Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN THẠNH

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 42/2024/HS-ST

Ngày: 14-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH – TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Trần Thị Năm

Ông Nguyễn Vĩnh Lâm

- Thư ký phiên tòa: ông Trần Quốc Huỳnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh tham gia phiên tòa: bà Phạm Thị Kim The – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tiến hành xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự thụ lý số: 41/2024/HSST ngày 16 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Võ Văn N; sinh ngày: 01/01/1992; nơi sinh: tỉnh Long An; nơi cư trú: ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Long An; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ học vấn: 03/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; con của ông Võ Văn T và bà Phạm Thị H; vợ: Phan Thị P; có 01 người con chung sinh năm 2018; tiền sự: không; tiền án: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/02/2024, chuyển tạm giam từ ngày 08/02/2024 đến ngày 04/4/2024 thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: bà Phan Thị P, sinh năm: 1990; nơi cư trú: ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Long An.

- Người bào chữa cho bị cáo Võ Văn N: Luật sư Lê Văn L - Văn phòng Luật sư Phạm Minh T1 – Chi nhánh T4; địa chỉ: số A, đường L, khóm C, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp – thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và có gửi văn bản bào chữa cho bị cáo).

- Bị hại: Chị Trần Thị Cẩm T2, sinh năm: 1998; nơi cư trú: ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Long An (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người làm chứng:

  • + Ông Nguyễn Văn X, sinh năm: 1951; nơi cư trú: ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Long An (có mặt).
  • + Ông Nguyễn Văn C, sinh năm: 1968 nơi cư trú: ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Long An Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nhà của bị cáo Võ Văn N giáp ranh liền kề với nhà của bị hại Trần Thị Cẩm T2. Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 01/02/2024, Võ Văn N đang ở nhà của N nhìn sang nhà của T2 thì thấy T2 đang đi vào nhà tắm ở phía sau nhà. N đi qua nhà T2 bằng lối đi phía sau nhà. Sau khi đến nhà tắm của T2, N dùng tay vén tấm màn cửa nhà tắm bằng vải và nhìn thấy T2 đang tắm, trên người không mặc quần, áo. Tiếp đó, N sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu VIVO 1906 chụp 05 tấm ảnh T2 đang tắm không mặc quần, áo. Sau khi chụp xong, N đi vào nhà tắm với T2 thì T2 phát hiện nên lấy khăn che từ ngực đến chân và kêu N đi ra ngoài. T2 vừa nói vừa lấy cái kéo màu đen dùng để cắt gói xà bông trong nhà tắm cầm trên tay nhưng N vẫn không đi ra ngoài mà dùng tay giật cái kéo trên tay T2 ném ra ngoài. Sau đó, N dùng tay trái bóp vào ngực phải của T2, tay phải bóp vào bộ phận sinh dục của T2. Cùng lúc này, T2 lấy quần lót màu đen mặc vào trong người, sau đó dùng tay đẩy N lùi ra khỏi nhà tắm. N dùng tay nắm vào quần lót của T2 kéo T2 ra ngoài khỏi nhà tắm. Sau khi ra khỏi nhà tắm thì T2 té ngã nằm ngữa nên N ngồi xổm xuống cạnh người Tiên và dùng tay trái đè chèn ngang ngực của T2, bàn tay trái thì bóp vào ngực trái của T2, tay phải của N chèn đè khu vực đùi, bẹn của T2, bàn tay phải bóp liên tục vào bộ phận sinh dục của T2, đồng thời dùng ngón tay trỏ và ngón tay giữa đưa vào bên trong âm hộ của T2 rồi lấy ra ngoài bóp vào bộ phận sinh dục của T2, rồi tiếp tục đưa ngón tay trỏ và ngón tay giữa bàn tay phải vào sâu trong âm hộ của T2, N làm như vậy khoảng 3-4 lần. Lúc này, T2 nằm giãy giụa và kêu lớn “Dượng bảy ơi” thì N dùng tay bịt miệng T2 lại nhằm không để T2 la lớn. N dùng tay phải bóp vào bộ phận sinh dục của T2 thì lúc này T2 dùng tay phải bóp mạnh vào cổ N. Nghe có tiếng người sợ bị phát hiện nên N đứng dậy đi về nhà của N để tắm, thay quần, áo. Sau đó, N đến Công an xã T đầu thú.

Tại Bản Kết luận giám định xâm hại tình dục số 02/KLXHTDTE-TTPY ngày 06 tháng 02 năm 2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh L. Kết luận: Bộ phận sinh dục của Trần Thị Cẩm T2 có bị xây xát niêm mạc tiền đình âm đạo, đang sung huyết; cơ chế hình thành tổn thương có khả năng do ma sát.

Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 2423/KLGĐ ngày 15/5/2024 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Thành phố H kết luận: “Về y học: trước, trong, sau khi thực hiện hành vi phạm tội và hiện nay đối tượng Võ Văn N bị rối loạn nhân cách và hành vi do sử dụng rượu (F10.7-ICD10); về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: trước, trong, sau khi thực hiện hành vi phạm tội và hiện nay đối tượng Võ Văn N hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Tại bản cáo trạng số 43/CT-VKSTT, ngày 15/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh truy tố bị cáo Võ Văn N về tội “Hiếp dâm” theo quy định tại khoản 1 Điều 141 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo đồng thời phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi vi phạm pháp luật mà bị cáo Võ Văn N đã gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 141; điểm q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38, 50 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Võ Văn N từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Hiếp dâm”. Về vật chứng trong vụ án, căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị: giao trả tài sản cá nhân của bị hại Trần Thị Cẩm T2 gồm 01 quần lót màu đen, phần lưng màu nâu; 01 khăn tắm màu vàng, có họa tiết hoa văn màu đỏ, có kích thước 1,2 mét x 0,5 mét; 01 cái kéo bằng kim loại, chiều dài 23,5cm, phần lưỡi dài 14cm, nơi rộng nhất 03cm, mũi nhọn bị rỉ sét, phần cán dài 9,5cm, bên ngoài bao ống nhựa màu đen; 01 kẹp tóc màu hồng, có kích thước 4,5cm x 03cm; 02 bông tai bằng kim loại màu vàng có đính đá; giao trả cho bị cáo 01 đôi dép nhựa (dép tổ ong) màu xanh dương, bên dưới đế dép có số 42, đã qua sử dụng, là tài sản hợp pháp của Võ Văn N đã bỏ lại hiện trường sau khi thực hiện hành vi phạm tội; giao trả cho bị cáo 01 áo sơ mi dài tay, màu cam, có họa tiết sọc trước ngực áo; 01 quần tây dài, màu đen; 01 quần lót màu đen do bị cáo Võ Văn N giao nộp, là quần, áo Nhiên mặc khi thực hiện hành vi phạm tội; tịch thu 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO 1906, số IMEI 1: 868613043043836, số IMEI 2: 868613043043828, đã qua sử dụng là tài sản hợp pháp của Võ Văn N do đã sử dụng chụp hình khi T2 đang tắm.

Người bào chữa cho bị cáo vắng mặt tại phiên tòa nhưng có gửi bài luận cứ nêu quan điểm bào chữa cho bị cáo Võ Văn N như sau: trong suốt quá trình điều tra, truy tố bị cáo Võ Văn N đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, bày tỏ sự ăn năn hối cải về hành vi sai phạm của mình, không kêu oan nên về phần tội danh mà Viện kiểm sát truy tố người bào chữa không có ý kiến gì. Tuy nhiên, người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Võ Văn N theo quy định pháp luật, cụ thể như sau: trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án, bị cáo Võ Văn N đều thành khẩn khai báo, bày tỏ sự ăn năn hối cải về hành vi sai phạm của mình; căn cứ vào Bản kết luận giám định pháp y tâm thần thì bị cáo Võ Văn N bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi; đồng thời, bị cáo tự nguyện nộp tiền bồi thường cho bị hại nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, q, b khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và quyết định mức án thấp nhất khung hình phạt đối với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh truy tố.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận đối với luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng có văn bản nêu ý kiến không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự, về trách nhiệm hình sự bị hại đề nghị Tòa án xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật.

Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình để lo cho vợ và con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện, Viện kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều phù hợp quy định pháp luật.

[2] Về sự vắng mặt tại phiên tòa của những người tham gia tố tụng: Xét thấy người bào chữa cho bị cáo vắng mặt nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và có gửi luận cứ bào chữa cho bị cáo; bị hại vắng mặt nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và có bản tự khai nêu rõ ý kiến, yêu cầu của mình; người làm chứng vắng mặt nhưng cũng có đơn xin xét xử vắng mặt. Tòa án đã tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng cho những người tham gia tố tụng nêu trên. Bị cáo không đề nghị hoãn phiên tòa. Xét thấy sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 291, 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Tại phiên tòa bị cáo Võ Văn N khai nhận hành vi phạm tội đã thực hiện đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Có đủ cơ sở xác định được như sau: khoảng 18 giờ 30 phút ngày 01/02/2024, lợi dụng lúc bị hại Trần Thị Cẩm T2 đang tắm, bị cáo Võ Văn N đã dùng vũ lực thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của bị hại Võ Thị Cẩm T3 tại khu vực nhà tắm của nhà bị hại ở ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Long An.

Xét thấy, trước, trong và sau khi thực hiện hành vi “Hiếp dâm”, bị cáo Võ Văn N hạn chế khả năng nhận thức và đều khiển hành vi căn cứ bản Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 2423/KLGĐ ngày 15/5/2024 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Thành phố H kết luận: “Về y học: trước, trong, sau khi thực hiện hành vi phạm tội và hiện nay đối tượng Võ Văn N bị rối loạn nhân cách và hành vi do sử dụng rượu (F10.7-ICD10); về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: trước, trong, sau khi thực hiện hành vi phạm tội và hiện nay đối tượng Võ Văn N hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Tuy nhiên, bị cáo vẫn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm đã thực hiện. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của bị hại tới cùng, mặc dù bị hại đã chống cự, kêu cứu.

Vì vậy, hành vi của bị cáo đã phạm tội “Hiếp dâm” theo quy định tại khoản 1 Điều 141 Bộ luật Hình sự. Tại Điều 141 Bộ luật Hình sự quy định năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

“1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.

Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An truy tố bị cáo Võ Văn N về tội “Hiếp dâm” theo quy định tại khoản 1 Điều 141 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Hành vi trái pháp luật của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xem thường pháp luật. Hành vi của bị cáo thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp, đã xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về tình dục của người phụ nữ, xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, sức khỏe của người bị hại. Đồng thời, hành vi của bị cáo vi phạm đạo đức, gây mất trật tự ở địa phương, gây hoang mang, bức xúc trong nhân dân. Do đó cần thiết xử lý bị cáo bằng một hình phạt nghiêm mới có thể răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Khi quyết định hình phạt cần xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.

[5] Về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự

[6] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[6.1] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

[6.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Căn cứ kết Kết luận giám định pháp y tâm thần số 2423/KLGĐ ngày 15/5/2024 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Thành phố H kết luận bị cáo Võ Văn N hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Do đó, bị cáo được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm q khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Trong thời gian chuẩn bị mở phiên tòa, bị cáo có đơn đề nghị nộp tiền bồi thường thiệt hại cho bị hại nhằm bồi thường thiệt hại, tổn thất tinh thần cho bị hại do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra. Tuy nhiên, sau khi làm việc với bị hại, bị hại xác định từ chối nhận bồi thường và xác định không yêu cầu bị cáo bồi thường bất cứ khoản nào từ khi điều tra vụ án cho đến nay. Đồng thời, bị cáo, bị hại xác định trước đây, gia đình của bị cáo đến nhà của bị hại để thỏa thuận bồi thường thiệt hại nhưng bị hại đã từ chối, không đồng ý nhận tiền bồi thường. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mặc dù bị hại không yêu cầu bồi thường nhưng bản thân bị cáo đã tự nhận thức được hành vi trái pháp luật và hậu quả đã gây ra đối với bị hại nên tự nguyện bồi thường, bù đắp thiệt hại, tổn thất tinh thần cho bị hại. Do đó, bị cáo được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Ngoài ra, xét thấy bị cáo tự nguyện đầu thú; bị cáo có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương; có ông nội là liệt sĩ nên được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[7] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có thể răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu nên xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo với mức hình phạt thấp nhất của khung hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị.

Từ những phân tích nêu trên, xét đề nghị của Kiểm sát viên, của người bào chữa cho bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[8] Về vật chứng:

[8.1] Đối với tài sản cá nhân của bị hại Trần Thị Cẩm T2 gồm 01 quần lót màu đen, phần lưng màu nâu; 01 khăn tắm màu vàng, có họa tiết hoa văn màu đỏ, có kích thước 1,2 mét x 0,5 mét; 01 cái kéo bằng kim loại, chiều dài 23,5cm, phần lưỡi dài 14cm, nơi rộng nhất 03cm, mũi nhọn bị rỉ sét, phần cán dài 9,5cm, bên ngoài bao ống nhựa màu đen; 01 kẹp tóc màu hồng, có kích thước 4,5cm x 03cm; 02 bông tai bằng kim loại màu vàng có đính đá bị hại yêu cầu nhận lại nên giao trả cho bị hại.

[8.2] Đối với tài sản cá nhân của bị cáo gồm: 01 đôi dép nhựa (dép tổ ong) màu xanh dương, bên dưới đế dép có số 42, đã qua sử dụng, là tài sản hợp pháp của Võ Văn N đã bỏ lại hiện trường sau khi thực hiện hành vi phạm tội; giao trả cho bị cáo 01 áo sơ mi dài tay, màu cam, có họa tiết sọc trước ngực áo; 01 quần tây dài, màu đen; 01 quần lót màu đen do bị cáo Võ Văn N giao nộp đây là quần, áo Nhiên mặc khi thực hiện hành vi phạm tội. Xét thấy, đây là tài sản cá nhân của bị cáo không liên quan hành vi phạm tội, bị cáo yêu cầu nhận lại nên giao trả cho bị cáo.

[8.3] Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO 1906, số IMEI 1: 868613043043836, số IMEI 2: 868613043043828, đã qua sử dụng là tài sản hợp pháp của Võ Văn N. N đã sử dụng chụp hình khi T2 đang tắm, có liên quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

[9] Về trách nhiệm dân sự:

Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo tác động vợ và mẹ của bị cáo đến nhà của bị hại, gặp bị hại để thỏa thuận bồi thường nhưng bị hại từ chối nhận. Trong thời gian chuẩn bị xét xử, bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị cáo tự nguyện chuẩn bị số tiền 5.000.000đ và nộp đơn đề nghị cho nộp tiền bồi thường thiệt hại, tổn thất tinh thần cho bị hại. Tuy nhiên, qua làm việc, bị hại từ chối nhận nên đã tạm giao cho bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị cáo quản lý số tiền nêu trên, khi nào bị hại có yêu cầu thì bị cáo thực hiện nghĩa vụ bồi thường cho bị hại. Do đó, về trách nhiệm dân sự bị hại không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đề cập.

[10] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; cần buộc bị cáo phải chịu 200.000₫ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Võ Văn N phạm tội “Hiếp dâm”.

    Căn cứ khoản 1 Điều 141; điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Võ Văn N 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam (từ ngày 02/02/2024 đến ngày 04/4/2024).

  2. Về vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ Luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự.

    2.1. Giao trả cho chị Trần Thị Cẩm T2 01 quần lót màu đen, phần lưng màu nâu; 01 khăn tắm màu vàng, có họa tiết hoa văn màu đỏ, có kích thước 1,2 mét x 0,5 mét; 01 cái kéo bằng kim loại, chiều dài 23,5cm, phần lưỡi dài 14cm, nơi rộng nhất 03cm, mũi nhọn bị rỉ sét, phần cán dài 9,5cm, bên ngoài bao ống nhựa màu đen; 01 kẹp tóc màu hồng, có kích thước 4,5cm x 03cm; 02 bông tai bằng kim loại màu vàng có đính đá, đã qua sử dụng.

    2.2. Giao trả cho bị cáo Võ Văn N 01 đôi dép nhựa (dép tổ ong) màu xanh dương, bên dưới đế dép có số 42, đã qua sử dụng; 01 áo sơ mi dài tay, màu cam, có họa tiết sọc trước ngực áo; 01 quần tây dài, màu đen; 01 quần lót màu đen.

    2.3. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO 1906, số IMEI 1: 868613043043836, số IMEI 2: 868613043043828, đã qua sử dụng.

    Vật chứng do Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Thạnh đang tạm giữ theo Quyết định chuyển vật chứng số 33/QĐ-VKSTT ngày 15/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/7/2024.

  3. Án phí hình sự sơ thẩm:

    Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: căn cứ các điều 331, 333 Bộ Luật tố tụng hình sự.

    Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - Sở tư pháp tỉnh Long An
  • - VKSND huyện Tân Thạnh;
  • - Công an huyện Tân Thạnh;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Thạnh;
  • - Bị cáo; Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH – TỈNH LONG AN về hiếp dâm

  • Số bản án: 42/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hiếp dâm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH – TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Văn N phạm tội “Hiếp dâm”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger