Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÀU BÀNG

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 42/2024/HS-ST

Ngày: 16-5-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Duy.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Độ;

Ông Nguyễn Long Giang;

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng tham gia phiên tòa: Ông Võ Thành Lộc - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 14/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2024/QĐXXST–HS ngày 22 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2024/HSST-QĐ ngày 19 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Hữu H, sinh năm 1984 tại Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số G, tổ B, ấp B, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương; trình độ văn hóa: 8/12; nghề nghiệp: lái xe; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Thanh V (đã chết) và bà Trần Thị Tuyết N; có vợ Trần Thị Kim T và 01 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại; có mặt.

Bị hại: Ông Trần Tuấn L, sinh năm 1981; địa chỉ: tổ A, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang; có mặt.

Bị đơn dân sự: Công ty Cổ phần K; địa chỉ: số B, lô I, đường Đ, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp: Ông Lưu Văn T1, sinh năm 1978; địa chỉ: số D, tổ A, ấp P, thị trấn C, huyện P, tỉnh An Giang – là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền số 28/KDPT-XD ngày 18/9/2023); có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Tổng công ty cổ phần B; địa chỉ: số B, đường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Hữu H là tài xế lái xe cho Công ty cổ phần K. Trần Hữu H có giấy phép lái xe hạng C, mang tên Trần Hữu H, số [...] cấp ngày 09/6/2022 của Sở giao thông vận tải tỉnh B có giá trị đến ngày 09/6/2027. Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 11/3/2023, Trần Hữu H điều khiển xe ô tô tải biển số 61C-446.50 lưu thông trên đường N hướng từ đường D đến đường D. Khi H điều khiển xe ô tô rẻ phải vào đường DF1 tại G thuộc khu phố B, Thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương thì xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 69D1-153.62 do Trần Tuấn L đang lưu thông cùng chiều. Hậu quả ông Trần Tuấn L bị thương cấp cứu tại Bệnh viện Đa Khoa tỉnh B, hư hỏng 01 xe ô tô tải biển số 61C-446.50, 01 xe mô tô biển số 69D1-153.62. Công an huyện B tiến hành khám nghiệm hiện trường, tạm giữ 01 xe ô tô tải, nhãn hiệu FOTON, biển số 61C-446.50 của Công ty cổ phần K và 01 giấy phép lái xe hạng C, mang tên Trần Hữu H, số [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 09/6/2022; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu Đen – bạc, biển số 69D1-153.62 của Trần Tuấn L.

Hiện trường của đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường giao lộ ngã 3 được trải nhựa cứng bằng phẳng, tầm nhìn lái xe không bị che khuất, phần đường N16 cho xe mô tô lưu thông có chiều đi từ đường D11 đến đường DC rộng 7m45, chia thành 02 làn đường, làn đường sát mép đường bên phải rộng 3m55, làn đường còn lại rộng 3m9, phần đường cho xe mô tô của đường N16 có chiều đi từ đường D11 đến đường DC rộng 11m55, chia thành 03 làn đường bởi vạch kẻ vàng đứt quảng, làn đường sát bồn bông rộng 3m80, làn đường ở giữa rộng 3m90, làn đường sát vạch kẻ liền song song rộng 3m85, đường DF1 rộng 8m00. Xác định điểm mốc và mép đường chuẩn: Xác định trụ biển báo trên đường nằm bên trong lề đường của đường N16 có hướng xe đi từ đường D11 đến đường DC làm điểm mốc. Lấy mép đường của đường N16 bên phải có hướng xe đi từ đường D11 đến đường DC làm mép đường chuẩn, tất cả dấu vết được đo vào mép đường chuẩn. Sau tai nạn, các dấu vết để lại hiện trường được thể hiện đầy đủ tại biên bản khám nghiệm hiện trường và biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông.

Theo bản kết luận Trung tâm pháp Y tỉnh B số 325/KLGÐ-TTPY ngày 26/05/2023 kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với bị hại Trần Tuấn L tại thời điểm giám định là 69% (sáu mươi chín phần trăm).

