Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN T

TỈNH LONG AN

Bản án số: 42/2024/HS-ST

Ngày: 15-8-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Nhị

Ông Nguyễn Hồng Phong

- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Thái Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Thi - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 54/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn Q; sinh năm 1989 tại Long An; Hộ khẩu thường trú: Thôn M, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; Chỗ ở hiện nay: Ấp E, xã N, huyện T, tỉnh Long An; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn S và bà Đoàn Thị M; có vợ tên Nguyễn Thị Mỹ N và 01 người con sinh năm 2022; Tiền án: không; Tiền sự: không; Bị cáo Trần Văn Q đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Bà Trịnh Diệu K, sinh năm 1980; Nơi thường trú: ấp P, xã H, huyện L, tỉnh Sóc Trăng; Nơi ở hiện nay: ấp B, xã T, huyện B, tỉnh Long An.
  2. Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1975; Địa chỉ: Số C ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Long An.
  3. Bà Lê Thị Kim L, sinh năm 1958; Địa chỉ: Ấp D, xã B, thành phố T, tỉnh Long An.
  4. Bà Lý Lệ H, sinh năm 1988; Địa chỉ: Số B Khu C, Ô, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An.
  5. Ông Châu Minh M1, sinh năm 1989; Địa chỉ: Số B N, phường E, thành phố T, tỉnh Long An.
  6. Ông Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1997; Địa chỉ: Số B đường L, khu phố B, phường F, thành phố T, tỉnh Long An
  7. Bà Phạm Thị Đ, sinh năm 1971; Địa chỉ: Số I T, khu phố B, phường D, thành phố T, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào năm 2019, Trần Văn Q, sinh năm 1989, HKTT: Thôn M, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng quen biết và có mối quan hệ tình cảm với vợ hiện tại là Nguyễn Thị Mỹ N, sinh năm 2000, ngụ tại phường F, thành phố T, tỉnh Long An nên thường xuyên đến khu vực thành phố T để gặp N nên đã quen biết được một số người dân sống gần đó. Do bản thân không có công việc ổn định nên Q đã sử dụng tiền cá nhân của mình để cho người dân ở khu vực thành phố T, huyện T và huyện B vay với lãi suất cao để kiếm lời. Đến khoảng tháng 08/2023, Q về địa bàn huyện T, tỉnh Long An và thuê một căn nhà tại Ấp E, xã N, huyện T để sinh sống cùng vợ là N; Bùi Tiến T2, sinh năm 1993, HKTT: Phố L, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh; Tô Văn V, sinh năm 1991, HKTT: Thôn N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh và Phạm Mạnh C, sinh năm 1990, HKTT: Thôn N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh. Q, T2, V, C đều hoạt động cho vay tiền nhưng mỗi người tự cho vay và không ai làm chung với ai. Khi cho vay, Q sẽ giữ giấy tờ xe hoặc giấy tờ tùy thân của người vay để làm tín chấp. Về cách thức giao nhận tiền, nếu khách hàng có tài khoản ngân hàng và muốn chuyển tiền cho vay vào tài khoản ngân hàng thì Q chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng S1 (ngân hàng T3) của Q vào tài khoản ngân hàng của khách hàng cung cấp hoặc giao tiền mặt trực tiếp cho khách hàng. Khi trả tiền góp thì khách hàng có thể lựa chọn việc trả qua hình thức chuyển khoản ngân hàng cho Q hoặc hẹn địa điểm gần nhà, thuận tiện để gặp Q trả tiền.

Q cho vay tiền với hình thức vay trả góp hằng ngày, Q và khách hàng thỏa thuận, người vay phải trả số tiền tùy theo khoản vay bao gồm gốc và lãi hằng ngày, trong thời hạn là 25 ngày, nếu thiếu tiền góp một ngày thì cộng tiếp vào ngày hôm sau, trong trường hợp chưa đến 25 ngày mà người vay muốn vay thêm thì Q sẽ dùng số tiền vay mới trừ đi số tiền gốc và tiền lãi người vay còn nợ và đưa số tiền còn lại cho người vay. Ngoài ra, người vay phải trả trước cho Q 02 ngày tiền gốc lẫn lãi và phải chịu tiền phí vay trên mỗi thỏa thuận vay.

Trong quá trình điều tra xác định Trần Văn Q đã cho những người vay tiền với các hình thức như sau:

  1. Vay số tiền 20.000.000đ, trả góp mỗi ngày số tiền 1.000.000đ, trong đó: 800.000đ tiền gốc và 200.000đ tiền lãi, thời hạn trả là 25 ngày.
  2. Vay số tiền 5.000.000đ, trả góp mỗi ngày số tiền 250.000đ, trong đó: 200.000đ tiền gốc và 50.000đ tiền lãi, thời hạn trả là 25 ngày.
  3. Vay số tiền 3.000.000đ, trả góp mỗi ngày số tiền 150.000đ, trong đó: 120.000đ tiền gốc và 30.000đ tiền lãi, thời hạn trả là 25 ngày.

Quá trình cho vay tiền, ở mỗi lần cho vay, Trần Văn Q thỏa thuận cho vay và thu phí vay của những người vay với số tiền từ 150.000đ đến 1.000.000đ tùy theo số tiền vay.

Từ tháng 03 đến tháng 10/2023, Trần Văn Q đã cho 07 người trên địa bàn huyện T; huyện B và thành phố T, tỉnh Long An vay tiền. Cụ thể như sau:

1. Bà Trịnh Diệu K, sinh năm 1980, ngụ tại ấp B, xã T, huyện B, tỉnh Long An: Q đã cho bà Trịnh Diệu K vay 28 lần, cụ thể:

Lần 1: Ngày 02/4/2023, Q cho bà K vay số tiền 5.000.000 đồng, phí vay là 250.000 đồng, trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Bà K đã trả đủ cho Q số tiền 6.250.0000 đồng, trong đó: tiền gốc là 5.000.000 đồng, tiền lãi là 1.250.000 đồng. Số tiền Q thu lợi bất chính là 1.181.507 đồng.

Lần 2: Ngày 01/5/2023, Q cho bà K vay số tiền 5.000.000 đồng, phí vay là 250.000 đồng, trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Bà K đã trả đủ cho Q số tiền 6.250.0000 đồng, trong đó: tiền gốc là 5.000.000 đồng, tiền lãi là 1.250.000 đồng. Số tiền Q thu lợi bất chính là 1.181.507 đồng.

Lần 3: Ngày 23/5/2023, Q cho bà K vay số tiền 5.000.000 đồng, phí vay là 250.000 đồng trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Bà K đã trả đủ cho Q số tiền 6.250.0000 đồng, trong đó: tiền gốc là 5.000.000 đồng, tiền lãi là 1.250.000 đồng. Số tiền Q thu lợi bất chính là 1.181.507 đồng.

Lần 4: Ngày 30/5/2023, Q cho bà K vay số tiền 5.000.000 đồng, phí vay là 250.000 đồng trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Bà K đã trả đủ cho Q số tiền 6.250.0000 đồng, trong đó: tiền gốc là 5.000.000 đồng, tiền lãi là 1.250.000 đồng. Số tiền Q thu lợi bất chính là 1.181.507 đồng.

Lần 5: Ngày 03/6/2023, Q cho bà K vay số tiền 5.000.000 đồng, phí vay là 250.000 đồng trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Bà K đã trả đủ cho Q số tiền 6.250.0000 đồng, trong đó: tiền gốc là 5.000.000 đồng, tiền lãi là 1.250.000 đồng. Số tiền Q thu lợi bất chính là 1.181.507 đồng.

Lần 6: Ngày 10/6/2023, Q cho bà K vay số tiền 5.000.000 đồng, phí vay là 250.000 đồng trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Bà K đã trả đủ cho Q số tiền 6.250.0000 đồng, trong đó: tiền gốc là 5.000.000 đồng, tiền lãi là 1.250.000 đồng. Số tiền Q thu lợi bất chính là 1.181.507 đồng.

Lần 7: Ngày 12/6/2023, Q cho bà K vay số tiền 5.000.000 đồng, phí vay là 250.000 đồng trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Bà K đã trả đủ cho Q số tiền 6.250.0000 đồng, trong đó tiền gốc là 5.000.000 đồng, tiền lãi là 1.250.000 đồng, số tiền Q thu lợi bất chính là 1.181.507 đồng.

Lần 8: Ngày 30/6/2023, Q cho bà K vay số tiền 5.000.000 đồng, phí vay là 250.000 đồng trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Bà K đã trả đủ cho Q số tiền 6.250.0000 đồng, trong đó: tiền gốc là 5.000.000 đồng, tiền lãi là 1.250.000 đồng. Số tiền Q thu lợi bất chính là 1.181.507 đồng.

Lần 9: Ngày 09/7/2023, Q cho bà K vay số tiền 5.000.000 đồng, phí vay là 250.000 đồng trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Bà K đã trả đủ cho Q số tiền 6.250.0000 đồng, trong đó: tiền gốc là 5.000.000 đồng, tiền lãi là 1.250.000 đồng. Số tiền Q thu lợi bất chính là 1.181.507 đồng.

Lần 10: Ngày 14/7/2023, Q cho bà K vay số tiền 5.000.000 đồng, phí vay là 250.000 đồng trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Bà K đã trả đủ cho Q số tiền 6.250.0000 đồng, trong đó: tiền gốc là 5.000.000 đồng, tiền lãi là 1.250.000 đồng. Số tiền Q thu lợi bất chính là 1.181.507 đồng.

Lần 11: Ngày 18/7/2023, Q cho bà K vay số tiền 5.000.000 đồng, phí vay là 250.000 đồng trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Bà K đã trả đủ cho Q số tiền 6.250.0000 đồng, trong đó: tiền gốc là 5.000.000 đồng, tiền lãi là 1.250.000 đồng. Số tiền Q thu lợi bất chính là 1.181.507 đồng.

Lần 12: Ngày 21/7/2023, Q cho bà K vay số tiền 5.000.000 đồng, phí vay là 250.000 đồng trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Bà K đã trả đủ cho Q số tiền 6.250.0000 đồng, trong đó: tiền gốc là 5.000.000 đồng, tiền lãi là 1.250.000 đồng. Số tiền Q thu lợi bất chính là 1.181.507 đồng.

Lần 13: Ngày 24/7/2023, Q cho bà K vay số tiền 5.000.000 đồng, phí vay là 250.000 đồng trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Bà K đã trả đủ cho Q số tiền 6.250.0000 đồng, trong đó: tiền gốc là 5.000.000 đồng, tiền lãi là 1.250.000 đồng. Số tiền Q thu lợi bất chính là 1.181.507 đồng.

Lần 14: Ngày 01/8/2023, Q cho bà K vay số tiền 5.000.000 đồng, phí vay là 250.000 đồng trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Bà K đã trả đủ cho Q số tiền 6.250.0000 đồng, trong đó: tiền gốc là 5.000.000 đồng, tiền lãi là 1.250.000 đồng. Số tiền Q thu lợi bất chính là 1.181.507 đồng.

Lần 15: Ngày 04/8/2023, Q cho bà K vay số tiền 5.000.000 đồng, phí vay là 250.000 đồng trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Bà K đã trả đủ cho Q số tiền 6.250.0000 đồng, trong đó tiền gốc là 5.000.000 đồng, tiền lãi là 1.250.000 đồng, số tiền Q thu lợi bất chính là 1.181.507 đồng.

Lần 16: Ngày 08/8/2023, Q cho bà K vay số tiền 5.000.000 đồng, phí vay là 250.000 đồng trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Bà K đã trả đủ cho Q số tiền 6.250.0000 đồng, trong đó tiền gốc là 5.000.000 đồng, tiền lãi là 1.250.000 đồng, số tiền Q thu lợi bất chính là 1.181.507 đồng.

Lần 17: Ngày 13/8/2023, Q cho bà K vay số tiền 5.000.000 đồng, phí vay là 250.000 đồng trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Bà K đã trả đủ cho Q số tiền 6.250.0000 đồng, trong đó tiền gốc là 5.000.000 đồng, tiền lãi là 1.250.000 đồng, số tiền Q thu lợi bất chính là 1.181.507 đồng.

Lần 18: Ngày 19/8/2023, Q cho bà K vay số tiền 5.000.000 đồng, phí vay là 250.000 đồng trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Bà K đã trả đủ cho Q số tiền 6.250.0000 đồng, trong đó tiền gốc là 5.000.000 đồng, tiền lãi là 1.250.000 đồng, số tiền Q thu lợi bất chính là 1.181.507 đồng.

Lần 19: Ngày 23/8/2023, Q cho bà K vay số tiền 5.000.000 đồng, phí vay là 250.000 đồng trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Bà K đã trả đủ cho Q số tiền 6.250.0000 đồng, trong đó tiền gốc là 5.000.000 đồng, tiền lãi là 1.250.000 đồng, số tiền Q thu lợi bất chính là 1.181.507 đồng.

Lần 20: Ngày 25/8/2023, Q cho bà K vay số tiền 5.000.000 đồng, phí vay là 250.000 đồng trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Bà K đã trả đủ cho Q số tiền 6.250.0000 đồng, trong đó tiền gốc là 5.000.000 đồng, tiền lãi là 1.250.000 đồng, số tiền Q thu lợi bất chính là 1.181.507 đồng.

Lần 21: Ngày 31/8/2023, Q cho bà K vay số tiền 5.000.000 đồng, phí vay là 250.000 đồng trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Bà K đã trả đủ cho Q số tiền 6.250.0000 đồng, trong đó tiền gốc là 5.000.000 đồng, tiền lãi là 1.250.000 đồng, số tiền Q thu lợi bất chính là 1.181.507 đồng.

Lần 22: Ngày 05/9/2023, Q cho bà K vay số tiền 5.000.000 đồng, phí vay là 250.000 đồng trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Bà K đã trả đủ cho Q số tiền 6.250.0000 đồng, trong đó tiền gốc là 5.000.000 đồng, tiền lãi là 1.250.000 đồng, số tiền Q thu lợi bất chính là 1.181.507 đồng.

Lần 23: Ngày 10/9/2023, Q cho bà K vay số tiền 5.000.000 đồng, phí vay là 250.000 đồng trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Bà K đã trả đủ cho Q số tiền 6.250.0000 đồng, trong đó tiền gốc là 5.000.000 đồng, tiền lãi là 1.250.000 đồng, số tiền Q thu lợi bất chính là 1.181.507 đồng.

Lần 24: Ngày 12/9/2023, Q cho bà K vay số tiền 5.000.000 đồng, phí vay là 250.000 đồng trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Bà K đã trả đủ cho Q số tiền 6.250.0000 đồng, trong đó tiền gốc là 5.000.000 đồng, tiền lãi là 1.250.000 đồng, số tiền Q thu lợi bất chính là 1.181.507 đồng.

Lần 25: Ngày 19/9/2023, Q cho bà K vay số tiền 5.000.000 đồng, phí vay là 250.000 đồng trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Bà K đã trả đủ cho Q số tiền 6.250.0000 đồng, trong đó tiền gốc là 5.000.000 đồng, tiền lãi là 1.250.000 đồng, số tiền Q thu lợi bất chính là 1.181.507 đồng.

Lần 26: Ngày 23/9/2023, Q cho bà K vay số tiền 5.000.000 đồng, phí vay là 250.000 đồng trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Bà K đã trả đủ cho Q số tiền 6.250.0000 đồng, trong đó tiền gốc là 5.000.000 đồng, tiền lãi là 1.250.000 đồng, số tiền Q thu lợi bất chính là 1.181.507 đồng.

Lần 27: Ngày 26/9/2023, Q cho bà K vay số tiền 5.000.000 đồng, phí vay là 250.000 đồng trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Với khoản vay này, bà K đã trả cho Q được 15 ngày tới tổng số tiền là 3.750.000 đồng, trong đó: tiền gốc là 3.000.000 đồng, tiền lãi là 750.000 đồng. Số tiền Q thu lợi bất chính là 708.915 đồng.

Lần 28: Ngày 01/10/2023, Q cho bà K vay số tiền 5.000.000 đồng, phí vay là 250.000 đồng trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Với khoản vay này, bà K đã trả cho Q được 10 ngày với tổng số tiền là 2.500.000 đồng, trong đó: tiền gốc là 2.000.000 đồng, tiền lãi là 500.000 đồng. Số tiền Q thu lợi bất chính là 472.610 đồng.

Tổng số tiền Q đã cho bà K vay 28 lần là 140.000.000 đồng. Bà K đã trả xong 26 khoản vay, còn nợ lại 02 khoản vay. Tổng số tiền bà K đã trả cho Q là 168.750.000đ, trong đó: tiền gốc là: 135.000.000đ; tiền lãi là: 33.750.000đ. Bà K còn nợ gốc là 5.000.000đ. Số tiền Q thu lợi bất chính đối với bà K là 31.900.707 đồng và phí vay là 7.000.000 đồng.

2. Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1975, ngụ tại ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Long An: Q đã cho bà T vay 02 lần, cụ thể:

Lần 1: Ngày 23/4/2023, Q cho bà T vay số tiền 20.000.000 đồng, phí vay là 1.000.000 đồng trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 1.000.000 đồng. Bà T đã trả đủ số tiền 25.000.000 đồng, trong đó: tiền gốc là 20.000.000 đồng, tiền lãi là 5.000.000 đồng. Số tiền Q thu lợi bất chính là 4.726.028 đồng.

Lần 2: Vào ngày 08/10/2023, Q cho bà T vay số tiền 20.000.000 đồng, phí vay là 1.000.000 đồng trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 1.000.000 đồng. Với khoản vay này, bà T đã trả góp cho Q được 03 ngày với tổng số tiền là 3.000.000 đồng, trong đó: tiền gốc là 2.400.000 đồng, tiền lãi là 600.000 đồng. Số tiền Q thu lợi bất chính là 567.123 đồng.

Tổng số tiền Q cho bà T vay là 40.000.000 đồng. Bà T đã trả xong 01 khoản, còn 01 khoản vay bà T chưa trả xong, tổng số tiền bà T đã trả cho Q đối với 02 lần vay là 28.000.000đ, trong đó: tiền gốc là: 22.400.000đ; tiền lãi là: 5.600.000đ. Bà T còn nợ tiền gốc chưa trả là 17.600.000đ. Số tiền Q thu lợi bất chính đối với bà T là 5.293.151 đồng và phí vay là 2.000.000 đồng.

3. Bà Lê Thị Kim L, sinh năm 1958, ngụ tại ấp D, xã B, Thành phố T: Q đã cho bà L vay 02 lần, cụ thể:

Lần 1: Ngày 21/9/2023, Q cho bà L vay số tiền 3.000.000 đồng, phí vay là 150.000 đồng trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 150.000 đồng. Với khoản vay này, bà L đã trả cho Q được 20 ngày với tổng số tiền là 3.000.000 đồng, trong đó: tiền gốc là 2.400.000 đồng, tiền lãi là 600.000 đồng. Số tiền Q thu lợi bất chính là 567.140 đồng.

Lần 2: Vào ngày 27/9/2023, Q cho bà L vay số tiền 5.000.000 đồng, phí vay là 250.000 đồng trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Với khoản vay này, bà L đã trả cho Q được 14 ngày với tổng số tiền là 3.500.000 đồng, trong đó: tiền gốc là 2.800.000 đồng, tiền lãi là 700.000 đồng. Số tiền Q thu lợi bất chính là 661.654 đồng.

Tổng số tiền Q cho bà L vay là 8.000.000 đồng. Bà L chưa trả xong 02 khoản vay này. Tổng số tiền bà L đã trả cho Q là 6.500.000đ, trong đó: tiền gốc là 5.200.000đ và tiền lãi là 1.300.000đ. Bà L còn nợ gốc chưa trả là 2.800.000đ. Tổng số tiền thu lợi bất chính là 1.228.794 đồng và phí vay là 400.000 đồng.

4. Bà Lý Lệ H, sinh năm 1988, HKTT: số B, khu C, Ô, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An: Q đã cho bà H vay 02 lần, cụ thể:

Lần 1: Đầu tháng 3/2023, Q cho bà H vay số tiền 5.000.000 đồng, phí vay là 250.000 đồng trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Bà H đã trả đủ cho Q số tiền 6.250.0000 đồng, trong đó: tiền gốc là 5.000.000 đồng, tiền lãi là 1.250.000 đồng, số tiền Q thu lợi bất chính là 1.181.507 đồng.

Lần 2: Đầu tháng 4/2023, Q cho bà H vay số tiền 5.000.000 đồng, phí vay là 250.000 đồng trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Bà H đã trả đủ cho Q số tiền 6.250.0000 đồng, trong đó: tiền gốc là 5.000.000 đồng, tiền lãi là 1.250.000 đồng, số tiền Q thu lợi bất chính là 1.181.507 đồng.

Tổng số tiền Q cho bà H vay là 10.000.000 đồng, bà H đã trả xong 02 khoản vay với số tiền 12.500.000đ, trong đó: tiền gốc: 10.000.000đ và tiền lãi là 2.500.000đ. Tổng số tiền thu lợi bất chính là 2.363.014 đồng và phí vay là 500.000 đồng.

5. Ông Châu Minh M1, sinh năm 1987, HKTT: đường N, phường E, thành phố T, Long An: Q đã cho ông M1 vay 04 lần, cụ thể:

Lần 1: Giữa tháng 3/2023, Q cho ông M1 vay số tiền 5.000.000 đồng, phí vay là 250.000 đồng trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Ông M1 đã trả đủ cho Q số tiền 6.250.0000 đồng, trong đó tiền gốc là 5.000.000 đồng, tiền lãi là 1.250.000 đồng, số tiền Q thu lợi bất chính là 1.181.507 đồng.

Lần 2: Đầu tháng 4/2023, Q cho ông M1 vay số tiền 5.000.000 đồng, phí vay là 250.000 đồng trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Ông M1 đã trả đủ cho Q số tiền 6.250.0000 đồng, trong đó tiền gốc là 5.000.000 đồng, tiền lãi là 1.250.000 đồng, số tiền Q thu lợi bất chính là 1.181.507 đồng.

Lần 3: Cuối tháng 4/2023, Q cho ông M1 vay số tiền 5.000.000 đồng, phí vay là 250.000 đồng trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Ông M1 đã trả đủ cho Q số tiền 6.250.0000 đồng, trong đó tiền gốc là 5.000.000 đồng, tiền lãi là 1.250.000 đồng, số tiền Q thu lợi bất chính là 1.181.507 đồng.

Lần 4: Đầu tháng 5/2023, Q cho ông M1 vay số tiền 5.000.000 đồng, phí vay là 250.000 đồng trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Ông M1 đã trả đủ cho Q số tiền 6.250.0000 đồng, trong đó tiền gốc là 5.000.000 đồng, tiền lãi là 1.250.000 đồng, số tiền Q thu lợi bất chính là 1.181.507 đồng.

Tổng số tiền Q cho ông M1 vay là 20.000.000 đồng, ông M1 đã trả xong 04 khoản vay với số tiền 25.000.000đ, trong đó: tiền gốc là 20.000.000đ, tiền lãi là 5.000.000đ. Tổng số tiền thu lợi bất chính là 4.726.028 đồng và phí vay là 1.000.000 đồng.

6. Ông Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1997, HKTT: đường L, Phường F, thành phố T, Long An: Q đã cho ông T1 vay 12 lần, cụ thể:

Lần 1: Ngày 26/3/2023, Q cho ông T1 vay số tiền 5.000.000 đồng, phí vay là 250.000 đồng trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Ông T1 đã trả đủ cho Q số tiền 6.250.0000 đồng, trong đó tiền gốc là 5.000.000 đồng, tiền lãi là 1.250.000 đồng, số tiền Q thu lợi bất chính là 1.181.507 đồng.

Lần 2: Ngày 08/4/2023, Q cho ông T1 vay số tiền 5.000.000 đồng, phí vay là 250.000 đồng trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Ông T1 đã trả đủ cho Q số tiền 6.250.0000 đồng, trong đó tiền gốc là 5.000.000 đồng, tiền lãi là 1.250.000 đồng, số tiền Q thu lợi bất chính là 1.181.507 đồng.

Lần 3: Ngày 28/4/2023, Q cho ông T1 vay số tiền 5.000.000 đồng, phí vay là 250.000 đồng trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Ông T1 đã trả đủ cho Q số tiền 6.250.0000 đồng, trong đó tiền gốc là 5.000.000 đồng, tiền lãi là 1.250.000 đồng, số tiền Q thu lợi bất chính là 1.181.507 đồng.

Lần 4: Ngày 12/5/2023, Q cho ông T1 vay số tiền 5.000.000 đồng, phí vay là 250.000 đồng trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Ông T1 đã trả đủ cho Q số tiền 6.250.0000 đồng, trong đó tiền gốc là 5.000.000 đồng, tiền lãi là 1.250.000 đồng, số tiền Q thu lợi bất chính là 1.181.507 đồng.

Lần 5: Ngày 24/5/2023, Q cho ông T1 vay số tiền 5.000.000 đồng, phí vay là 250.000 đồng trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Ông T1 đã trả đủ cho Q số tiền 6.250.0000 đồng, trong đó tiền gốc là 5.000.000 đồng, tiền lãi là 1.250.000 đồng, số tiền Q thu lợi bất chính là 1.181.507 đồng.

Lần 6: Ngày 06/6/2023, Q cho ông T1 vay số tiền 5.000.000 đồng, phí vay là 250.000 đồng trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Ông T1 đã trả đủ cho Q số tiền 6.250.0000 đồng, trong đó tiền gốc là 5.000.000 đồng, tiền lãi là 1.250.000 đồng, số tiền Q thu lợi bất chính là 1.181.507 đồng.

Lần 7: Ngày 28/7/2023, Q cho ông T1 vay số tiền 5.000.000 đồng, phí vay là 250.000 đồng trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Ông T1 đã trả đủ cho Q số tiền 6.250.0000 đồng, trong đó tiền gốc là 5.000.000 đồng, tiền lãi là 1.250.000 đồng, số tiền Q thu lợi bất chính là 1.181.507 đồng.

Lần 8: Ngày 08/8/2023, Q cho ông T1 vay số tiền 5.000.000 đồng, phí vay là 250.000 đồng trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Ông T1 đã trả đủ cho Q số tiền 6.250.0000 đồng, trong đó tiền gốc là 5.000.000 đồng, tiền lãi là 1.250.000 đồng, số tiền Q thu lợi bất chính là 1.181.507 đồng.

Lần 9: Ngày 18/8/2023, Q cho ông T1 vay số tiền 5.000.000 đồng, phí vay là 250.000 đồng trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Ông T1 đã trả đủ cho Q số tiền 6.250.0000 đồng, trong đó tiền gốc là 5.000.000 đồng, tiền lãi là 1.250.000 đồng, số tiền Q thu lợi bất chính là 1.181.507 đồng.

Lần 10: Ngày 03/9/2023, Q cho ông T1 vay số tiền 5.000.000 đồng, phí vay là 250.000 đồng trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Ông T1 đã trả đủ cho Q số tiền 6.250.0000 đồng, trong đó tiền gốc là 5.000.000 đồng, tiền lãi là 1.250.000 đồng, số tiền Q thu lợi bất chính là 1.181.507 đồng.

Lần 11: Ngày 17/9/2023, Q cho ông T1 vay số tiền 5.000.000 đồng, phí vay là 250.000 đồng trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Ông T1 đã trả đủ cho Q số tiền 6.250.0000 đồng, trong đó tiền gốc là 5.000.000 đồng, tiền lãi là 1.250.000 đồng, số tiền Q thu lợi bất chính là 1.181.507 đồng.

Lần 12: Ngày 01/10/2023, Q cho ông T1 vay số tiền 5.000.000 đồng, phí vay là 250.000 đồng trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Đối với khoản vay này, ông T1 đã đóng tiền góp cho Q được 10 ngày với tổng số tiền là 2.500.000 đồng (trong đó tiền gốc là 2.000.000 đồng, tiền lãi là 500.000 đồng), số tiền Q thu lợi bất chính là 472.610 đồng.

Tổng số tiền Q cho ông T1 vay là 60.000.000 đồng, ông T1 đã trả xong 11 khoản vay, còn chưa trả xong 01 khoản vay. Tổng số tiền ông T1 đã trả cho Q là 71.250.000đ, trong đó: tiền gốc là 57.000.000 và tiền lãi là 14.250.000đ. Ông T1 còn nợ tiền gốc chưa trả là 3.000.000đ. Tổng số tiền thu lợi bất chính là 13.469.187 đồng và phí vay là 3.000.000 đồng.

7. Bà Phạm Thị Đ, sinh năm 1991, HKTT: đường T, phường D, thành phố T, Long An: Q đã cho bà Đ vay 05 lần, cụ thể:

Lần 1: Ngày 11/4/2023, Q cho bà Đ vay số tiền 5.000.000 đồng, phí vay là 250.000 đồng trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Bà Đ đã trả đủ cho Q số tiền 6.250.0000 đồng, trong đó tiền gốc là 5.000.000 đồng, tiền lãi là 1.250.000 đồng, số tiền Q thu lợi bất chính là 1.181.507 đồng.

Lần 2: Ngày 24/4/2023, Q cho bà Đ vay số tiền 5.000.000 đồng, phí vay là 250.000 đồng trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Bà Đ đã trả đủ cho Q số tiền 6.250.0000 đồng, trong đó tiền gốc là 5.000.000 đồng, tiền lãi là 1.250.000 đồng, số tiền Q thu lợi bất chính là 1.181.507 đồng.

Lần 3: Ngày 26/4/2023, Q cho bà Đ vay số tiền 5.000.000 đồng, phí vay là 250.000 đồng trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Bà Đ đã trả đủ cho Q số tiền 6.250.0000 đồng, trong đó tiền gốc là 5.000.000 đồng, tiền lãi là 1.250.000 đồng, số tiền Q thu lợi bất chính là 1.181.507 đồng.

Lần 4: Ngày 19/5/2023, Q cho bà Đ vay số tiền 5.000.000 đồng, phí vay là 250.000 đồng trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Với khoản vay này, bà Đ đã trả cho Q được 12 ngày với tổng số tiền là 3.000.000 đồng (trong đó có 2.400.000 đồng tiền gốc và 600.000 đồng tiền lãi), số tiền Q thu lợi bất chính là 567.132 đồng.

Lần 5: Ngày 22/5/2023, Q cho bà Đ vay số tiền 5.000.000 đồng, phí vay là 250.000 đồng trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Với khoản vay này, bà Đ đã trả cho Q được 12 ngày với tổng số tiền là 3.000.000 đồng (trong đó có 2.400.000 đồng tiền gốc và 600.000 đồng tiền lãi), số tiền Q thu lợi bất chính là 567.132 đồng.

Tổng số tiền Q cho bà Đ vay là 25.000.000 đồng, bà Đ đã trả xong 03 khoản vay, còn chưa trả xong 02 khoản vay. Tổng số tiền bà Đ đã trả cho Q là 24.750.000đ, trong đó: tiền gốc là 19.800.000đ, tiền lãi là 4.950.000đ. Bà Đ còn nợ tiền gốc là 5.200.000đ. Bà Đ còn nợ gốc chưa trả là 5.200.000đ. Tổng số tiền thu lợi bất chính là 4.678.785 đồng và phí vay là 1.250.000 đồng.

Như vậy, tổng cộng Trần Văn Q đã cho 07 người vay với số tiền 303.000.000 đồng, tổng số tiền người vay trả cho Q là 336.750.000 đồng, trong đó: tiền gốc là 269.400.000 đồng, tiền lãi là 67.350.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính 78.809.666đồng (bao gồm 63.659.666 đồng tiền lãi vượt quá quy định và phí vay 07 người là 15.150.000 đồng). Số tiền gốc vay bà Trịnh Diệu K, bà Nguyễn Thị Thu T, bà Lê Thị Kim L, bà Lý Lệ H, ông Châu Minh M1, ông Nguyễn Ngọc T1, bà Phạm Thị Đ chưa trả cho bị cáo là 33.600.000đ. Tại cơ quan CSĐT Công an huyện T, Trần Văn Q đã thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân.

Vật chứng thu giữ gồm:

01 (một) điện thoại di động hiệu N1 màu đen cùng sim số 0798056779 gắn bên trong máy.

Tại Cáo trạng số 20/CT-VKS ngày 14/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An truy tố các bị cáo Trần Văn Q về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn Q phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”

Về hình phạt chính:

- Áp dụng khoản 1 Điều 201; Điều 35, Điều 50 điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn Q từ 100.000.000đồng đến 150.000.000đồng.

- Các biện pháp tư pháp:

Áp dụng Điều 46, 47, 48 Bộ luật Hình sự, Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 hướng dẫn về việc xét xử về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự:

Đối với số tiền gốc vay bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị HĐXX buộc bị cáo nộp lại để sung ngân sách Nhà nước.

Đối với số tiền nợ gốc mà bà Trịnh Diệu K, bà Nguyễn Thị Thu T, bà Lê Thị Kim L, ông Nguyễn Ngọc T1, bà Phạm Thị Đ chưa trả cho bị cáo Q. Do số tiền này bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị HĐXX buộc bà Trịnh Diệu K nộp lại số tiền 5.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị Thu T nộp lại số tiền 17.600.000đ, bà Lê Thị Kim L nộp lại số tiền 2.800.000đ, ông Nguyễn Ngọc T1 nộp lại số tiền 3.000.000đ, bà Phạm Thị Đ nộp lại số tiền 5.200.000₫ để sung ngân sách Nhà nước.

Đối với số tiền lãi (3.690.334đ) tính theo mức lãi suất 20%/năm theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự là số tiền bị cáo thu được khi thực hiện hành vi phạm tội nên cần buộc bị cáo nộp lại để sung ngân sách Nhà nước.

Đối với số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất 20%/năm theo quy định và phí vay tổng cộng là 78.809.666đ là số tiền thu lợi bất chính, đề nghị HĐXX buộc bị cáo Trần Văn Q trả lại cho bà Trịnh Diệu K, bà Nguyễn Thị Thu T, bà Lê Thị Kim L, bà Lý Lệ H, ông Châu Minh M1, ông Nguyễn Ngọc T1, bà Phạm Thị Đ.

Về xử lý vật chứng:

Đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen

Đề nghị tiêu hủy xác sim số 0798056779

Đối với xe mô tô nhãn hiệu SIRIUS, biển số 66V1-221.44, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã trả lại cho bà Phan Thúy P là phù hợp nên không đề nghị HĐXX xem xét.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Trần Văn Q khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng và bản luận tội đã nêu; bị cáo không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại về quyết định và hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Bị cáo thừa nhận tội và không thực hiện quyền tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Cơ quan tiến hành tố tụng: Tại phiên tòa bị cáo Q không khiếu nại các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố. Hồ sơ vụ án thể hiện trong giai đoạn điều tra, truy tố Cơ quan tiến hành tố tụng, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định pháp luật. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình điều tra, truy tố vụ án thì hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Điều tra viên và Kiểm sát viên được tiến hành đúng theo các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[1.2]. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2]. Về nội dung vụ án:

[2.1]. Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa bị cáo Trần Văn Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng các chứng cứ sau: Lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trịnh Diệu K, bà Nguyễn Thị Thu T, bà Lê Thị Kim L, bà Lý Lệ H, ông Châu Minh M1, ông Nguyễn Ngọc T1, bà Phạm Thị Đ; sổ phụ kiêm phiếu báo nợ của Ngân hàng thương mại cổ phần K1 chi nhánh L1 và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận:

Từ tháng 3/2023 đến ngày 10/2023, Trần Văn Q đã cho 7 người gồm: bà Trịnh Diệu K, bà Nguyễn Thị Thu T, bà Lê Thị Kim L, bà Lý Lệ H, ông Châu Minh M1, ông Nguyễn Ngọc T1, bà Phạm Thị Đ vay tổng số tiền là 303.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất 1%/ngày, tương đương với mức lãi suất từ 365%/năm, cao gấp hơn 5 lần so với mức lãi suất cao nhất trong giao dịch dân sự quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự thu lợi bất chính là 78.809.666 đồng. Do đó hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự" theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự.

[2.2]. Xét, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực tín dụng và hoạt động kinh doanh tiền tệ, xâm phạm đến lợi ích của công dân. Bị cáo là người trưởng thành, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức hành vi cho vay lãi nặng là nguy hiểm cho xã hội nhưng vì động cơ vụ lợi, mục đích thu lợi bất chính một cách nhanh nhất đã bất chấp phạm tội với lỗi cố ý nên cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây ra để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[2.3]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Tình tiết tăng nặng: Không

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[2.4]. Về hình phạt: Xét hành vi phạm tội của bị cáo Trần Văn Q là ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt, có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo cũng đủ sức răn đe giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời cũng không làm ảnh hưởng đến việc đấu tranh, phòng chống tội phạm tại địa phương.

[2.5]. Xét thấy hình phạt tiền đã đủ sức răn đe bị cáo nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[2.6]. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, 47, 48 Bộ luật Hình sự, Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 hướng dẫn về việc xét xử về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự:

[2.6.1]. Đối với số tiền gốc vay 269.400.000 đồng bà Trịnh Diệu K, bà Nguyễn Thị Thu T, bà Lê Thị Kim L, bà Lý Lệ H, ông Châu Minh M1, ông Nguyễn Ngọc T1, bà Phạm Thị Đ đã trả cho bị cáo; đây là số tiền bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên buộc bị cáo nộp lại để sung ngân sách nhà nước.

Buộc bà Trịnh Diệu K nộp lại số tiền nợ gốc 5.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị Thu T nộp lại số tiền nợ gốc 17.600.000đ, bà Lê Thị Kim L nộp lại số tiền nợ gốc 2.800.000đ, ông Nguyễn Ngọc T1 nộp lại số tiền nợ gốc 3.000.000đ, bà Phạm Thị Đ nộp lại số tiền nợ gốc 5.200.000₫ đã vay chưa trả cho bị cáo để nộp vào ngân sách Nhà nước.

[2.6.2]. Đối với số tiền lãi (3.690.334đ) tính theo mức lãi suất 20%/năm theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự là số tiền bị cáo thu được khi thực hiện hành vi phạm tội nên cần buộc bị cáo nộp lại để sung ngân sách Nhà nước.

[2.6.3]. Đối với số tiền thu lợi bất chính là 78.809.666đ, HĐXX thấy cần buộc bị cáo Trần Văn Q nộp lại để trả lại cho bà Trịnh Diệu K, bà Nguyễn Thị Thu T, bà Lê Thị Kim L, bà Lý Lệ H, ông Châu Minh M1, ông Nguyễn Ngọc T1, bà Phạm Thị Đ là phù hợp.

[2.7]. Về xử lý vật chứng:

[2.7.1]. Đối với 01 điện thoại di động hiệu N1 màu đen bị cáo Q dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

[2.7.2]. Đối với xác sim số 0798056779 bị cáo Q dùng để thực hiện hành vi phạm tội không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

[2.7.3]. Đối với xe mô tô nhãn hiệu SIRIUS, biển số 66V1-221.44, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã trả lại cho bà Phan Thúy P là phù hợp nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[3]. Đối với kết luận của cơ quan cảnh sát điều tra: Nhận thấy trong quá trình cho vay bị cáo Q đã thu của những người vay một khoản tiền là phí vay. Tại công văn số 53/LAN-TTGSNH ngày 12/01/2024 của Ngân hàng N2 chi nhánh tỉnh L1 xác định phí vay hiện nay chưa được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật. Mặt khác phí vay là khoản tiền bị cáo thu được liên quan đến hoạt động cho vay lãi nặng. Do đó căn cứ vào Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 hướng dẫn về việc xét xử về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự thì phí vay là thu lợi bất chính nhưng kết luận điều tra lại cho rằng đó là giao dịch dân sự khác là chưa chính xác cần xác định đây là khoản thu lợi bất chính mà bị cáo có được trong hoạt động cho vay lãi nặng để tịch thu trả lại cho những người vay.

[4]. Đối với các giao dịch Q chuyển tiền và nhận tiền của người khác. Tại phiên tòa, Q khai Q hoạt động cho vay dưới hình thức rải tờ rơi có ghi rõ số điện thoại để người nào có nhu cầu thì liên hệ với Q nên những người vay đều không có quan hệ gì với bị cáo; các giao dịch chuyển nhận tiền khác tại bản sổ phụ kiêm phiếu báo nợ của Ngân hàng thương mại cổ phần K1 chi nhánh L1 là của người thân, bạn bè của bị cáo, không liên quan tới hoạt động cho vay lãi nặng. Quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra đã phát tin báo tìm người Quý cho vay nhưng không có cá nhân nào trình báo. Do đó kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra, nếu có đủ cơ sở thì xử lý bằng vụ án khác.

[5]. Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa đã phản ánh đúng hành vi mà bị cáo đã thực hiện, phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xác định cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại phiên tòa đề nghị của ông Kiểm sát viên là có căn cứ pháp luật được chấp nhận.

[6]. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn Q phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
  2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 201; Điều 35, Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

    - Xử phạt bị cáo Trần Văn Q 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng)

  3. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, 47, 48 Bộ luật Hình sự, Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 hướng dẫn về việc xét xử về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự:
  4. Buộc bị cáo Trần Văn Q phải nộp số tiền gốc vay là 269.400.000 đồng và 3.690.334 đồng tiền lãi tính theo mức lãi suất 20%/năm quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự để nộp vào ngân sách Nhà nước.

    Buộc bà Trịnh Diệu K nộp lại số tiền nợ gốc 5.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị Thu T nộp lại số tiền nợ gốc 17.600.000đ, bà Lê Thị Kim L nộp lại số tiền nợ gốc 2.800.000đ, ông Nguyễn Ngọc T1 nộp lại số tiền nợ gốc 3.000.000đ, bà Phạm Thị Đ nộp lại số tiền nợ gốc 5.200.000đ đã vay chưa trả cho bị cáo để nộp vào ngân sách Nhà nước.

    Buộc bị cáo trả lại cho bà Trịnh Diệu K số tiền 38.900.707 đồng, bà Nguyễn Thị Thu T số tiền 7.293.151đ, bà Lê Thị Kim L số tiền 1.628.794đ, ông Nguyễn Ngọc T1 số tiền 16.469.187đ, bà Phạm Thị Đ số tiền 5.928.785đ; bà Lý Lệ H số tiền 2.863.014đ, ông Châu Minh M1 số tiền 5.726.028đ.

  5. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  6. Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen.

    Tịch thu tiêu hủy 01 xác sim số 0798056779.

    (Vật chứng này hiện nay do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An đang quản lý theo quyết định chuyển vật chứng số 11/QĐ-VKS, ngày 14/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa).

  7. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa. Buộc bị cáo Trần Văn Q phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  8. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án (ngày 15/8/2024). Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện T;
  • - Chi cục THADS huyện T;
  • - Công an huyện T;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Long An;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH LONG AN về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 42/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Q
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger