Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NINH KIỀU

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 14/6/2024

V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Yến Nhi

- Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Minh Phương
  2. Bà Nguyễn Thị Hoàng Oanh

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Cao Kỳ Quang - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

Trong ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số: 111/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 03 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 221/2024/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 221/2024/QĐST-DS ngày 17/5/2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Phan Tuyết M sinh năm: 1996 (xin giải quyết vắng mặt)
  • Địa chỉ: Cấp T, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.
  • - Bị đơn: Ông Lâm Trung Hiếu sinh năm: 1990 (xin giải quyết vắng mặt)
  • Địa chỉ: 3 khu V, P. A, Q. N, TP ..

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết, nguyên đơn bà Phan Tuyết M trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Sau một thời gian quen biết bà và ông H quyết định tiến đến hôn nhân được hai họ đồng ý tổ chức lễ cưới, sau đó bà và ông H đăng ký kết hôn đã được Ủy ban nhân dân P, Q. N, TP . cấp giấy chứng nhận kết hôn số 93, ngày 17/06/2022. Quá trình chung sống giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Bà và ông H đã sống ly thân hơn 01 tháng. Giữa bà và ông H đã mâu thuẫn trầm trọng khoảng 07-8 tháng. Hiện nay, bà xác định bà không còn tình cảm với ông H. Công việc của bà đã làm quen từ trước khi bà và ông H kết hôn đến nay nên không thể thay đổi công việc để về sống chung với ông H. Bà đã cho ông H nhiều thời gian và cơ hội nhưng ông H vẫn không thay đổi, hay chửi bà, không tôn trọng bà, bà không thể chịu đựng được nữa.

Nhận thấy, việc sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, nay tình cảm không thể hàn gắn nên bà xin được ly hôn với ông Lâm Trung H1.

- Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

*Tại biên bản hoà giải ngày 04/4/2024 bị đơn ông Lâm Trung H1 trình bày:

Ông thống nhất với lời trình bày của bà M về thời gian quen nhau, đăng ký kết hôn. Hiện nay, ông còn thương vợ (bà M) nên không đồng ý ly hôn. Ông thừa nhận ông có chửi bà M là do ông ghen tuông công việc của bà M làm ban đêm nên chửi bà. Ông có đề nghị bà M đổi công việc làm ban ngày để vợ chồng gần nhau nhưng bà M không đồng ý nên ông và bà M mâu thuẫn, cãi nhau. Hiện nay ông và bà M đã ly thân.

- Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do ông bận công việc nên đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt ông.

Ngày 04/4/2024, Toà án đã tiến hành mở phiên họp về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải nhưng các đương sự không thoả thuận được với nhau. Mặt khác, nguyên đơn và bị đơn đều đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt. Do đó, Toà án tiến hành đưa vụ án ra xét xử theo quy định pháp luật.

Theo đơn xin hoãn phiên toà đề ngày 06/4/2024 của ông Lâm Trung H1 thể hiện nội dung xin hoãn: ông cho rằng ông còn thương bà M nên xin thời gian 60 ngày để ông tìm biện pháp hàn gắn tình cảm và đơn xin hoãn phiên toà của ông đề ngày 13/5/2024 thể hiện nội dung: ông xin thời gian 30 ngày để ông có cơ hội để xem vợ ông còn nghĩ lại thương ông rút đơn ly hôn, do ông còn thương vợ.

Tại phiên tòa,

Nguyên đơn bà Phan Tuyết M có ý kiến xin giải quyết vắng mặt tại biên bản hoà giải ngày 04/4/2024 và bà vắng mặt tại phiên toà nhưng trình bày ý kiến theo nội dung biên bản hoà giải, vẫn giữ yêu cầu xin ly hôn.

Bị đơn ông Lâm Trung H1 xin giải quyết vắng mặt tại biên bản hoà giải ngày 04/4/2024, ông H1 không đồng ý ly hôn, ông cho rằng ông còn thương bà M và xin thời gian hàn gắn tình cảm, ông vắng mặt tại phiên toà nên không có ý kiến gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1]Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Phan Tuyết M và ông Lâm Trung H1 tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, quận N nên xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ và điều chỉnh khi có yêu cầu. Quá trình chung sống, bà M và ông H1 phát sinh mâu thuẫn nên bà M có đơn khởi kiện nên quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp ly hôn”. Bị đơn cư trú tại quận N nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Ninh Kiều theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

2]Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn và bị đơn có đơn xin giải quyết vắng mặt tại biên bản hoà giải ngày 04/4/2024. Do vụ án hoà giải không thành nên đưa vụ án ra xét xử.

