TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 42/2024/HS-PT Ngày 13 tháng 6 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hà.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thúy Hoàn và ông Ngô Thế Tương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa:
Bà Bùi Thị Thúy Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 44/2024/TLPT-HS ngày 09 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo Bùi Văn H do có kháng cáo của các bị hại anh Mạc Hồng Quốc Đ, anh Vũ Tiến T, anh Nguyễn Cơ T1 đối với bản án hình sự sơ thẩm số 30/2024/HSST ngày 01 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
1. Bị cáo: Bùi Văn H, sinh ngày 11/4/1972 tại tỉnh Thái Bình; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số nhà A, tổ A, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình; chỗ ở: Số nhà C, ngõ G, đường T, tổ A, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: 10/12; con ông Bùi Văn H1 và bà Nguyễn Thị L (đã chết); vợ Phạm Thị C, có 02 con; tiền án: Bản án số 113/1994/HSST ngày 30/11/1994 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xử phạt bị cáo H 19 năm 06 tháng tù về tội “Giết người” và “Tội trốn khỏi nơi giam”. Đã chấp hành xong án phạt tù tháng 6/2009, chưa chấp hành xong án phí dân sự; tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 37/QĐ ngày 14/02/2022 của Công an thành phố T, tỉnh Thái Bình về hành vi cố ý gây thương tích bằng
hình thức phạt tiền; Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 171/QĐ ngày 06/9/2022 của Công an thành phố T về hành vi cố ý gây thương tích bằng hình thức phạt tiền; nhân thân: Năm 1989 bị cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã T (nay là thành phố T), tỉnh Thái Bình bắt về tội trộm cắp tài sản của công dân. Quá trình điều tra đã xác minh tại Công an thành phố T, hồ sơ sổ sách lưu trữ không còn; Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 52/QĐ ngày 18/11/2009 của Công an thành phố T về hành vi đánh bạc bằng hình thức phạt tiền; Bản án số 155/2011/HSST ngày 03/10/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình xử phạt 15 tháng tù về tội: Cố ý gây thương tích; Bản án số 02/2013/HSST ngày 06/01/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xử phạt 15 tháng tù về tội “Đánh bạc”; Bản án số 42/2016/HSST ngày 15/11/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xử phạt 02 năm 02 tháng tù về tội “Đánh bạc”; Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 113/QĐ ngày 08/6/2021 của Công an thành phố T, về hành vi đánh người bằng hình thức phạt tiền; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 09/11/2023 đến ngày 12/11/2023 chuyển tạm giam cho đến nay; có mặt.
2. Bị hại có kháng cáo:
2.1. Anh Mạc Hồng Quốc Đ, sinh năm 1985; nơi cư trú: Số nhà G, ngõ B, đường H, tổ G, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Bình; hiện đang chấp hành án tại Trại giam T6; có mặt.
2.2. Anh Vũ Tiến T, sinh năm 1986; nơi cư trú: Số nhà I, khu M, thị trấn V, huyện V, tỉnh Thái Bình, vắng mặt lần 2.
2.3. Anh Nguyễn Cơ T1, sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện V, tỉnh Thái Bình, có mặt.
Trong vụ án còn có bị hại là anh Nguyễn Văn G không có kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 18/12/2022, anh Vũ Tiến T tổ chức đám cưới tại nhà hàng R, địa chỉ số I, đường N, tổ B, phường T, thành phố T. Khoảng 19 giờ 15 phút cùng ngày, sau khi dự tiệc cưới xong thì mọi người ra về trong đó có Bùi Văn H. Khi đi xuống sảnh tầng 1, bị cáo H có xích mích, xô xát với anh Bùi Quang H2. Lúc này thấy bị cáo H to tiếng ồn ào, một số người đã khuyên can, bị cáo H không nghe mà nói “Thằng nào can thì tao đánh thằng đấy” rồi H đi ra xe ô tô nhãn hiệu Mercedes của bị cáo đỗ ở đường N, lấy ở dưới chỗ để chân bên ghế lái ra 02 con dao mèo dài khoảng 50-60cm, lưỡi dao cong sáng màu, đầu dao nhọn cầm trên hai tay. Thấy bị cáo H cầm dao thì anh Vũ Tiến T đi lại can không cho bị cáo đánh nhau thì bất ngờ bị cáo dùng dao cầm trên tay phải giơ lên chém một nhát hướng từ trên xuống dưới, từ trái qua phải làm rách da, tổ chức dưới da vùng cằm phải gây tổn thương cơ thể cho anh T là 03%. Thấy anh T bị chém, anh Nguyễn Cơ T1 là bạn của anh T vào can thì bị cáo H vung 02 dao bằng hai tay chém về phía anh T1 (chém theo hình chữ X) làm anh T1 bị rách da, tổ chức dưới da vùng thái dương phải, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 02%. Tiếp đó anh Nguyễn Văn G là bạn với bị cáo H vào can thì bị bị cáo H cầm dao trên tay trái chém 01 nhát từ trên xuống dưới làm anh G bị rách da, tổ chức dưới da vùng da mí trên mắt phải, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 03%. Anh Vũ Đại T2 là bạn của bị cáo đứng bên ngoài thấy vậy cũng vào can thì bị H chém 01 nhát về phía lưng nhưng không gây thương tích chỉ bị rách áo bên ngoài. Thấy mọi người bị bị cáo H chém, anh Mạc Hồng Quốc Đ là bạn của anh T vào can thì được anh Phạm Thế T3 sợ bị cáo H sẽ chém anh Đ nên đã kéo anh Đ lại. Khi anh T3 đã kéo anh Đ, đồng thời ôm người của anh Đ đẩy về phía bờ sông đối diện nhà hàng R thì anh Đ vấp ngã xuống đất. Lúc này, bị cáo H đi phía sau anh T3 và đến trước mặt anh Đ, bị cáo vung dao trên tay trái lên chém về phía anh Đ, theo phản xạ anh Đ ngả người về phía sau thì bị chém vào mặt trước cổ làm rách da gây thương tích 2%, sau đó H lại đi về phía cổng nhà hàng R1. Bị bị cáo H chém, anh Đ vùng dậy đi đến chỗ bị cáo H thì anh Phạm Thế T3, anh Lê Nhật T4 và anh Trần Quốc T5 giữ anh Đ lại. Một lúc sau, khi cả 3 người định đi vào cổng nhà hàng thì anh Đ đi đến chỗ bị cáo H đang đứng, khi đến gần bị cáo, anh Đ chỉ tay hỏi bị cáo: “Em không làm sao anh mà anh chém em” thì bị cáo H đẩy vào ngực anh Đ, anh Đ lùi về phía sau thì bị cáo vung dao đang cầm trên tay trái chém từ trái qua phải trúng vào vùng cằm bên phải làm rách da thương tích 03%, bị chém anh Đ quay mặt sang bên trái thì bị cáo tiếp tục dùng dao trên tay trái chém từ trên xuống làm rách da mặt trong vành tai phải gây thương tích 02%, bị cáo chém với tiếp một nhát nữa về phía anh Đ làm rách da tại vùng ngực dưới xương đòn trái tỷ lệ thương tích 1%. Bị bị cáo H chém nhiều nhát nên anh Đ đã lao vào ôm bị cáo H, trong quá trình giằng co anh Đ đã bị dao cứa làm xước da vùng cổ bên trái nhưng không gây thương tích và quá trình chống đỡ thì anh Đ bị dao chém rách da mu bàn tay trái gây thương tích 1%. Sau khi bị cáo H và anh Đ vật nhau đứng dậy, bị cáo H tiếp tục vung dao trên tay phải chém về phía Đ làm rách da vùng ngực xương đòn trái tỷ lệ thương tích 1%. Tổng tỷ lệ thương tích H gây ra cho anh Đ là 12%. Sau đó Bùi Văn H bỏ đi, các anh Vũ Tiến T, Nguyễn Cơ T1, Nguyễn Văn G và Mạc Hồng Quốc Đ được mọi người đưa vào bệnh viện Đa khoa tỉnh T để chữa trị vết thương.
- Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 522/22/TgT ngày 23/12/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh T thuộc Sở y tế tỉnh T kết luật thương tích của anh Nguyễn Cơ T1: Tổn thương do vật sắc tác động làm rách da, tổ chức dưới da vùng thái dương phải. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là: 02%.
- Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 524/22/TgT ngày 26/12/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh T thuộc Sở y tế tỉnh T kết luật thương tích của anh Vũ Tiến T: Tổn thương do vật sắc tác động làm rách da, tổ chức dưới da vùng cằm phải. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là: 03%.
- Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 543/22/TgT ngày 04/01/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T thuộc Sở y tế tỉnh T kết luật thương tích của anh Nguyễn Văn G: Tổn thương do vật sắc tác động làm rách da, tổ chức dưới da vùng mi trên mắt phải. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là: 03%.
- Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 523/22/TgT ngày 27/12/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh T đối với Mạc Hồng Quốc Đ: Căn cứ bảng tỷ lệ tổn thương cơ thể tính theo phương pháp cộng lùi tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 12%.
Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2024/HSST ngày 01/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình:
1. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
2. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp điểm a, i khoản 1 Điều 134); điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Văn H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 09/11/2023.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, về án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 04/3/2024 và ngày 28/3/2024, bị hại là anh Mạc Hồng Quốc Đ, anh Vũ Tiến T và anh Nguyễn Cơ T1 đều kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Các bị hại đề nghị Tòa án tuyên bố bị cáo H phạm tội giết người và đề nghị tăng mức hình phạt đối với bị cáo H. Anh Vũ Tiến T và anh Nguyễn Cơ T1 đề nghị Tòa án trưng cầu giám định lại đối với thương tích của anh T và anh T1.
Tại phiên tòa phúc thẩm, anh Mạc Hồng Quốc Đ cho rằng bị cáo H có hành vi gây thương tích cho nhiều người; bị cáo cố tình tấn công vào những vùng trọng yếu trên cơ thể bị hại như cổ, tai, mặt nên hành vi của bị cáo phải là tội giết người. Bản thân bị cáo H không nhận thức hành vi của mình là trái pháp luật, luôn quanh co chối tội, không có thái độ ăn năn, hối cải nên đề nghị Hội đồng xét xử tăng mức hình phạt đối với bị cáo.
Bị hại anh Vũ Tiến T và anh Nguyễn Cơ T1 đều không đồng ý với tội danh và mức hình phạt của Tòa án cấp sơ thẩm. Các bị hại cho rằng tội danh của bị cáo phải là tội Giết người bởi bị cáo đã gây thương tích cho nhiều người bằng hung khí nguy hiểm, chém vào cằm, vào đầu đều là những vùng trọng yếu trên cơ thể. Đối với kết quả giám định thương tích của Trung tâm pháp y tỉnh T, hai bị hại thấy kết quả chưa khách quan, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành giám định lại thương tích của hai bị hại và tuyên bị cáo H phạm tội Giết người và tăng hình phạt đối với bị cáo. Anh Nguyễn Cơ T1 trình bày: Nếu bị cáo H thừa nhận về việc đã gây thương tích cho anh T1, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và có lời xin lỗi anh T1 thì anh T1 rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo.
Bị cáo Bùi Văn H tại phiên toà khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung án sơ thẩm đã quy kết, bị cáo thừa nhận về hành vi phạm tội của mình đã gây ra cho các bị hại và xin lỗi với tất cả các bị hại. Bị cáo không có ý thức tước đoạt tính mạng của các bị hại nên bị cáo không đồng ý với kháng cáo của các bị hại về việc đề nghị xác định tội danh của bị cáo là “Giết người” và không đồng ý với các yêu cầu giám định lại thương tích của bị hại.
Sau khi nghe lời xin lỗi của bị cáo Bùi Văn H, anh Nguyễn Cơ T1 rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng như nội dung kháng cáo của các bị hại. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của anh Mạc Hồng Quốc Đ và anh Vũ Tiến T, giữ nguyên bản án sơ thẩm về tội danh và hình phạt đối với bị cáo. Căn cứ Điều 342, 348 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của anh Nguyễn Cơ T1.
Anh Mạc Hồng Quốc Đ tranh luận: Anh không đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận nội dung kháng cáo của bị hại.
Anh Nguyễn Cơ T1 không tranh luận gì.
Bị cáo H không tranh luận và nói lời sau cùng: Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là sai trái, gửi lời xin lỗi đến các bị hại. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Bị hại có kháng cáo là anh Vũ Tiến T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ điểm b khoản 1 Điều 351 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh T là đúng pháp luật.
[2] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Kháng cáo của các bị hại là anh Mạc Hồng Quốc Đ, anh Vũ Tiến T và anh Nguyễn Cơ T1 gửi đến Tòa án trong thời hạn luật định là hợp lệ, được chấp nhận xem xét theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.
[3] Tại phiên tòa, anh Nguyễn Cơ T1 rút toàn bộ kháng cáo. Việc rút kháng cáo của anh T1 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 342, 348 Bộ luật Tố tụng Hình sự đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của anh Nguyễn Cơ T1.
[4] Xét hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Văn H: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã xác định. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ cơ quan điều tra đã thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ căn cứ xác định: Khoảng 19 giờ 20 phút đến 19 giờ 30 ngày 18/12/2022, tại khu vực nhà hàng R2, địa chỉ số I, đường N, tổ B, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình, Bùi Văn H có hành vi dùng dao gây thương tích đối với anh Nguyễn Cơ T1, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 02%; gây thương tích đối với anh Vũ Tiến T, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 03%; gây thương tích đối với anh Nguyễn Văn G, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 03%; gây thương tích đối với anh Mạc Hồng Quốc Đ, tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 12%. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật đặc biệt quan tâm, bảo vệ, đồng thời còn xâm phạm đến trật tự công cộng, làm ảnh hưởng đến tình hình trị an, gây hoang mang, lo lắng cho quần chúng nhân dân trên địa bàn khu dân cư nơi xảy ra vụ án. Mặt khác, bị cáo sử dụng hung khí nguy hiểm, gây thương tích cho nhiều người, với tính chất côn đồ, do đó Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Bùi Văn H 03 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự (thuộc trường hợp quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự) là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo H thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội đã gây ra cho các bị cáo, gửi lời xin lỗi tới các bị hại nên cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo là khai báo thành khẩn quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Xét kháng cáo của anh Mạc Hồng Quốc Đ, anh Vũ Tiến T: Các bị hại cho rằng bị cáo Bùi Văn H đã gây thương tích cho nhiều người bằng hung khí nguy hiểm và cố tình tấn công vào những vùng trọng yếu trên cơ thể các bị hại như cổ, tai, mặt nên hành vi của bị cáo phải cấu thành tội “Giết người”. Tuy nhiên, các vùng trọng yếu trên cơ thể được xác định là vùng đầu (sọ, gáy, não), vùng ngực, vùng ổ bụng và người phạm tội phải cố ý tập trung tấn công chủ yếu vào những bộ phận này của nạn nhân. Với diễn biến hành vi phạm tội của bị cáo H thì thấy, bị cáo không nhằm vào vị trí nào trên cơ thể của bị hại để gây thương tích và thực tế các vết thương do bị cáo gây ra chủ yếu là tấn công vào các vùng như tay, chân, mặt mũi, cằm...đây là những vùng khó gây ra cái chết cho bị hại. Mặt khác, về mặt khách quan bị cáo cũng không có ý thức, mục đích tước đoạt tính mạng của ai, thể hiện qua câu nói của bị cáo khi mọi người vào can ngăn khi bị cáo xô xát với anh Bùi Quang H2 là “Thằng nào can thì tao đánh thằng đấy”. Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo H không cấu thành tội “Giết người” mà chỉ cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị hại về việc thay đổi tội danh cũng như mức hình phạt đối với bị cáo H. Đối với kháng cáo của anh T đề nghị được giám định lại thương tích của anh do bị cáo gây ra thì thấy: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm các bị hại đều trình bày đã được cơ quan Điều tra thông báo về nội dung các kết luận giám định về tỷ lệ tổn thương cơ thể do bị cáo gây ra cho các bị hại nhưng không có ý kiến gì về tỷ lệ thương tích. Mặt khác, hầu hết các vết thương trên cơ thể của các bị hại đều là vết thương phần mềm, rách da, vết thương nông, điều trị 1, 2 ngày là được xuất viện. Anh Vũ Tiến T yêu cầu được giám định lại thương tích nhưng không có mặt tại phiên tòa, không đưa ra được căn cứ để đề nghị giám định lại thương tích nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo này của anh Vũ Tiến T. Từ những lập luận trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các bị hại anh Mạc Hồng Quốc Đ và anh Vũ Tiến T, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về tội danh và hình phạt đối với bị cáo Bùi Văn H.
[6] Về án phí: Các bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ Điều 342, Điều 348 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của anh Nguyễn Cơ T1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự, không chấp nhận kháng cáo của anh Mạc Hồng Quốc Đ và anh Vũ Tiến T. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 30/2024/HSST ngày 01 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình về tội danh và hình phạt đối với bị cáo Bùi Văn H.
1.1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích".
1.2. Về hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp điểm a, i khoản 1 Điều 134); Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Văn H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 09/11/2023.
2. Về án phí phúc thẩm: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, anh Mạc Hồng Quốc Đ, anh Vũ Tiến T, anh Nguyễn Cơ T1 không phải án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án 13/6/2024.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Đỗ Thị Hà |
Bản án số 42/2024/HS-PT ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 42/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự Phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn Hoài phạm tội "Cố ý gây thương tích"
