối với điện thoại di động cá nhân có cài ứng dụng giao hàng App m-PDS bị cáo T sử dụng thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo T khai nhận đã bán điện thoại này cho một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch trong thời gian làm thuê tại xã H, thị xã C, tỉnh Gia Lai nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không đủ căn cứ truy tìm, thu giữ.

Tại bản cáo trạng số: 31/CT-VKSĐH ngày 25/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum, đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc T về tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 353 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng, truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc T về tội “Tham ô tài sản”. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 353; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Khoản 3 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T từ 15 đến 18 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giam bị cáo là ngày 20/5/2024.

Về xử lý vật chứng: Không đề cập.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu đền bù dân sự gì thêm nên không đề cập.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận hành vi của mình và không có ý kiến gì tranh luận đối với đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của bị hai vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy, người tham gia tố tụng trên vắng mặt đã có đầy đủ lời khai của họ trong hồ sơ vụ án. Căn cứ vào khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
  3. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay, lời khai của bị cáo Nguyễn Ngọc T phù hợp với lời khai của bị cáo trước đó tại cơ quan điều tra và các chứng cứ tài liệu khác thu thập được trong quá trình điều tra có tại hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Lợi dụng nhiệm vụ được giao trong việc quản lý số tiền thu hộ từ khách hàng đối với những đơn hàng giao thành công; trong các ngày 16, 19, 21, 26/11/2022, sau khi giao thành công nhiều đơn hàng, Nguyễn Ngọc T cập nhật lên App giao hàng của Công ty G được cài đặt trên điện thoại di động cá nhân của T với thông tin giao thất bại đối với 30 (Ba mươi) đơn hàng để chiếm đoạt số tiền 11.027.619 đồng (Mười một triệu không trăm hai mươi bảy ngàn sáu trăm mười chín đồng) của Công ty tiêu xài cá nhân mà không nộp về cho Công ty, trong đó các đơn hàng đều dưới 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 353 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
  4. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi lợi dụng nhiệm vụ được giao để chiếm đoạt tài sản của Công ty của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của doanh nghiệp được pháp luật bảo vệ. Do đó, cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
  5. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
    1. Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Ngọc T có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
    2. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo tác động gia đình khắc phục toàn bộ số tiền chiếm đoạt cho Công ty; Công ty có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng quy định tại Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
    3. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
  6. Về đánh giá, xử lý vật chứng của vụ án:

    Đối với số tiền bị cáo đã chiếm đoạt thì bị cáo đã tiêu xài hết nên không xem xét xử lý. Đối với điện thoại di động cá nhân có cài ứng dụng giao hàng App m-PDS bị cáo T sử dụng thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo T khai nhận đã bán điện thoại này cho một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch trong thời gian làm thuê tại xã H, thị xã C, tỉnh Gia Lai, Cơ quan Cảnh sát điều tra không đủ căn cứ truy tìm, thu giữ nên Hội đồng xét xử không xem xét.

  7. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo tác động bố ruột là ông Nguyễn Ngọc L bồi thường số tiền 11.027.619 đồng (Mười một triệu không trăm hai mươi bảy ngàn sáu trăm mười chín đồng) cho Công ty Cổ phần D. Ông Nguyễn Ngọc L không yêu cầu bị cáo T phải trả lại số tiền này. Công ty cũng không yêu cầu gì về dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu thêm về dân sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
  8. Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  9. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Tham ô tài sản”.

Về hình phạt: Áp dụng Khoản 1 Điều 353; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Khoản 3 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam bị cáo ngày 20/5/2024.

Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 21; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331; 332; 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

“Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂNTHẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao;
  • - TAND cấp cao tại TP Đà Nẵng;
  • - TAND tỉnh Kon Tum;
  • - VKSND huyện Đắk Hà;
  • - Cơ quan điều tra Công an huyện Đắk Hà;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Quý Nhân

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂNTHẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ - TỈNH KON TUM về tham ô tài sản (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 42/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ - TỈNH KON TUM
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tham ô shipper
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger