Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2024/HS-PT

Ngày 14 - 6 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Hữu

Các Thẩm phán: Ông Võ Văn Vinh và ông Lê Quốc Hương

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phan Hoàng Duy - Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Tố Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 34/2024/TLPT-HS ngày 01 tháng 04 năm 2024 đối với Vũ Văn T do có kháng cáo của bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2024/HS-ST ngày 22-01-2024 của Toà án nhân dân huyện Đắk G'Long.

Bị cáo có kháng cáo:

Vũ Văn T, sinh năm 1991 tại tỉnh Đắk Nông; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn H, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; nơi ở hiện nay: Bon B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Duy H và bà Đỗ Thị H1; tiền án, tiền sự: không; tại ngoại - có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phạm Quốc H2 - Luật sư của Công ty L và Cộng sự, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H; địa chỉ: Tổ dân phố A, phường N, thành Phố G, tỉnh Đắk Nông - có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Vũ Văn V; địa chỉ: Bon P, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông - có mặt.

Bà Phạm Thị P; địa chỉ: Bon B'Srê B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông - Vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Vũ Văn V: Ông Nguyễn Văn H3, Luật sư văn phòng luật sư Nguyễn Thiên H4 - thuộc đoàn luật sư tỉnh Đ; địa chỉ: N, tổ B, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông - Có mặt.

Người làm chứng: Bà Hoàng Thị D; địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông - Vắng mặt.

Ông Trần Phú K; địa chỉ: Bon B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Văn T sống cùng nhà và làm thuê cho gia đình chị Nguyễn Thị D1 tại bon B' Dơng, xã Đ, huyện Đ. Quá trình sinh sống, T biết chị D1 và anh Vũ Văn V (chồng cũ chị D1) có thửa đất số 17, tờ bản đồ số 83, diện tích 27.093,1m² tại thôn A, xã Q, huyện Đ đã được đo đạc nhưng chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (GCN QSDĐ). Năm 2017, T liên hệ với người trên mạng xã hội (hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch), cung cấp thông tin cá nhân (họ tên, năm sinh, số CCCD, địa chỉ thường trú) và thông tin thửa đất số 17 của chị D1 để đặt mua 01 GCN QSDĐ giả với giá 1.000.000 đồng. Khoảng 01 tuần sau khi đặt mua, T nhận được 01 GCN QSDĐ giả số BR 418079, do UBND huyện Đ cấp ngày 22/9/2017, đứng tên Vũ Văn T với thửa đất nêu trên.

Khoảng tháng 11-2018, T nhờ bạn là Trần Phú K tìm chỗ cầm cố GCNQSDĐ để vay tiền. Khiên liên hệ và được bà Phạm Thị P đồng ý cho vay. Ngày 22-11-2018, K dẫn T tới nhà bà P. Tại đây, T đưa GCN QSDĐ số BR 418079 cho bà P để làm tin; bà P viết giấy cho T vay số tiền 50.000.000 đồng, thời hạn vay 20 ngày. Đến ngày 24-12-2018, T trả cho bà P số tiền 30.000.000 đồng, số tiền còn lại, bà P nhiều lần đòi nhưng T đến khất nợ và chưa trả. Đến ngày 17-7-2021, anh Vũ Văn V phát hiện T sử dụng GCN QSDĐ giả nên làm đơn tố cáo. Cùng ngày, bà Phạm Thị P giao nộp GCN QSDĐ số BR 418079 cho Cơ quan điều tra. Ngày 18-7-2021, Vũ Văn T nhờ Hán Q chuyển khoản, trả cho bà P số tiền 35.000.000 đồng. Quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Tại bản Kết luận giám định số 162/GĐTL-PC09 ngày 21-10-2021 của Phòng KTHS Công an tỉnh Đ kết luận:

1. Phôi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BR 418079 cần giám định là giả, được tạo ra bằng phương pháp in màu.

2. Chữ ký mang tên Trần Nam T1 trên tài liệu cần giám định so với chữ ký của Trần Nam T1 trên tài liệu mẫu không phải do cùng một người ký ra. Chữ ký mang tên Trần Nam T1 trên tài liệu cần giám định được tạo ra bằng phương pháp ký trực tiếp.

3. Hình dấu tròn màu đỏ có nội dung "U.B.N.D HUYỆN ĐĂK GIONG - TỈNH ĐĂK NÔNG" trên tài liệu cần giám định so với hình dấu tròn màu đỏ có cùng nội dung trên tài liệu mẫu không phải do cùng một con dấu đóng ra. Hình dấu trên tài liệu cần giám định được tạo ra bằng phương pháp in màu.

Tại bản Kết luận giám định số 170/GĐTL-PC09 ngày 27-10-2021 của Phòng KTHS Công an tỉnh Đ kết luận: Chữ ký, chữ viết mang tên Vũ Văn T trên giấy vay tiền ngày 22-11-2018 và 16-12-2018 là do Vũ Văn T viết, ký ra.

Vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã thu giữ: 01 GCN QSDĐ SỐ BR 418079; 02 giấy vay tiền ghi ngày 22-11-2018 và ngày 16-12-2018 giữa Vũ Văn T và bà Phạm Thị P.

Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2024/HS-ST ngày 22-01-2024 của Toà án nhân dân huyện Đắk G'Long đã quyết định: Tuyên bố Vũ Văn T phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” và “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức".

Áp dụng khoản 1 Điều 341; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Vũ Văn T 06 tháng tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Vũ Văn T 08 tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức". Tổng hợp hình phạt chung của hai tội là 01 năm 02 tháng tù.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo.

Ngày 29-01-2024, bị cáo Vũ Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Ngày 31-01-2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Vũ Văn V kháng cáo đề nghị huỷ bản án sơ thẩm số 02/2024/HS-ST ngày 22-01-2024 của Toà án nhân dân huyện Đắk Glong để điều tra lại.

Tại phiên tòa phúc thẩm, Vũ Văn T thừa nhận Tòa án nhân dân huyện Đắk G'Long xử phạt bị cáo về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” là đúng, không oan và giữ nguyên kháng cáo. Bị cáo cho rằng không phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức" theo khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Vũ Văn V giữ nguyên kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm đã tuyên của toà án nhân huyện Đắk Glong về tội danh, hình phạt và điều luật áp dụng.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Thống nhất quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận đơn của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Vũ Văn V trình bày: Đồng ý việc ông Vũ Văn V không có quyền kháng cáo về phần vượt quá phạm vi của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm đối với bà D1 là đồng phạm đối với các hành vi của bị cáo; có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đối với hành vi sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả đi cầm cố của bị cáo T, nên đề nghị huỷ bản án sơ thẩm để trả hồ sơ điều tra bổ sung.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Vũ Văn V trình bày: Đồng ý với quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

Bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2024/HS-ST ngày 22-01-2024 của Toà án nhân dân huyện Đắk G'Long đã kết án Vũ Văn T về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” và “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức" theo khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

[2]. Xét kháng cáo của Vũ Văn T, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, ban đầu bị cáo cho rằng chữ ký tại hai tờ giấy vay tiền không phải do bà P ký ra, người làm chứng, người liên quan nộp đơn cho rằng Vũ Văn T không dùng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả để thế chấp vay tiền mà chỉ nhờ bà P cầm hộ. Vì vậy, cho rằng bị cáo không phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tuy nhiên, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ, lời khai của bị cáo, người làm chứng, người liên quan trong vụ án cũng như tại phiên toà xét xử sơ thẩm và quá trình tranh tụng tại phiên toà phúc thẩm, thấy rằng. Do muốn vay tiền nên Vũ Văn T đã nhờ Trần Phú K thông qua mối quan hệ quen biết dẫn T đến vay tiền của bà P. Quá trình vay tiền T có sử dụng 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả mang tên Vũ Văn T để thế chấp cho khoản vay là có cơ sở, bởi lẽ: Qua lời khai của chính bị cáo T, lời khai của người liên quan bà P, người làm chứng ông K (bút lục 144,148) và chị D con gái bà P (bút lục 150), đều thể hiện việc T có đến vay tiền cũng như dùng 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thế chấp, làm tin đối với bà P, bà P còn trực tiếp dùng chứng minh nhân dân của T để đối chiếu với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và xác nhận đúng tên Vũ Văn T thì mới đồng ý cho T vay tiền. Như vậy việc vay tiền là có thật và các bên đều thừa nhận. Do đó, việc bị cáo yêu cầu giám định chữ ký của bà P trong hai tờ giấy vay tiền có đúng của bà P ký hay không cũng không làm thay đổi bản chất của vụ án vì vậy không có căn cứ chấp nhận yêu cầu giám định chữ ký này. Đồng thời chính bà P khai rằng nếu T không đưa ra giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì sẽ không cho T vay tiền (bút lục 141-143 và 208). Việc tại hai tờ giấy vay tiền không ghi nội dung thế chấp 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả mang tên Vũ Văn T do có sự cam đoan của K cũng như cho rằng các bên tin tưởng nhau nên thống nhất không ghi nội dung này vào giấy vay tiền; thông qua lời khai của K, T và của bà P. Vì vậy, đối với việc bị cáo T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà P và người làm chứng ông K thay đổi lời khai so với lời khai tại giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm cho rằng bị cáo không phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” là không có căn cứ. Qua quá trình tranh tụng công khai tại phiên toà bị cáo cũng đã thừa nhận hành vi phạm tội của tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” đúng như nội dung đã phân tích. Vì vậy, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo đối với nội dung này.

Nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo, xét thấy: Trong vụ án này bị cáo bị kết án về 02 tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” và “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, giai đoạn xét xử phúc thẩm mặc dù có đơn xin giảm nhẹ hình phạt của ông Trần Phú K và bà Phạm Thị P, tuy nhiên ông K và bà P không thuộc trường hợp người có quyền xin giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định. Xét thấy tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử phạt bị cáo 06 tháng tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” và 08 tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” là tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi, hậu quả do bị cáo gây ra, bị cáo không đủ điều kiện được hưởng án treo, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo việc giáo dục đối với bị cáo cũng như phòng ngừa chung trong xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận kháng cáo.

[3]. Đối với kháng cáo của ông Vũ Văn V là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 65 và khoản 4 Điều 331 của Bộ luật Tố tụng hình sự quy định. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo các vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình. Trong vụ án này việc ông Vũ Văn V kháng cáo đề nghị toà án cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện Đắk Glong xử phạt Vũ Văn T để điều tra lại vì cho rằng có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm đối với bà D1 là đồng phạm đối với các hành vi của bị cáo; có dấu hiệu bỏ lọt tội tội phạm của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đối với hành vi sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả đi cầm cố của bị cáo T đối với bà P là không có căn cứ, vượt quá phạm vi kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Vì vậy Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận xem xét kháng cáo.

[4]. Trong vụ án này cấp sơ thẩm có sai sót, cụ thể: Việc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo nội dung vượt quá quyền kháng cáo của mình. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm không giải thích, làm việc với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mà vẫn nhận và giải quyết là chưa đúng. Đồng thời tại phần nhận định của cấp sơ thẩm đối với nội dung ý kiến của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cấp sơ thẩm nhận định việc làm giả, sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của cơ quan nhà nước về con dấu, tài liệu, không thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hại là chưa chính xác bởi lẽ trong vụ án này anh Vũ Văn V tham gia với vai trò người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chứ không phải bị hại trong vụ án nên cấp sơ thẩm nhận định như trên là chưa phù hợp. Các sai sót mà cấp sơ thẩm mắc phải Hội đồng xét xử nêu ra để cấp sơ thẩm rút kinh nghiệm.

[5]. Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử phúc thẩm cần chấp nhận.

Xét quan điểm của người bào chữa cho bị cáo, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án tại phiên tòa là chưa phù hợp nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận.

[6]. Về án phí: Kháng cáo của Vũ Văn T không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí phúc thẩm.

[7]. Đối với các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

1. Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Vũ Văn V và bị cáo Vũ Văn T giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 02/2024/HS-ST ngày 22-01-2024 của Toà án nhân dân huyện Đắk Glong về điều luật áp dụng và hình phạt.

Tuyên bố bị cáo Vũ Văn T phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” và “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức".

Áp dụng khoản 1 Điều 341; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Vũ Văn T 06 tháng tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.

Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Vũ Văn T 08 tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức".

Áp dụng khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt chung của hai tội là 01 năm 02 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Vũ Văn T phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDTC (Vụ I);
  • - VKSND tỉnh Đắk Nông;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông;
  • - Phòng HSNV Công an tỉnh Đắk Nông;
  • - CQTHAHS Công an tỉnh Đắk Nông;
  • - TAND huyện Đăk G'Long;
  • - VKSND huyện Đắk G'Long;
  • - Chi cục THADS huyện Đắk G'Long;
  • - CQCSĐT Công an huyện Đắk G'Long;
  • - CQTHAHS Công an huyện Đắk G'Long;
  • - Bị cáo và người bào chữa;
  • - Lưu: Tổ HCTP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Hữu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/HS-PT ngày 14/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG về hình sự phúc thẩm (làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức và sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)

  • Số bản án: 42/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Văn T phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” và “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức" , theo khoản 1 Điều 341
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger