|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 42 /2024/HSST Ngày: 14/6/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP, TỈNH NGHỆ AN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ phiên toà: Ông Quán Vi T.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Khởi.
Ông Hồ Tiến Dũng.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Trần Anh Quân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Trương Văn Hào - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 14/6/2024, tại trụ sở UBND xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự, thụ lý số 37/2024/TLST-HS, ngày 31/5/2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử, số 56/2024/QĐST-HS, ngày 04/6/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Văn Á, tên gọi khác: Không;
Sinh năm 1993, tại huyện Q, tỉnh Nghệ An;
Nơi cư trú: Bản C, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn B và bà: Lô Thị T1; Vợ, Vi Thị H (đã ly hôn); Con: Có 01 con, sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự và nhân thân: Không. Bị cáo bị tạm giữ, giam tại nhà giữ Công an huyện Q, tỉnh Nghệ An từ ngày bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam 03/5/2024 đến nay, tại Nhà Tạm giữ - Công an huyện Q.
(Có mặt).
Người làm chứng: Ông Hồ Xuân T2, sinh năm 1967.
Trú tại: Bản C, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào hồi 18 giờ 15 phút, ngày 03/5/2024, tại đoạn đường Q, thuộc bản C, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Công an xã C phát hiện bắt quả tang Lê Văn Á, đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trên tay phải của Lê Văn Á, 01 gói nylon trong suốt, bên trong có chứa chất bột nén màu trắng (nghi là ma tuý) có khối lượng là 0,5 gam, ngoài ra còn thu giữ 01 điện thoại di động có gắn 01 thẻ Sim 0981151765. Lê Văn Á được bàn giao cho Cơ quan CSĐT - Công an huyện Q, tỉnh Nghệ An để giải quyết.
Tại Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại, lập ngày 03/5/2024, của Cơ quan CSĐT - Công an huyện Q, tỉnh Nghệ An xác định: 01 gói nylon trong suốt, bên trong có chứa chất bột nén màu trắng có khối lượng là 0,5 gam, đã lấy 0,154 gam đi giám định.
Kết luận giám định số 500/KL-KTHS (Đ2-MT), ngày 10/5/2024, của Phòng K - Công an tỉnh Nghệ An xác định: Mẫu chất bột nén màu trắng thu giữ của Lê Văn Á, gửi đến giám định là ma túy loại Heroine, có khối lượng là 0,5 gam.
Bản Cáo số 42/CT-VKSQH, ngày 30/5/2024, của VKSND huyện Quỳ Hợp, truy tố bị cáo Lê Văn Á về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 điều Bộ luật Hình sự.
Tại cơ quan Điều tra và phiên tòa, bị cáo Lê Văn Á khai nhận: Bản thân là người nghiện chất ma túy, loại ma túy thường sử dụng là Heroine. Khoảng 11 giờ ngày 03/5/2024, Lê Văn Á đi xe Bus xuống khu vực chợ D, thuộc xã N, huyện Q, tỉnh Nghệ An để mua ma tuý về sử dụng, tại đây Lê Văn Á đã mua 01 gói ma túy, với số tiền 500.000 đồng của một người đàn ông không quen biết, sau khi mua được ma túy, Lê Văn Á đi xe B1 về đến khu vực chợ Đ, xã C thì xuống đi bộ, khi Lê Văn Á đang cầm số ma túy mua được trên tay phải về đến bản C, xã C thì bị phát hiện và thu giữ. Bị cáo Lê Văn Á nhất trí với cáo trạng của VKSND huyện Quỳ Hợp, truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật như nội dung Cáo trạng, và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 điều, điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình Sự phạt bị cáo Lê Văn Á 15 tháng đến 18 tháng tù.
Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 và điểm a khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố hình sự: Vỏ bao và giấy niêm phong, cùng với 0,355 gam ma túy loại Heroine, đề nghị tịch thu tiêu huỷ.
01 điện thoại di động có gắn 01 thẻ Sim 0981151765, đề nghị trả lại cho chủ sở hữu Lê Văn Á.
Về án phí: Bị cáo Lê Văn Á phải chịu tiền án phí theo quy định của pháp luật và đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.
Bị cáo Lê Văn Á nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời nói sau cùng: Biết việc làm của mình là sai trái mong Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Chứng cứ xác định có tội: Căn cứ tài liệu, chứng cứ Cơ quan Điều tra thu thập được tại hồ sơ vụ án, căn cứ lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa, đã có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 18 giờ 15 phút, ngày 03/5/2024, tại đoạn đường Q thuộc bản C, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Lê Văn Á đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,5 gam ma tuý loại Heroine, nhằm mục đích để sử dụng thì bị phát hiện và bắt giữ. Lời khai nhận của bị cáo Lê Văn Á tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, vật chứng được thu giữ, gồm: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 03/05/2024. Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 03/05/2024; Bản kết luận giám định số 500/KL-KTHS (Đ2-MT), ngày 10/5/2024, của Phòng K - Công an tỉnh N xác định: Mẫu chất bột nén màu trắng thu giữ của Lê Văn Á, gửi đến giám định là ma túy loại Heroine, có khối lượng là 0,5 gam. Do đó, hành vi của Lê Văn Á cất giữ ma túy 0,5 gam heroine nhằm mục đích sử dụng đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi của bị cáo Lê Văn Á là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định của Nhà nước về chế độ quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, là nguyên nhân gây ra nhiều tệ nạn xã hội.
Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do đó cần áp dụng để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Đối với người đàn ông bán ma túy cho Lê Văn Á, do không xác định được địa chỉ, lai lịch cụ thể nên không có căn cứ để xử lý.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng ...”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo đang bị tạm giam, trước khi phạm tội bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn, nghiện chất ma tuý. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Vật chứng vụ án: Số ma tuý thu giữ của Lê Văn Á sau khi đi giám định, còn lại có khối lượng 0,355 gam ma túy loại Heroine, vỏ bao và giấy niêm phong là vật Nhà nước cấm lưu hành, nên cần tịch thu tiêu hủy.
01 điện thoại di động có gắn 01 thẻ Sim 0981151765, là tài sản của bị cáo không liên quan đến tội phạm cần trả lại cho Lê Văn Á.
[7] Về án phí: Bị cáo Lê Văn Á chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lê Văn Á 15 (Mười lăm) tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 03/5/2024.
2. Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 2 điểm và a khoản 3 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy ma túy còn lại 0,355 gam (Heroine ), vỏ bao và giấy niêm phong.
Trả lại cho bị cáo Lê Văn Á 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, mặt trước màu đen, mặt sau màu xanh lơ, có gắn 01 thẻ Sim 0981151765.
Đặc điểm chi tiết vật chứng được phản ánh tại biên bản giao nhận vật chứng, lập ngày 31/5/2024, giữa Công an huyện Q và Cục Thi hành án Dân sự huyện Q.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố hình sự, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV.
Bị cáo Lê Văn Á phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, vắng mặt người làm chứng. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An, trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 14/6/2024.
|
Nơi nhận:
|
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Quán Vi Tuấn |
Bản án số 42/2024/HSST ngày 14/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP, TỈNH NGHỆ AN về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 42/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
