|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 42/2024/HS-ST
Ngày 16/5/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Lê Ngọc Công |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Nguyễn Văn Sâm |
| Ông Lê Đăng Thiện | |
| Thư ký phiên tòa: | Ông Lê Văn Hân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân. |
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Tân - Kiểm sát viên
Ngày 16 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 39/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số : 44/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024;
Đối với bị cáo: Lương Thị L, sinh ngày 24/5/1996 tại: Xã L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn G, xã D, huyện T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lương Văn L1; con bà Lương Thị L2; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là thứ hai; có chồng là Trương Văn D, sinh năm 1992; có 02, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2016. Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/01/2024 đến nay. Có mặt.
- Người làm chứng:
- Bà Trịnh Thị H, sinh năm 1967, địa chỉ: Khu A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
- Chị Quách Thị Hà T, sinh năm 1997, địa chỉ: Phố T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
- Anh Hoàng Huy D1, sinh năm 1984, địa chỉ: Khu D, thị trấn S, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
- Bà Dương Thị T1, sinh năm 1965, địa chỉ: Thôn A, xã D, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
- Bà Trịnh Thị Đ, sinh năm 1952, địa chỉ: Phố T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
- Anh Trương Văn D, sinh năm 1992, địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
- Anh Trương Thế A, sinh năm 1974, hiện đang chấp hành án phạt tù tại: P, Trại giam T3, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 16 giờ 30 ngày 18/01/2024, tại khu phố A, thị trấn S, T, tổ công tác Công an thị trấn S phát hiện, bắt quả tang và thu giữ 04 gói giấy màu trắng trong túi quần bên phải của Lương Thị L, bên trong các gói giấy chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn, niêm phong trong phong bì ký hiệu M1 và 02 gói giấy màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn, trong balo L đeo trên người, niêm phong trong phong bì ký hiệu M2. Lương Thị L khai nhận, chất bột bên trong 06 gói giấy là ma túy (loại Heroin), mục đích mang theo người để bán cho Hoàng Huy D1 (sinh năm 1984 trú tại khu phố D, thị trấn S, huyện T, Thanh Hóa) và những người có nhu cầu. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ chất ma túy. Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ của L số tiền 1.680.000đ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12Pro max, bên trong lắp sim số 0345.601.081; 01 xe máy nhãn hiệu Honda Vision, màu xanh đen, biển kiểm soát 36B8-761.86; 01 balo màu nâu đen; 01 thẻ ATM Ngân hàng S tên Lương Thị L và chuyển toàn bộ hồ sơ, tang vật, người bị bắt đến Cơ quan CSĐT Công an huyện T để giải quyết theo thẩm quyền.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lương Thị L tại thôn G, xã D, huyện T, Thanh Hóa, CQĐT phát hiện thu giữ tại bàn trang điểm trong phòng ngủ của L gồm 01 dao lam màu trắng và 02 mảnh giấy màu trắng, L khai nhận đó là những đồ vật L sử dụng để phân chia ma túy và đóng gói để bán.
Về nguồn gốc số ma túy, L khai nhận mua của Quách Thị Hà T (sinh năm 1997 trú tại khu phố T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa) 02 túi ma túy (loại Heroine) với giá 4.000.000đ vào khoảng 18 giờ ngày 13/01/2024 tại nhà T. Tại đây, L đã trả cho T số tiền 2.500.000 đồng, còn lại 1.500.000 đồng đến ngày 14/01/2024, L sử dụng tài khoản ngân hàng S số [...] tên Lương Thị L chuyển vào tài khoản ngân hàng M số 1512197488888 tên Trương Thế A (chồng của T) trả tiền mua ma túy cho T. Sau khi mua được ma túy, L mang về nhà ở thôn G, xã D, huyện T cất giấu. Tuy nhiên, T không thừa nhận việc bán ma túy cho L vào ngày 13/01/2024. Số tiền 1.500.000 đồng chuyển vào tài khoản MB số 1512197488888 tên Trương Thế A, T khai là tiền L trả nợ mua mỹ phẩm.
Tiến hành khám xét khẩn cấp người, chỗ ở đối với Quách Thị Hà T, Cơ quan điều tra phát hiện, thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh, không gắn thẻ sim; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13pro max màu xanh, gắn sim số 0375713505; 01 thẻ Ngân hàng MB số 1512197488888 mang tên Trương Thế A.
Ngày 19/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 164/QĐ-ĐCSMT, trưng cầu phòng PC09- Công an tỉnh T giám định chất ma túy.
Tại Kết luận giám định số: 378/KL-KTHS ngày 25/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận:
- Chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn của phong bì niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,345g loại: Heroine.
- Chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn của phong bì niêm phong ký hiệu M2 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,173g loại: Heroine.
Tại Cơ quan điều tra, Lương Thị L và Hoàng Huy D1 khai nhận: Sau khi mua được ma túy của T, L đem về nhà dùng dao lam chia nhỏ thành 06 gói để bán dần cho những người có nhu cầu. Đến khoảng 14 giờ 00 phút ngày 18/01/2024, Hoàng Huy D1 sử dụng số điện thoại 0358.437.xxx gọi điện thoại vào số 0345.601.xxx của L hỏi mua ma túy (loại H1) với số tiền là 2.000.000đ. Lúc này, L đang làm việc tại công ty G, sẵn có số ma túy mua được trước đó và đang mang theo bên người nhằm mục đích bán cho người khác kiếm lời, L đồng ý và hẹn hết giờ làm việc ở công ty G (địa chỉ xã T, huyện T, Thanh Hóa) sẽ đến vòng xuyến đường vào Cảng hàng không T (thuộc khu phố A, thị trấn S, T, Thanh Hóa) bán ma túy cho D1. Khoảng 16 giờ 20 phút cùng ngày, L điều khiển xe máy Honda Vision BKS 36B8-761.86 đến vòng xuyến, đường vào Cảng hàng không T để bán ma túy cho D1. Trong lúc đang đứng đợi D1 đến để bán ma túy, L chưa kịp phân chia ma túy để bán cho D1 thì bị Công an thị trấn S kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ số ma túy.
Vật chứng vụ án:
- Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của 02 phong bì; 0,317g chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn của phong bì ký hiệu M1 và 0,159g chất bột màu trắng ngà, dạng cục vụn của phong bì ký hiệu M2. Tất cả được đựng trong một phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh T2, Lưu Bình N, Lương Xuân N1 và các hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T.
- 01 phong bì niêm phong ký hiệu G, bên trong đựng 02 mảnh giấy màu trắng, 01 dao lam màu trắng.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu 12 Promax lắp sim số 0345.601.081.
- 01 thẻ ATM Ngân hàng S mang tên LUONG THI LAN.
- 01 Balo màu nâu đen, đã qua sử dụng.
- số tiền 1.680.000đ;
Hiện đang được quản lý theo quy định của pháp luật.
Tại bản cáo trạng số 46/CT-VKSTX ngày 25/4/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân đã truy tố: Bị cáo Lương Thị L về tội “mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng đã nêu và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lương Thị L phạm tội “mua bán trái phép chất ma túy”;
Về hình phạt đề nghị:
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Lương Thị L từ 24 (hai mươi bốn) tháng tù đến 27(hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/01/2024.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý vật chứng như sau:
Tịch thu, tiêu hủy:
- Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của 02 phong bì; 0,317g chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn của phong bì ký hiệu M1 và 0,159g chất bột màu trắng ngà, dạng cục vụn của phong bì ký hiệu M2.
- 01 phong bì niêm phong ký hiệu G, bên trong đựng 02 mảnh giấy màu trắng, 01 dao lam màu trắng.
- 01 thẻ ATM Ngân hàng S mang tên LUONG THI LAN.
- 01 Balo màu nâu đen, đã qua sử dụng.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước:
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax lắp sim số 0345.601.081.
Trả lại: Số tiền 1.680.000đ cho bị cáo.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chị án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; lời khai của người làm chứng; Kết luận giám định, vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 18/01/2024, tại khu phố A, thị trấn S, huyện T, Thanh Hóa, Lương Thị L đã có hành vi cất giấu 0,518g ma túy, loại Heroine nhằm mục đích bán cho Hoàng Huy D1 và những người khác để kiếm lời. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm đối với hành vi đã gây ra.
Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ cấu thành tội “mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Đây là vụ án có tính chất nghiêm trọng.
[4] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, cần thiết xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo, sớm trở thành công dân có ích cho xã hội.
Từ những nhận xét, đánh giá trên, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tội phạm ma túy đang có diễn biễn phức tạp và chiều hướng gia tăng. Ma túy đã gây tác hại to lớn đối với con người và cộng đồng, là nguyên nhân làm mất trật tự, an toàn xã hội, là nguồn gốc phát sinh các tệ nạn xã hội, gia tăng các loại tội phạm khác. Vì vậy, hình phạt đối với tội phạm về ma túy cần phải nghiêm khắc, mới đáp ứng được yêu cầu đấu tranh, phòng chống loại tội phạm này. Xét tội phạm mà bị cáo đã thực hiện là nghiêm trọng, cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
[5] Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét bị cáo là lao động tự do, không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng của vụ án:
- Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của 02 phong bì; 0,317g chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn của phong bì ký hiệu M1 và 0,159g chất bột màu trắng ngà, dạng cục vụn của phong bì ký hiệu M2; 01 phong bì niêm phong ký hiệu G, bên trong đựng 02 mảnh giấy màu trắng, 01 dao lam màu trắng; 01 thẻ ATM Ngân hàng S mang tên LUONG THI LAN; 01 Balo màu nâu đen, đã qua sử dụng. Đây xác định là công cụ phạm tội hoặc đồ vật có liên quan đến vụ án, vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, hiện không còn giá trị nên cần tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax lắp sim số 0345.601.081 là công cụ phạm tội có liên quan đến vụ án, đang còn giá trị nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- Đối với số tiền 1.680.000 đ là tiền cá nhân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo là phù hợp.
Toàn bộ số tang vật trên hiện đang được quản lý tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân theo đúng quy định của pháp luật.
[7] Về các tình tiết liên quan đến vụ án:
Đối với số thuê bao 0345.601.081 là của Trương Văn D (chồng của Lương Thị L). Ngày 15/05/2023, sau khi bị Công an huyện Đ bắt về tội Mua bán trái phép chất ma túy, số thuê bao 0345.601.081 D để cho L sử dụng. Đối với chiếc xe máy Honda Vision BKS 36B8-761.88, đây là tài sản cá nhân của Trương Văn D mua vào ngày 01/4/2022 (trước thời điểm kết hôn với Lương Thị L ngày 10/11/2022). Ngày 18/01/2024, L sử dụng chiếc xe trên làm phương tiện đi bán ma túy, thời điểm này D đang chấp hành án tại Trại giam T4. Việc L dùng số điện thoại 0345.601.xxx và xe máy BKS 36B8-761.88 để thực hiện hành vi phạm tội D không biết nên không có căn cứ để xử lý đối với Trương Văn D. Cơ quan điều tra đã trả lại xe máy Honda Vision BKS 36B8-761.88 cho bà Dương Thị T1 (mẹ đẻ Trương Văn D) là phù hợp.
Đối với Hoàng Huy D1: Vào ngày 18/01/2024, D1 mới liên lạc qua điện thoại để hỏi mua ma túy của L với số tiền 2.000.000đ, L đồng ý nhưng chưa thống nhất về số lượng ma túy trong số ma túy mang theo, L chưa phân chia cụ thể số lượng ma túy để bán cho D1, chưa nhận tiền và chưa giao ma túy cho D1. Vì vậy, không đủ căn cứ để xử lý đối với Hoàng Huy D1 về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Đối với bà Dương Thị T1 (sinh năm 1965 trú tại thôn G, xã D, huyện T là mẹ chồng, hiện sống cùng nhà với Lương Thị L). Việc L mua ma túy về nhà cất giấu, phân chia để bán cho người khác kiếm lời, bà T1 không biết. nên không có căn cứ để xử lý đối với bà T1.
Đối với Quách Thị Hà T, Cơ quan điều tra đã tiến hành các biện pháp điều tra nhưng không đủ căn cứ để chứng minh về hành vi bán trái phép chất ma túy của Quách Thị Hà T.
Đối với 01 điện thoại Iphone 13 Promax màu xanh, bên trong gắn sim số 0375.713.505; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A9X màn hình cảm ứng màu xanh; 01 thẻ ATM Ngân hàng M1 tên Trương Thế A; 01 điện thoại di động nhãn hiệu ZONO màu đen, bên trong lắp sim số 0358.437.035 xác định không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp.
[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1. Tuyên bố: Bị cáo Lương Thị L phạm tội “mua bán trái phép chất ma túy”;
- Xử phạt bị cáo Lương Thị L 25 (hai mươi lăm) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/01/2024.
2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu, tiêu hủy:
- Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của 02 phong bì; 0,317g chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn của phong bì ký hiệu M1 và 0,159g chất bột màu trắng ngà, dạng cục vụn của phong bì ký hiệu M2. Tất cả được đựng trong một phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh T2, Lưu Bình N, Lương Xuân N1 và các hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T.
- 01 phong bì niêm phong ký hiệu G, bên trong đựng 02 mảnh giấy màu trắng, 01 dao lam màu trắng.
- 01 thẻ ATM Ngân hàng S mang tên LUONG THI LAN.
- 01 Balo màu nâu đen, đã qua sử dụng.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước:
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu 12 Promax lắp sim số 0345.601.081, số IMEI 1: 356713112852023, số IMEI 2: 356713113054835.
Trả lại: Số tiền 1.680.000đ (một triệu sáu trăm tám mươi nghìn đồng) cho bị cáo Lương Thị L.
Toàn bộ vật chứng hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân, theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 63 ngày 09/5/2024.
4. Về án phí: Bị cáo Lương Thị L phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Ngọc Công |
Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 16/05/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa về hình sự sơ thẩm (mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 42/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: fhf