Khi Toà án đưa vụ án ra xét xử đã tống đạt hợp lệ cho các đương sự tham gia phiên tòa vào các ngày 23/4/2024, ngày 17/5/2024 và ngày 14/6/2024 nhưng bị đơn xin hoãn phiên toà lần 1 ngày 23/4/2024 và phiên toà lần 2 ngày 17/5/2024 để có thời gian hàn gắn tình cảm với nguyên đơn. Đến phiên toà lần 3 ngày 14/6/2024, bị đơn vắng mặt không rõ lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

3]Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Xét thấy, bà M và ông H1 tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn và được UBND phường P cấp giấy chứng nhận kết hôn số 93, ngày 17/06/2022. Ông bà chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Theo bà M thì nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, ông H1 thường xuyên chửi bà, không tôn trọng bà, bà đã từng nộp đơn ly hôn nhưng đã rút đơn để cho ông H1 nhiều thời gian và nhiều cơ hội để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông vẫn không thay đổi, mà vẫn chửi bà, không tôn trọng bà, bà không thể chịu đựng được nữa. Giữa bà và ông H1 đã mâu thuẫn trầm trọng khoảng 07-8 tháng. Công việc của bà đã làm quen từ trước khi bà và ông H1 kết hôn đến nay nên không thể thay đổi công việc để về sống chung với ông H1. Hiện nay bà và ông H1 đã sống ly thân. Nhận thấy, việc sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, nay bà xác định bà không còn tình cảm với ông H1, tình cảm không thể hàn gắn nên bà xin được ly hôn với ông Lâm Trung H1.

Tại biên bản hoà giải, ông H1 thừa nhận ông có chửi bà M là do ông ghen công việc của bà M làm ban đêm nên chửi bà. Ông có đề nghị bà M đổi công việc làm ban ngày để vợ chồng gần nhau nhưng bà M không đồng ý nên ông và bà M mâu thuẫn, cãi nhau. Ông còn thương vợ (bà M) nên không đồng ý ly hôn, xin thời gian để hàn gắn tình cảm.

Hội đồng xét xử xét thấy: Hôn nhân giữa bà M và ông H1 đã rạn nứt, ông H1 thừa nhận nguyên nhâu mâu thuẫn như bà M trình bày là đúng. Nhận thấy mâu thuẫn giữa ông bà đã trầm trọng, hôn nhân đã chấm dứt trên thực tế, ông bà đã sống ly thân, giữa hai bên không có sự quan tâm, tôn trọng, chăm sóc lẫn nhau. Ông H1 xin thời gian để hàn gắn tình cảm với bà M. Tòa án đã hoãn các phiên toà, cho thời gian hơn 02 tháng kể từ ngày hòa giải để ông H1 và bà M hàn gắn tình cảm với nhau nhưng đến nay bà M vẫn giữ yêu cầu ly hôn. Theo bà M trình bày thì giữa bà và ông không thể hàn gắn tình cảm với nhau được, bà không còn tình cảm với ông, bà và ông H1 không thể hàn gắn tình cảm được nhau. Bà M vẫn giữ yêu cầu ly hôn.

Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa ông bà đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Nếu tiếp tục kéo dài cũng không đem lại hạnh phúc cho bà M cũng như ông H1 nên căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phan Tuyết M.

- Về con chung: Ông bà không có con chung, không đặt ra xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Ghi nhận lời trình bày của bà M và ông H1 không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Khi nào có yêu cầu và phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.

- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn bà Phan Tuyết M phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng bà được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Điều 27 Nghị quyết số 326/2017/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Tuyết M.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Tuyết M được ly hôn với ông Lâm Trung H1.

- Về con chung: không có, không đặt ra xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Ghi nhận lời trình bày của các đương không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Khi nào có yêu cầu và phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.

- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn bà Phan Tuyết M phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng bà được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001076 ngày 21/3/2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều. Đương sự đã nộp xong án phí.

- Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

*Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Tòa án nhân dân TP . Cần Thơ;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Q.Ninh Kiều;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Q.Ninh Kiều;
  • - Uỷ ban nhân dân phường An Khánh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Yến Nhi

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/HNGĐ-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 42/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Phan Tuyết M được ly hôn với ông Lâm Trung H1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger