|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 42/2024/HS-ST Ngày 15-5-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: |
Ông Lê Chí Công |
Các Hội thẩm nhân dân: |
Bà Hồ Thị Hoa |
|
Ông Nguyễn Tấn Hưng |
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Ý - Kiểm sát viên
Ngày 15 tháng 5 năm 2024 tại Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 46/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Hoàng K, sinh ngày 01 tháng 01 năm 2000 tại A, Kiên Giang; CCCD số [...]; Nơi cư trú: ấp G, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Công nhân, làm ruộng; trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn C (đã chết) và bà Lý Thị L; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt phạm tội quả tang ngày 26/12/2023, tạm giữ ngày 27/12/2023, chuyển tạm giam ngày 04/01/2024 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 26/12/2023 Nguyễn Hoàng K dùng điện thoại di động kêu Hồ Hoàng T chở đi ra chợ T1 7 để mua đồ và uống nước thì được T đồng ý. Thức điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 68FA - 057.11 của mẹ ruột là Nguyễn Thị L1 chở K đến quán H1 thuộc ấp G, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang để cùng nhau uống nước. Tại đây, K nhìn thấy người nam thanh niên (chưa rõ nhân thân) đứng cách quán hơn 100m, do K là người sử dụng ma túy nên đi bộ đến để hỏi mua 300.000 đồng ma túy về để sử dụng được nam thanh niên đồng ý. Ma túy được để trong ống hút nhựa, để bên trong khẩu trang y tế và đặt dưới lộ. Sau khi mua được ma túy K đi bộ về quán cùng uống nước với T. Một lúc sau, T chở K đi mua đồ ở chợ T1 7 rồi chạy xe về nhà, khi đến đoạn đường K thuộc ấp G X, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang thì bị lực lượng công an kiểm tra và bắt quả tang cùng tang vật.
Trong quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện A tiến hành thu giữ vật chứng gồm: 01 (một) đoạn ống hút nhựa trong suốt, bên trong chứa nhiều hạt tinh thể không đồng nhất, được quấn trong khẩu trang y tế; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh, đã qua sử dụng và 01 (một) xe môtô, nhãn hiệu Vison, màu xám, biển số: 68FA-057.11.
Tại bản Kết luận giám định số 1368/KL-KTHS, ngày 31/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh K kết luận:
- - Nhiều hạt tinh thể màu trắng, không đồng nhất chứa bên trong 01 (một) đoạn ống hút nhựa trong suốt được niêm phong gửi đi giám định là ma túy, loại M. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,2141gam.
- Methamphetamin là chất ma túy nằm trong danh sách mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ”.
Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện A đã xử lý vật chứng trả lại tài sản cho chủ sở hữu gồm: Trả lại cho bị can Nguyễn Hoàng K 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh. Trả lại cho bà Nguyễn Thị L1 01 (một) xe môtô, nhãn hiệu Vison, màu xám, biển số: 68FA-057.11 do không liên quan đến vụ án.
Tại Cáo trạng số 31/CT-VKS-AM ngày 29-3-2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang truy tố Nguyễn Hoàng Khải về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
- - Kiểm sát viên kết luận bị cáo Nguyễn Hoàng K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng K từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Về vật chứng: điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì được niêm phong, có ký hiệu vụ số: 1368/2023, có chữ ký của giám định viên Lê Đức H, người chứng kiến niêm phong Đặng Hoàng O và hình dấu tròn của Phòng K1 - Công an tỉnh K. Bên trong có chứa 0,2097 gam Methamphetamine còn lại sau giám định và bao gói đựng mẫu; 01 (Một) khẩu trang y tế đã qua sử dụng.
- - Bị cáo trình bày: Bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi vi phạm đúng như cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát đã nêu, không đối đáp, tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng bị cáo trình bày đã biết lỗi, rất hối hận về hành vi của bản thân đã thực hiện, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện cơ bản đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về hành vi phạm tội, tội danh:
[2.1] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó có đủ căn cứ để kết luận: Vào khoảng 14 giờ ngày 26/12/2023, Nguyễn Hoàng K đi uống nước cùng bạn tại quán H1 thuộc ấp G, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang, tại đây K mua ma túy của một người thanh niên với số tiền 300.000 đồng. Sau khi mua ma túy xong K cất giấu vào trong người, trên đường về đến ấp G, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang thì Công an phát hiện và bắt quả tang, kết quả điều tra xác định số ma túy trên là do K mua về để sử dụng. Theo Kết luận giám định chất ma túy mà K tàng trữ là loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,2141 gam.
[2.2] Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với ma túy và các chất gây nghiện khác; khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; nhận thức rõ ma túy là chất quản lý đặc biệt nhưng đã tàng trữ trái phép là phạm tội với lỗi cố ý; mục đích tàng trữ ma túy của bị cáo là để sử dụng, không nhằm để mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy; loại ma túy bị cáo tàng trữ là Methamphetamine có khối lượng 0,2141 gam. Do đó, Viện kiểm sát truy tố và kết luận bị cáo Nguyễn Hoàng K phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Đối với Hồ Hoàng T đã chở bị cáo đi nhưng không biết việc bị cáo đã mua ma túy và tàng trữ trong người nên không phải là đồng phạm.
[3] Về hình phạt:
[3.1] Về tình tiết tăng nặng, tính chất của vụ án: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng hành vi phạm tội là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, là nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn xã hội khác và bất bình trong nhân dân. Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy cũng như hậu quả và những hệ lụy của việc sử dụng chất ma túy để lại đối với sức khỏe, kinh tế của bản thân người sử dụng, gia đình và xã hội nhưng vẫn thực hiện. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo thật nghiêm để có thời gian giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.
[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải; có thân nhân là người có công với cách mạng (Ông N là liệt sĩ, Bà N tham gia kháng chiến chống Mỹ). Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[3.3] Về quyết định hình phạt, HĐXX thấy rằng bị cáo đã phạm tội nghiêm trọng có khung hình phạt từ 01 đến 05 năm tù, làm phức tạp thêm tình hình tệ nạn ma túy, gây bất ổn và gây dư luận không tốt ở địa phương nên cần phải áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, buộc chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định. Thấy bị cáo mới phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt nên chỉ cần xử phạt mức đầu khung hình phạt là phù hợp với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, HĐXX nhận thấy lẽ ra áp dụng hình phạt bổ sung để tăng tính răn đe. Tuy nhiên, nhận thấy bị cáo có thu nhập thấp, không ổn định, phải thi hành hình phạt tù khó đảm bảo khả năng thi hành án nên không áp dụng đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng, đối với số ma túy là vật cấm tàng trữ, khẩu trang y tế không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[6] Về án phí, bị cáo Nguyễn Hoàng K chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[7] Đối với người bán ma túy cho bị cáo hiện chưa xác định được lai lịch, nhân thân nên chưa xử lý trong vụ án này là phù hợp. Đề nghị Viện kiểm sát, cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng K 01 (một) năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo bị bắt theo biên bản bắt người phạm tội quả tang (ngày 26-12-2023).
- Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng.
- Về biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì được niêm phong, có ký hiệu vụ số: 1368/2023, có chữ ký của giám định viên Lê Đức H, người chứng kiến niêm phong Đặng Hoàng O và hình dấu tròn của Phòng K1 - Công an tỉnh K. Bên trong có chứa 0,2097 gam Methamphetamine còn lại sau giám định và bao gói đựng mẫu; 01 (Một) khẩu trang y tế đã qua sử dụng (hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh đang quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 14/QĐ-VKS-HS ngày 29-3-2024 của VKSND huyện An Minh).
- Về án phí, căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Nguyễn Hoàng K chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 15-5-2024)./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Lê Chí Công |
Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy (criminal case)
- Số bản án: 42/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hoàng K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