Ngày 08/5/2023 Phòng K1 Công an tỉnh B có kết luận giám định cơ chế số: 196/KL-KTHS như sau:

1. Dấu vết va chạm giữa hai phương tiện là:

  • Dấu vết trượt xước sơn màu xanh, bám dính chất màu đen (dạng sơn), vỡ ốp nhựa bậc lên xuống bên phải đầu xe ô tô biển số 61C-446.50, có chiều từ trước về sau, từ phải qua trái phù hợp với dấu vết trượt xước sơn màu đen-trắng, vỡ khuyết ốp nhựa đầu xe, đèn chiếu sáng phía trước, mặt nạ trước, cong ép cổ xe về sau xe mô tô biển số 69D1-153.62, có chiều từ trước về sau, từ trái qua phải.
  • Dấu vết trượt xước cao su bám dính chất màu đen trắng (dạng sơn) ở mặt lăn lốp bánh trước bên phải xe ô tô tải biển số 61C-446.50, có chiều từ mặt lăn vào vành, ngược chiều quay tiến bánh xe phù hợp với dấu vết trượt xước sơn màu đen trắng, bám dính chất màu đen (dạng cao su) cong ép cần số, gác chân trước bên trái xe mô tô biển số 69D1-153.62, có chiều từ trái qua phải, từ trên xuống dưới.

2. Cơ chế hình thành dấu vết hai phương tiện là: Phần phía trước bên phải xe ô tô va chạm với phần phía trước bên trái xe mô tô theo hướng từ phải qua trái tạo nên dấu vết trên hai phương tiện.

3. Vị trí va chạm giữa hai phương tiện chiếu xuống mặt đường là: Khu vực phía trước đầu vết cày số 3 trên sơ đồ hiện trường.

Qua làm việc, Trần Hữu H khai nhận khi tham gia lưu thông vào ngày 11/3/2023, H điều khiển xe ô tô biển số 61C-446.50 lưu thông trên đường N hướng về đường DF1 để về công trình. Tại thời điểm trên H khai nhận có bật tín hiệu rẽ phải, tuy nhiên không đảm bảo an toàn khi rẽ phải đã vi phạm khoản 1, 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ. Dẫn đến va chạm vào xe mô tô biển số 69D1-153.62 do ông Trần Tuấn L điều khiển đi cùng chiều hướng từ đường D đi đến đường D gây tai nạn làm Trần Tuấn L bị thương tích 69%.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 40/KL-HDĐG ngày 14/6/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B kết luận: Giá trị sữa chữa, thay thế phụ tùng hư hỏng: Bung vỡ hệ thống đèn chiếu sáng phía trước; bung vỡ nắp trước sau tay lái; vỡ mặt nạ phía trước; vỡ cánh yếm bên phải, bên trái; cong chảng ba; bung đồng hồ công tơ mét; cong sườn phía trước từ trước về sau; mài mòn đầu gác chân phía trước phải; cong cần số phía trước từ trước về sau; vỡ chắn bùn phía trước của xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, số khung C6H0DY024410, số máy 5C6H024419, màu Đen bạc, biển số 69D1-153.62, đăng ký lần đầu tháng 02/2014 trị giá: 3.500.000 đồng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 41/KL-HDĐG ngày 14/06/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B kết luận: Giá trị sữa chữa, thay thế phụ tùng hư hỏng: Móp thụm cánh cửa trước bên phải, rách chắn bùn phía trước bên phải, thủng lốp bánh thứ nhất bên phải của xe ô tô nhãn hiệu Foton, số loại: Thaco, số khung 0FWBKC083446, số máy 31618C033762, màu xanh, biển số 61C-446.50, đăng kí lần đầu tháng 03/2020 trị giá: 13.230.000 đồng.

Qua xác minh 01 xe ô tô tải, nhãn hiệu FOTON, biển số 61C-446.50 đứng tên chủ sở hữu là Công ty cổ phần K. Ngày 27/6/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện B ra Quyết định xử lý vật chứng và đã trả lại tài sản trên cho ông Lưu Văn T1 là đại diện được ủy quyền của Công ty cổ phần K.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đen-bạc, biển số 69D1-153.62 là tài sản hợp pháp của Trần Tuấn L. Ngày 05/7/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện B ra Quyết định xử lý vật chứng và đã trả lại tài sản trên cho ông L.

Cáo trạng số 14/CT-VKS-BB ngày 22/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Trần Hữu H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng trong phần tranh luận, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Hữu H mức hình phạt từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 08 (tám) tháng.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Trần Hữu H bồi thường thêm cho bị hại Trần Tuấn L số tiền 205.000.000 đồng (hai trăm lẻ năm triệu đồng) chi phí điều trị thương tích.

Về biện pháp tư pháp: Trả Trần Hữu H 01 (một) giấy phép lái xe hạng C, mang tên Trần Hữu H, số [...] cấp ngày 09/6/2022 do không đề nghị áp dụng khoản 5 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Trần Hữu H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng qua phần tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và nội dung luận tội.

Tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, bị đơn dân sự thống nhất toàn bộ nội dung truy tố, luận tội và không có ý kiến tranh luận.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo rất ăn năn hối hận xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng với quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông, sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông, kết luận giám định pháp y cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 11/3/2023, bị cáo điều khiển xe ô tô tải biển số 61C-446.50 lưu thông trên đường N hướng từ đường D đến đường D. Khi bị cáo điều khiển xe ô tô rẻ phải vào đường DF1 tại G thuộc khu phố B, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương không đảm bảo an toàn khi rẽ phải nên xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 69D1-153.62 do bị hại đang lưu thông cùng chiều, làm bị hại bị thương tích 69% (sáu mươi chín phần trăm), đã vi phạm quy định tại khoản 1, 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ. Do đó, hành vi mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại cho sức khỏe của người bị hại. Với tình hình tai nạn giao thông xảy ra như hiện nay là do ý thức không chấp hành luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông, mà phần lớn là lỗi của người điều khiển phương tiện vi phạm Luật giao thông đường bộ dẫn đến gây tai nạn cho người khác. Hậu quả của những hành vi này là gây thiệt hại nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng của nạn nhân. Do đó, đối với hành vi của bị cáo cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017.

[6] Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi vô ý. Xét thấy không cần bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù bởi bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và cũng thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật Nhà nước ta. Căn cứ vào nhân thân, tính chất mức độ phạm tội cũng như các tình tiết giảm nhẹ, xét mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 45.000.000 đồng. Tại phiên tòa bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường thêm số tiền 205.000.000 đồng (hai trăm lẻ năm triệu đồng) chi phí điều trị thương tích, bị cáo đồng ý bồi thường nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận này.

[8] Về biện pháp tư pháp: Trả Trần Hữu H 01 (một) giấy phép lái xe hạng C, mang tên Trần Hữu H, số [...] cấp ngày 09/6/2022 do Hội đồng xét xử không áp dụng khoản 5 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[9] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • Điểm b Khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017;
  • Điều 586, Điều 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • Điều 136, Điều 260, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
  • Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
  • Nghị Quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo;
  • Nghị Quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị Quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo;
  1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Hữu H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Hữu H 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án.

    Giao bị cáo về Ủy ban nhân dân xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Trần Hữu H bồi thường cho bị hại Trần Tuấn L số tiền 205.000.000 đồng (hai trăm lẻ năm triệu đồng).

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  4. Về biện pháp tư pháp: Trả bị cáo Trần Hữu H 01 (một) giấy phép lái xe hạng C, mang tên Trần Hữu H, số [...] cấp ngày 09/6/2022.

    (Thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/11/2023 giữa Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng – Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng).

  5. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Hữu H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 10.250.000 đồng (mười triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

    Bị cáo, bị hại, bị đơn dân sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND huyện Bàu Bàng;
  • - Công an huyện Bàu Bàng;
  • - Chi cục THADS huyện Bàu Bàng;
  • - Ủy ban nhân dân xã An Bình, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án (nếu có);
  • - Lưu: HS, Tòa.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Anh Duy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 42/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Vụ án Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger