Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 42/2024/HS-ST

Ngày 14 tháng 6 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vi Thị Hương Giang

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Trần Anh Dũng;
  2. Ông Trần Văn Thiện;

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Văn Quang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện VKSND huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Hà Đăng C - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 35/2024/HSST ngày 25 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024, quyết định hoãn phiên toà số: 67/2024/QÐST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Phạm Văn D, sinh năm 1987; nơi cư trú: thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: tự do; chức vụ: không có; trình độ văn hóa: 11/12; con ông: Phạm Văn H và con bà: Nguyễn Thị S (đã chết); có vợ và 01 con; gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ ba; tiền án: không; tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 03/01/2024 đến ngày 11/01/2024 hủy bỏ biện pháp tạm giữ và bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1993 (vắng mặt).

Địa chỉ: thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1986 (có mặt).

Địa chỉ: Thôn C, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

Anh Phạm Văn N, sinh năm 1985 (vắng mặt).

Địa chỉ: thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1987 (vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn C, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

- Người làm chứng:

Anh Trần Văn N1 (vắng mặt).

Anh Nguyễn Bích T1 (vắng mặt);

Chị Nông Thị N2 (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 15 phút, ngày 02/01/2024, lực lượng Cảnh sát Giao thông Công an huyện T phối hợp với lực lượng Cảnh sát kinh tế Công an huyện T tiến hành tuần tra, kiểm tra trên tuyến đường tỉnh lộ 294 đoạn qua địa bàn thôn Đ, xã P, huyện T phát hiện Phạm Văn D, sinh năm: 1987, trú tại thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Giang điều khiển 01 (một) xe ô tô Biển kiểm soát 98A – 549.53, màu trắng đang di chuyển trên đường bê tông từ thôn Đ, xã P hướng đi Tỉnh lộ 294 có dấu hiệu vi phạm nồng độ cồn. Lực lượng Cảnh sát Giao thông tiến hành kiểm tra nồng độ cồn đối với D phát hiện D có nồng độ cồn là 0,584mg/lít khí thở, tổ công tác tiến hành kiểm tra hàng hóa trên xe ô tô, qua kiểm tra phát hiện tại khu vực để đồ phía sau của xe ô tô Biển kiểm soát 98A – 549.53 có 02 (hai) bao tải dứa nghi vấn bên trong có chứa hàng cấm (pháo nổ), tiến hành mở 02 bao tải dứa tổ công tác phát hiện bên trong hai bao tải dứa có chứa tổng số 26 (hai mươi sáu) khối hình hộp, vỏ ngoài bọc giấy màu, trên giấy có nhiều hoa văn và chữ nước ngoài, bên trong mỗi khối có 36 vật hình trụ tròn được liên kết với nhau bằng dây dẫn (nghi là pháo nổ). Cơ quan điều tra tiến hành niêm phong vật chứng và đưa Phạm Văn D cùng vật chứng về trụ sở Công an xã P lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Vật chứng thu giữ gồm:

Thu giữ trong cốp xe Biển kiểm soát 98A – 549.53:

  • 18 (mười tám) khối hình hộp, vỏ ngoài bọc giấy màu, trên giấy có nhiều hoa văn và chữ nước ngoài, bên trong mỗi khối hình hộp có 36 vật hình trụ tròn được liên kết với nhau bằng dây dẫn (nghi là pháo nổ), được niêm phong trong bao tải dứa màu xanh, có dán giấy niêm phong, trên giấy có chữ ký của những người tham gia và dấu của Công an xã P.
  • 08 (tám) khối hình hộp, vỏ ngoài bọc giấy màu, trên giấy có nhiều hoa văn và chữ nước ngoài, bên trong mỗi khối hình hộp có 36 vật hình trụ tròn được liên kết với nhau bằng dây dẫn (nghi là pháo nổ) được niêm phong trong bao tải dứa màu trắng có nhiều chữ màu xanh, đỏ, có dán giấy niêm phong, trên giấy có chữ ký của những người tham gia và dấu của Công an xã P

Thu giữ tại túi quần bên phải phía trước số tiền 2.690.000 đồng (hai triệu sáu trăm chín mươi nghìn đồng) được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “TIỀN”.

Thu giữ tại túi quần bên trái phía trước của Phạm Văn D 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone, màu hồng, có số IMEI là: 357271097239608; số sim số điện thoại 0987.806.xxx, điện thoại cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng.

Thu giữ tại túi quần bên phải phía sau 01 chiếc ví da màu nâu, bên trong có 01 giấy phép lái xe số [...] mang tên Phạm Văn D.

Thu giữ tại cốp xe phía trước ghế phụ bên phải 01 giấy chứng nhận kiểm định số 3293107 đối với xe ô tô Biển kiểm soát 98A 549.53 có hiệu lực đến ngày 26/3/2025; 01 giấy Biên nhận thế chấp giữa ngân hàng TMCP T4 – T5 đối với xe ô tô Biển kiểm soát 98A 549.53 mang tên Nguyễn Văn N3 có giá trị đến ngày 04/04/2024.

Điện thoại, ví da và các giấy tờ nêu trên được niêm phong trong hộp bìa cát tông ký hiệu “QT1”.

01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI Creta màu trắng, Biển kiểm soát: 98A – 549.53, xe cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng. (BL: 34-39; 55)

Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Văn D, kết quả không thu giữ đồ vật gì.

Tại Cơ quan điều tra, tại phiên toà Phạm Văn D khai nhận: Bị cáo và Nguyễn Văn T, sinh năm 1986, thôn C, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang có mối quan hệ chơi hội, phường với nhau lâu năm, bị cáo cho T vay tiền nhiều lần, số tiền nhiều, ít đều có; bị cáo có quen biết với Nguyễn Văn P, sinh năm 1993 ở thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Vào khoảng ngày 30/12/2023, Nguyễn Văn P số điện thoại 0969.888.xxx gọi điện thoại cho D nhờ D mua hộ P 26 bệ pháo loại 36 quả/bệ, D đồng ý, sau đó D dùng điện thoại lắp sim số 0987.806.xxx gọi vào số điện thoại 0943.700.xxx cho Nguyễn Văn T để đặt mua 26 (hai mươi sáu) bệ pháo hoa loại 36 quả/bệ thì T đồng ý và thỏa thuận với D là giá 26 bệ pháo là 18.000.000 đồng. Đến trưa ngày 02/01/2024, D gọi điện cho P thống nhất 26 bệ pháo giá 18.500.000 đồng, P đồng ý chuyển 18.500.000 đồng cho D. Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 02/01/2024 khi D đang ở nhà tại thôn L, xã P, huyện T thì T có điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Ford, không rõ biển kiểm soát bao nhiêu đi đến nhà D, sau đó T có gọi D ra xe ô tô và bảo D bê pháo vào trong nhà, D mở cửa xe thì thấy T để 02 (hai) bao tải, bên trong là pháo hoa nên D bê thẳng vào trong nhà mình và cất ở gầm bàn bi-a trong nhà D, D chuyển khoản số tiền 18.000.000 đồng cho T. Sau khi thanh toán tiền pháo xong thì T đi về, D vào nhà ăn cơm. Khoảng 20 giờ ngày

02/01/2024, D có hỏi mượn anh trai là Phạm Văn N, sinh năm 1985, trú tại thôn L, xã P chiếc xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Creta, màu trắng, biển kiểm soát 98A-549.53 để đi có việc. Sau khi mượn được xe D bê 02 (hai) bao tải chứa 26 bệ pháo hoa để trong cốp xe ô tô. Khoảng 21 giờ cùng ngày D điều khiển xe ô tô từ nhà mình theo hướng đi thôn Đ, xã P với mục đích mang số pháo hoa này để bán P. Khi đang điều khiển xe ô tô đi đến đường bê tông thôn Đ, xã P thì bị tổ công tác Công an huyện T kiểm tra, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi buôn bán hàng cấm và thu giữ các vật chứng có liên quan như đã nêu trên. Bị cáo không có ý kiến yêu cầu gì đối với số tiền đã nhận của P cùng như số tiền đã chuyển cho T.

Ngày 02/01/2024; Cơ quan điều tra đã kiểm tra chiếc điện thoại thu giữ của D, kết quả:

Mở ứng dụng “Điện thoại” tại phần “Gần đây”, D cho biết số điện thoại tên “Tuan” số điện thoại 0943.700.xxx là người bán pháo cho D. Trong ngày 02/01/2024, có liên hệ vào lúc 18h07 và 18h48. Số điện thoại 0969.888.xxx là số điện thoại của P là em vợ cũ của D (ở Đ, xã Đ).

Mở ứng dụng Zalo tên tài khoản “Gia Lộc” của số điện thoại 0987.806.xxx, D cung cấp mật khẩu ứng dụng là “1987”, Điều tra viên tiến hành kiểm tra tại mục tin nhắn có nội dung tin nhắn với tài khoản “Tuan” có hình ảnh căn cước công dân của Nguyễn Văn T, sinh ngày 23/9/1986 ở L, T, tỉnh Bắc Giang là người bán pháo cho D.

Các mục khác không phát hiện nội dung liên quan đến việc mua bán pháo.

Cơ quan điều tra đã khám xét khẩn cấp nơi ở của D không thu giữ được gì.

Căn cứ lời khai của D, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn T, sinh năm 1986, trú tại thôn C, xã L, huyện T. Kết quả khám xét thu giữ:

01 khẩu súng tự chế thu giữ tại phòng ngủ tầng 2 của vợ chồng Nguyễn Văn T.

Ngày 03/01/2024; Cơ quan điều tra trưng cầu giám định Phòng K Công an tỉnh B giám định vật chứng thu giữ trong 02 bao tải có phải pháo nổ không? Khối lượng bao nhiêu? Và giám định 01 khẩu sung tự chế có phải là vũ khí quân dụng không?

Tại kết luận giám định số 60/KL-KTHS ngày 08/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh B Kết luận:

Trong 01 bao tải dứa màu xanh đã được niêm phong gửi giám định: 18 (mười tám) khối hình hộp, bên ngoài mỗi khối được dán giấy nhiều hoa văn và chữ nước ngoài, bên trong mỗi khối có 36 (ba mươi sáu) vật hình trụ, vỏ

giấy, được liên kết với nhau bằng dây dẫn Pháo nổ (Pháo hoa nổ), tổng khối lượng là 25,2 kg (hai mươi lăm phẩy hai kilogam).

Trong 01 (một) bao tải dứa màu trắng đã được niêm phong gửi giám định: 08 (tám) khối hình hộp, bên ngoài mỗi khối được dán giấy nhiều hoa văn và chữ nước ngoài, bên trong mỗi khối có 36 (ba mươi sáu) vật hình trụ, vỏ giấy, được liên kết với nhau bằng dây dẫn pháo nổ (Pháo hoa nổ), tổng khối lượng 11,4 kg (mười một phẩy bốn ki lo gam).

Tại Kết luận giám định số 87/KL-KTHS ngày 11/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Vật hình dạng khẩu súng gửi giám định là súng hơi cỡ nòng 5,5mm, thuộc súng săn, không thuộc vũ khí quân dụng.

Tiến hành thu giữ điện tín các số điện thoại 0969.888.xxx; 0987.806.488 và 0943.700.766 lần lượt là các thuê bao chinh chủ của Nguyễn Văn P, Phạm Văn D, và Nguyễn Văn T phát hiện trong ngày 02/01/2024 phát sinh cuộc gọi nhưng không thu giữ được nội dung cuộc gọi.

Quá trình điều tra Cơ quan điều tra tiến hành sao kê giao dịch tài khoản ngân hàng xác định số tài khoản là 102872173014 của Ngân hàng V là của Phạm Văn D, số tài khoản 2222198656789 ngân hàng M là của Nguyễn Văn T và số tài khoản 1023055417 ngân hàng V1 là của Phạm Thanh T2, sinh năm 1999, trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện T là vợ của Nguyễn Văn P, Cơ quan điều tra xác định vào ngày 02/01/2024 có phát sinh giao dịch chuyển nhận tiền giữa các tài khoản trên với nhau.

Đối với giấy phép lái xe số [...] mang tên Phạm Văn D, ngày 22/01/2024, Cơ quan điều tra đã bàn giao cho Đ, trật tự - Công an huyện T để thi hành biện pháp xử phạt bổ sung (tước giấy phép lái xe thời hạn 23 tháng) theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 59/QĐ-XPHC của Chủ tịch UBND tỉnh B. Đối với hành vi điều khiển phương tiện giao thông trong hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 0,4miligam/1lít khí thở và “điều khiển xe ô tô không có giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới của Phạm Văn D, ngày 10/01/2024 Chủ tịch UBND tỉnh B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 35.500.000 đồng, tước giấy phép lái xe thời hạn 23 tháng. Ngày 17/01/2024, Phạm Văn D đã chấp hành xong Quyết định trên tại biên lai thu tiền số 0001117.

Đối với số tiền 2.690.000 đồng được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “TIỀN”; 01 chiếc ví da màu nâu, đây là tài sản của D không liên quan đến việc phạm tội.

Đối với 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone, màu hồng, có số IMEI là: 357271097239608; số sim số điện thoại 0987.806.xxx, điện thoại cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng là điện thoại của D sử dụng vào việc liên lạc mua, bán pháo.

Đối với 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI Creta màu trắng, biển kiểm soát: 98A – 549.53; 01 giấy chứng nhận kiểm định số 3293107 đối với xe ô tô Biển kiểm soát 98A 549.53 có hiệu lực đến ngày 26/3/2025; 01 giấy Biên nhận thế chấp giữa ngân hàng TMCP T4 – T5 đối với xe ô tô Biển kiểm soát 98A 549.53 mang tên Nguyễn Văn N3 có giá trị đến ngày 04/04/2024, Cơ quan điều tra đã xác minh, xác định chiếc xe ô tô và các giấy tờ trên thuộc sở hữu của Phạm Văn N, sinh năm 1985, trú tại thôn L, xã P, huyện T. Khi cho D mượn xe anh N không biết và cũng không được D nói cho biết D mượn xe ô tô để chở pháo đi bán nên anh N không vi phạm. Ngày 31/01/2024 Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe ô tô và các giấy tờ nêu trên cho Phạm Văn N quản lý, sử dụng.

Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã đấu tranh với Nguyễn Văn T, tại phiên toà nhưng T không thừa nhận T bán pháo cho D như D đã khai. T khai T có quen biết, chơi cùng hội phường với Phạm Văn D nên thường xuyên liên lạc với nhau, do khoảng tháng 12/2023 T cho D vay tiền nên ngày 02/01/2024 D có chuyển khoản trả tiền cho T. Do có mâu thuẫn trong lời khai, Cơ quan điều tra đã tiến hành cho D đối chất với T nhưng các bên vẫn giữ nguyên lời khai. Do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý đối với Nguyễn Văn T về hành vi buôn bán hàng cấm. Tuy nhiên, quá trình điều tra đã xác định Nguyễn Văn T tàng trữ 01 (một) khẩu súng săn đã vi phạm vào điểm c, khoản 4, Điều 11 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ; phòng chống, bạo lực gia đình, Cơ quan điều tra chuyển tài liệu đến Chủ tịch UBND huyện T để xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với Nguyễn Văn P, sinh ngày 1993, trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Bắc Giang là người mà D khai mua pháo của D, Cơ quan điều tra đã đấu tranh với P, P thừa nhận có quen biết và chơi với Phạm Văn D, ngày 02/01/2024, D có liên lạc với P và vay P số tiền 20.000.000 đồng nhưng tài khoản của P không còn tiền nên P hỏi Nguyễn Thanh T3 (là vợ P) kiểm tra trong tài khoản chỉ có 18.500.000 đồng nên P đã cho D mượn số tiền trên, P bảo T3 chuyển khoản tiền cho D (P không nói cho T3 biết là tiền Phong cho D vay); P không thừa nhận mua pháo của Phạm Văn D như D đã khai, Cơ quan điều tra tiến hành cho D đối chất với P nhưng các bên vẫn giữ nguyên lời khai, ngoài lời khai của D ra không có tài liệu chứng cứ nào khác chứng minh P mua pháo của D nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý đối với Nguyễn Văn P, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Nguyễn Thị H1, sinh năm 1987, trú tại thôn C, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang là vợ của Nguyễn Văn T không biết việc T tàng trữ khẩu súng tự chế tại phòng ngủ tầng 2 nên Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý.

Đối với Nông Thị N2, sinh năm 1989, trú tại thôn L, xã P, huyện T là vợ của Phạm Văn D. Quá trình điều tra Nông Thị N2 khai nhận không biết việc Phạm Văn D buôn bán pháo nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xem xét, xử lý.

Đối với Phạm Thanh T2 là vợ của Nguyễn Văn P khai nhận ngày 02/01/2024, P có nhờ T2 gửi số tiền 18.500.000 đồng cho Phạm Văn D, T2 không biết đó là tiền gì và P sử dụng số tiền này như thế nào, Cơ quan điều tra không có căn cứ xem xét, xử lý đối với Phạm Thanh T2.

Tại bản cáo trạng số: 34/CT-VKS ngày 24 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên đã truy tố bị cáo Phạm Văn Duy, về tội: “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Về trách nhiệm hình sự:

    Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Phạm Văn D từ 2 năm 8 tháng tù đến 2 năm 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 5 năm, giao bị cáo cho UBND xã P giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án.

  • Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, khoản 2, điểm a khoản 3 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý vật chứng như sau:
    • Tịch thu tiêu hủy đối với 01 (một) bao tải dứa màu xanh hoàn lại tổng cộng 20,8 kg (hai mươi phẩy tám ki lo gam) pháo nổ (Pháo hoa nổ) được dán niêm phong bằng dấu của phòng K - Công an tỉnh B, có chữ ký của giám định viên và đại diện của cơ quan trưng cầu và 01 (một) bao tải dứa màu trắng hoàn lại tổng cộng 9,8 kg (chín phẩy tám ki lo gam) pháo nổ (pháo hoa nổ) được dán niêm phong bằng dấu của phòng K - Công an tỉnh B, có chữ ký của giám định viên và đại diện của cơ quan trưng cầu.
    • Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone, màu hồng, có số IMEI là: 357271097239608, số sim số điện thoại 0987.806.xxx, điện thoại cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng.
    • Trả lại cho D 01 chiếc ví da màu nâu, đã cũ, qua sử dụng; 01 (một) phong bì ghi chữ “TIỀN” được dán niêm phong bên trong có số tiền 2.690.000 đồng (hai triệu sáu trăm chín mươi nghìn đồng) nhưng tạm giữ để thi hành án.
    • Truy thu số tiền 500.000 đồng nộp ngân sách nhà nước.

- Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 BLTTHS, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự.

Bị cáo D nói lời nói sau cùng: Bị cáo (D) biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo ăn năn, hối cải. Đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hội đồng xét xử kết luận hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều đúng quy định và hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Xét thấy họ có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt họ không ảnh hưởng quá trình giải quyết của vụ án, căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

[3] Về tội danh và hình phạt: Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với vật chứng thu giữ được. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Hồi 21 giờ 15 phút ngày 02/01/2024, tại tuyến đường tỉnh lộ 294 đoạn qua địa bàn thôn Đ, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Giang; Lực lượng Cảnh sát giao thông Công an huyện T phối hợp với lực lượng Cảnh sát Kinh tế Công an huyện T bắt quả tang Phạm Văn D có hành vi chở 36,6 kg pháo nổ đi bán với giá 18.500.000 đồng với mục đích kiếm lời. Do vậy hành vi của bị cáo Phạm Văn D đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Buôn bán hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Xét nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo D không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiện hình sự: Quá trình điều tra, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có bố đẻ Phạm Văn H, mẹ Nguyễn Thị S có công với nhà nước, bản thân bị cáo và gia đình có đóng góp, ủng hộ các phong trào của thôn, xã. Do vậy bị cáo D được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về tính chất của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi của bị cáo Phạm Văn D là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, làm mất trật tự trị an tại địa phương, hành vi buôn bán pháo là hành vi pháp luật luật nghiêm cấm vì mục đích thu lời bất chính, bị cáo đã vi phạm pháp luật. HĐXX xét thấy: Bị cáo là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, có 02 tình tiết giảm nhẹ, không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo D cũng đủ để răn đe phòng ngừa chung tội phạm, đây là bài học để bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội. Do vậy, xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với hành vi của bị cáo D.

[8] Về hình phạt bổ sung bằng tiền: Bị cáo D lao động tự do, thu nhập không ổn định nên cần miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.

[9] Về các vấn đề khác:

  • - Đối với 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI Creta màu trắng, biển kiểm soát: 98A – 549.53; 01 giấy chứng nhận kiểm định số 3293107 đối với xe ô tô Biển kiểm soát 98A 549.53 có hiệu lực đến ngày 26/3/2025; 01 giấy Biên nhận thế chấp giữa ngân hàng TMCP T4 – T5 đối với xe ô tô Biển kiểm soát 98A 549.53 mang tên Nguyễn Văn N3 không liên quan đến tội phạm. Ngày 31/01/2024 Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe ô tô và các giấy tờ nêu trên cho Phạm Văn N quản lý, sử dụng, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  • - Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã đấu tranh với Nguyễn Văn T, nhưng T không thừa nhậnTuấn bán pháo cho D như D đã khai. T khai T có quen biết, chơi cùng hội phường với Phạm Văn D nên thường xuyên liên lạc với nhau, do khoảng tháng 12/2023 T cho D vay tiền nên ngày 02/01/2024 D có chuyển khoản trả tiền cho T. Do có mâu thuẫn trong lời khai, Cơ quan điều tra đã tiến hành cho D đối chất với T nhưng các bên vẫn giữ nguyên lời khai. Do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý đối với Nguyễn Văn T về hành vi buôn bán hàng cấm. Tuy nhiên, quá trình điều tra đã xác định Nguyễn Văn T tàng trữ 01 (một) khẩu súng săn đã vi phạm vào điểm c, khoản 4, Điều 11 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng

chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ; phòng chống, bạo lực gia đình, Cơ quan điều tra chuyển tài liệu đến Chủ tịch UBND huyện T để xử lý theo quy định của pháp luật, tại phiên toà anh T giữ nguyên ý kiến trên, nên Hội đồng xét xử không xem xết giải quyết.

  • - Đối với Nguyễn Văn P, sinh ngày 1993, trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Bắc Giang là người mà D khai mua pháo của D, Cơ quan điều tra đã đấu tranh với P, P thừa nhận có quen biết và chơi với Phạm Văn D, ngày 02/01/2024, D có liên lạc với P và vay P số tiền 20.000.000 đồng nhưng tài khoản của P không còn tiền nên P hỏi Nguyễn Thanh T3 (là vợ P) kiểm tra trong tài khoản chỉ có 18.500.000 đồng nên P đã cho D mượn số tiền trên, P bảo T3 chuyển khoản tiền cho D (P không nói cho T3 biết là tiền Phong cho D vay); P không thừa nhận mua pháo của Phạm Văn D như D đã khai, Cơ quan điều tra tiến hành cho D đối chất với P nhưng các bên vẫn giữ nguyên lời khai, ngoài lời khai của D ra không có tài liệu chứng cứ nào khác chứng minh P mua pháo của D nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý đối với Nguyễn Văn P, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  • - Đối với Nguyễn Thị H1, sinh năm 1987, trú tại thôn C, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang là vợ của Nguyễn Văn T không biết việc T tàng trữ khẩu súng tự chế tại phòng ngủ tầng 2 nên Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  • - Đối với Nông Thị N2, sinh năm 1989, trú tại thôn L, xã P, huyện T là vợ của Phạm Văn D. Quá trình điều tra Nông Thị N2 khai nhận không biết việc Phạm Văn D buôn bán pháo nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xem xét, xử lý, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  • - Đối với Phạm Thanh T2 là vợ của Nguyễn Văn P khai nhận ngày 02/01/2024, P có nhờ T2 gửi số tiền 18.500.000 đồng cho Phạm Văn D, T2 không biết đó là tiền gì và P sử dụng số tiền này như thế nào, Cơ quan điều tra không có căn cứ xem xét, xử lý đối với Phạm Thanh T2, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[10] Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, khoản 2, điểm a khoản 3 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý vật chứng như sau:

  • - Đối với 01 (một) bao tải dứa màu xanh hoàn lại tổng cộng 20,8 kg (hai mươi phẩy tám ki lô gam) pháo nổ (Pháo hoa nổ) được dán niêm phong bằng dấu của phòng K - Công an tỉnh B, có chữ ký của giám định viên và đại diện của cơ quan trưng cầu và 01 (một) bao tải dứa màu trắng hoàn lại tổng cộng 9,8 kg (chín phẩy tám ki lô gam) pháo nổ (pháo hoa nổ) được dán niêm phong bằng dấu của phòng K - Công an tỉnh B, có chữ ký của giám định viên

và đại diện của cơ quan trưng cầu là vật nhà nước cấm tàng trữ cần tịch thu tiêu huỷ.

  • - Đối với 01 (một) hộp bìa cát tông không có giá trị nên cần tịch thu và tiêu huỷ.
  • - Đối với 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone, màu hồng, có số IMEI là: 357271097239608, số sim số điện thoại 0987.806.xxx, điện thoại cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng là phương tiện liên quan đến tội phạm nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước
  • - Đối với 01 chiếc ví da màu nâu, đã cũ, qua sử dụng; 01 (một) phong bì ghi chữ “TIỀN” được dán niêm phong bên trong có số tiền 2.690.000 đồng (hai triệu sáu trăm chín mươi nghìn đồng), không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để thi hành án.
  • - Đối với số tiền 500.000 đồng là tiền bị cáo D thu lợi bất chính nên cần truy thu sung công quỹ nhà nước.

[11] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Phạm Văn D phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

[11] Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1, khoản 4 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt là có căn cứ cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, khoản 2, điểm a khoản 3 điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Xử phạt bị cáo Phạm Văn D 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 14/6/2024, về tội “Buôn bán hàng cấm”.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo vắng mặt nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách,

người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo.

2. Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Văn D phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về vật chứng:

  • - Tịch thu tiêu hủy đối với 01 (một) bao tải dứa màu xanh hoàn lại tổng cộng 20,8 kg (hai mươi phẩy tám ki lô gam) pháo nổ (Pháo hoa nổ) được dán niêm phong bằng dấu của phòng K - Công an tỉnh B, có chữ ký của giám định viên và đại diện của cơ quan trưng cầu; 01 (một) bao tải dứa màu trắng hoàn lại tổng cộng 9,8 kg (chín phẩy tám ki lô gam) pháo nổ (pháo hoa nổ) được dán niêm phong bằng dấu của phòng K - Công an tỉnh B, có chữ ký của giám định viên và đại diện của cơ quan trưng cầu; 01 (một) hộp bìa cát tông.
  • - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone, màu hồng, có số IMEI là: 357271097239608, số sim số điện thoại 0987.806.xxx, điện thoại cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng.
  • - Trả lại cho bị cáo D 01 chiếc ví da màu nâu, đã cũ, qua sử dụng; 01 (một) phong bì ghi chữ “TIỀN” được dán niêm phong bên trong có số tiền 2.690.000 đồng (hai triệu sáu trăm chín mươi nghìn đồng) nhưng tạm giữ để thi hành án.
  • - Truy thu số tiền 500.000 đồng đối với bị cáo D nộp ngân sách nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cường chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND Tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Tân Yên;
  • - Công an huyện Tân Yên;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Yên;
  • - UBND xã Phúc Sơn, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
  • - Bị cáo, người liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vi Thị Hương Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 14/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG về buôn bán hàng cấm (tội phạm hình sự)

  • Số bản án: 42/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm (Tội phạm hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn Duy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger