Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2024/HS-ST

Ngày 12 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Thành Đạt.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Thạch Văn Hòa.

Ông Nguyễn Văn Ngư.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nông Văn Nguyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Phúc - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại Phòng xử án thuộc trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 41/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh ngày 19-8-1968, tại tỉnh Sóc Trăng; Nơi thường trú: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1930 và bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1932; Vợ tên Trương Thị Bạch T1, sinh năm 1964 và có 02 con, lớn sinh năm 1991, nhỏ sinh năm 1993; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 22-4-2024 đến nay.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Bị hại: Ông Lý M, sinh năm 1971 (đã chết).

- Người đại diện hợp pháp của Bị hại L:

  1. Bà Lý Thị H, sinh năm 1992. Địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang. (Vắng mặt)
  2. Bà Lý Thị H1, sinh năm 1994. Địa chỉ: Ấp P, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt)
  3. Bà Lý Hồng L, sinh năm 1998. Địa chỉ: Ấp K, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt)
  4. Ông Lý Thanh Ú, sinh năm 1995. Địa chỉ: Ấp K, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (Có mặt)

- Người đại diện hợp pháp của bà Lý Thị H, bà Lý Thị H1, bà Lý Hồng L: Ông Lý Thanh Ú, sinh năm 1995. Địa chỉ: Ấp K, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (Có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Công ty TNHH V. Địa chỉ trụ sở: Số A Tiền Chế Cư Xá P, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Mỹ D, chức danh: Giám đốc. (Vắng mặt)

- Người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH V: Ông Trần Duy T2, sinh năm 1960. Địa chỉ: Số F, Đường H, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (Có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 03-3-2024, bị cáo T đến Bến xe thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, nhận điều khiển xe ô tô khách 16 chỗ, biển kiểm soát 51B-334.65 của Công ty TNHH V để trung chuyển hành khách như thường ngày. Đến khoảng 19 giờ 20 phút cùng ngày, bị cáo T điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 51B – 334.65 trung chuyển hành khách từ Bến xe thành phố S về Trạm xe khách M1 tại huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Khi xe đang lưu thông trên tuyến đường tỉnh 938 thuộc ấp X, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng gần đến khu vực có chướng ngại vật phía trước là công trình đang thi công mở rộng tuyến đường tỉnh 938, trên phần đường bên phải theo chiều xe đang lưu thông, bị cáo T không nhường đường cho các phương tiện lưu thông ngược chiều mà điều khiển xe lưu thông sang phần đường bên trái theo chiều xe đang lưu thông dẫn đến va chạm với xe gắn máy biển kiểm soát 83GE-004.42 do bị hại Lý Mom điều khiển lưu thông ngược chiều. Hậu quả, bị hại Lý M bị thương tích nặng, tử vong trên đường đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh S. Xe ô tô biển kiểm soát 51B-334.65 và xe gắn máy biển kiểm soát 83GE-004.42 bị hư hỏng nhẹ.

- Tại Kết luận giám định tử thi số: 46/KLGĐTT-KTHS ngày 08-3-2024 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận nguyên nhân chết đối với tử thi L:

“1. Các kết quả chính:

Kết quả giám định: trên tử thi có nhiều vết thương; Bầm tụ máu dưới da và trong cơ ở vùng đầu; Hộp sọ bị lún phức tạp; Màng cứng căng; Bầm tụ máu trên diện rộng hai bên bán cầu đại não.

2. Kết luận: Nguyên nhân chết: chấn thương sọ não.”

- Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 23/KL-HĐĐG ngày 04-6-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân huyện C, kết luận: Tại thời điểm ngày 03 tháng 3 năm 2024, tổng giá trị thiệt hại của xe ô tô nhãn hiệu Toyota, biển kiểm soát 51B-334.65 là 6.145.000 đồng. Tổng giá trị thiệt hại của xe gắn máy nhãn hiệu Sym, biển kiểm soát 83GE-004.42 là 1.722.500 đồng.

- Về vật chứng của vụ án: Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an huyện C đã quyết định tạm giữ: Tạm giữ của bị hại T: 01 (một) xe ô tô, nhãn hiệu TOYOTA, số loại HIACE, màu ghi hồng, số máy 2KD9587991, số khung JTFRS12PX09000642, biển kiểm soát 51B-334.65; 01 (một) giấy đăng ký xe ô tô số 50 197778, biển kiểm soát 51B-334.65; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số 0290286, biển kiểm soát 51B-334.65; 01 (một) giấy chứng nhận điện tử bảo hiểm xe ô tô số [...], biển kiểm soát 51B–334.65; 01 (một) giấy phép lái xe số [...], hạng D, tên Nguyễn Văn T. Tạm giữ của bị hại Lý Mom: 01 (một) xe gắn máy, nhãn hiệu SYM, số loại ELEGANT, màu đỏ trắng, số máy MSE1ED107521, số khung 05DMLD107521, biển kiểm soát 83GE-004.42; 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 006484, biển kiểm soát 83GE-004.42. Tạm giữ của ông Trần Duy T2: 01 (một) đĩa DVD màu trắng, bên trong có chứa một tệp file là một đoạn video, dài 01 phút 07 giây ghi nhận diễn biến của vụ tai nạn giao thông.

Tại giai đoạn điều tra, Cơ quan điều tra Công an huyện C đã quyết định xử lý vật chứng: Trả lại cho Công ty TNHH V: 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, số loại HIACE, màu ghi hồng, số máy 2KD9587991, số khung JTFRS12PX09000642, biển kiểm soát 51B-334.65; 01 (một) giấy đăng ký xe ô tô số 50 197778, biển kiểm soát 51B-334.65; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số 0290286, biển kiểm soát 51B-334.65; 01 (một) giấy chứng nhận điện tử bảo hiểm xe ô tô số [...], biển kiểm soát 51B-334.65. Trả lại cho ông Lý Thanh Ú: 01 (một) xe gắn máy, nhãn hiệu SYM, số loại ELEGANT, màu đỏ trắng, số máy MSE1ED107521, số khung 05DMLD107521, biển kiểm soát 83GE-004.42; 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 006484, biển kiểm soát 83GE-004.42. Đối với 01 (một) giấy phép lái xe số [...], hạng D, tên Nguyễn Văn T, Cơ quan điều tra Công an huyện C tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật. Riêng 01 (một) đĩa DVD màu trắng, bên trong có chứa một tệp file là một đoạn video, dài 01 phút 07 giây ghi nhận diễn biến của vụ tai nạn giao thông, Cơ quan điều tra Công an huyện C đã lưu theo hồ sơ vụ án.

- Về trách nhiệm dân sự: Tại giải đoạn điều tra, người đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo T bồi thường số tiền 150.000.000 đồng. Bị cáo T đã bồi thường xong và người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo T phải bồi thường gì thêm. Công ty TNHH V không yêu cầu bị cáo T phải bồi thường thiệt hại.

- Tại Cáo trạng số: 38/CT-VKS-CT ngày 06-8-2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố bị cáo T tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Tại phiên tòa sơ thẩm:

Kiểm sát viên giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với bị cáo T. Phát biểu luận tội, Kiểm sát viên đề nghị: Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 260, điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tuyên bố bị cáo T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, xử phạt bị cáo T mức hình phạt từ 01 (một) năm tù đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 (hai) năm đến 03 (ba) năm. Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo T phải bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết. Công ty TNHH V không yêu cầu bị cáo T phải bồi thường thiệt hại nên không xem xét giải quyết. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a Khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Trả lại cho bị cáo T 01 (một) Giấy phép lái xe số [...], hạng D, tên Nguyễn Văn T; L1 theo hồ sơ vụ án 01 (một) Đĩa DVD màu trắng, bên trong có chứa một tệp file là đoạn video, dài 01 phút 07 giây, ghi nhận diễn biến của vụ tai nạn giao thông.

Bị cáo T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố; thống nhất với Cáo trạng truy tố bị cáo tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Trình bày tranh luận, bị cáo T xin được xử phạt hình phạt nhẹ nhất. Lời nói sau cùng, bị cáo T xin lỗi gia đình bị hại, xin được xử phạt hình phạt nhẹ nhất.

Người đại diện hợp pháp của bị hại thống nhất Cáo trạng truy tố đối với bị cáo T, xin giảm nhẹ, xin bãi nại cho bị cáo T; không yêu cầu bị cáo T phải bồi thường gì thêm.

Người đại đại diện hợp pháp của Công ty TNHH V có đơn xin vắng mặt, không yêu cầu bị cáo T phải bồi thường thiệt hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, truy tố, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại nên hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH V có đơn xin vắng mặt. Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến. Kiểm sát viên đề nghị vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Hội đồng xét xử xét thấy, người tham gia tố tụng này đã được triệu tập tham gia phiên tòa, có đơn xin vắng mặt và đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc họ vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo T, Hội đồng xet xử xét thấy: Bị cáo T thống nhất Cáo trạng truy tố bị cáo tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố. Lời khai nhận tội này phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm; phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường, Kết luận giám định tử thi, Kết luận định giá tài sản và chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ để Hội đồng xét xử xác định:

[4] Vào khoảng 19 giờ 20 phút ngày 03-3-2024, bị cáo T điều khiển xe ô tô khách biển kiểm soát 51B-334.65 lưu thông trên tuyến đường tỉnh 938, hướng từ thành phố S đi huyện M, tỉnh Sóc Trăng khi đến khu vực thuộc ấp X, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng, bị cáo T thấy có chướng ngại vật phía trước là công trình đang thi công trên phần đường bên phải theo chiều xe đang lưu thông, bị cáo T không nhường đường cho các phương tiện lưu thông ngược chiều, điều khiển xe lưu thông sang phần đường bên trái theo chiều xe đang lưu thông dẫn đến va chạm với xe gắn máy biển kiểm soát 83GE-004.42 do bị hại Lý Mom điều khiển lưu thông ngược chiều. Hậu quả, bị hại Lý M bị chấn thương sọ não, tử vong trên đường đi cấp cứu; thiệt hại cho xe gắn máy biển kiểm soát 83GE-004.42 qua định giá là 1.722.500 đồng.

[5] Tại điểm a Khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

a) Làm chết người;

b) ...”.

[6] Đối chiếu với điều luật viện dẫn, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo T là người đã thành niên, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 12 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo T nhận thức được khi tham gia giao thông đường bộ phải tuân thủ quy định của Luật Giao thông đường bộ năm 2008. Thế nhưng, bị cáo T chủ quan, bị cáo thấy phía trước là công trình đang thi công bên phần đường bên phải theo chiều xe đang lưu thông, bị cáo không nhường đường cho các phương tiện lưu thông ngược chiều mà điều khiển xe, lưu thông sang phần đường bên trái dẫn đến va chạm với xe gắn máy do bị hại điều khiển lưu thông ngược chiều, hành vi này của bị cáo T đã vi phạm quy định tại điểm c Khoản 2 Điều 17 của Luật giao thông đường bộ năm 2008, hậu quả làm cho bị hại tử vong, gây thiệt hại về tài sản số tiền 1.722.500 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo T đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[7] Như vậy, Cáo trạng số: 38/CT-VKS-CT ngày 06-8-2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố bị cáo T tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[8] Hành vi của bị cáo T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sự an toàn, sự hoạt động bình thường của các phương tiện tham gia giao thông đường bộ, xâm phạm đến tính mạng, tài sản của người khác nên cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương thích để bị cáo biết tôn trọng, chấp hành Hiến pháp và pháp luật.

[9] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo T như sau: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, chưa có tiền sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường xong thiệt hại và được người đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt, xin bãi nại; phạm tội lần đầu; là người từng tham gia cách mạng, từng đi bộ đội tại Tiểu đoàn đặc công 60 thuộc Quân khu G, tham gia chiến đấu tại chiến trường Tây Nam, làm nhiệm vụ quốc tế tại chiến trường Campuchia, đến năm 1989 xuất ngũ về địa phương và tham gia Hội cựu chiến binh xã P, được tặng kỷ niệm chương năm 2011 và năm 2023. Do đó, bị cáo T được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.

[10] Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo T phải bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết. Công ty TNHH V không yêu cầu bị cáo T phải bồi thường thiệt hại nên không xem xét giải quyết.

[11] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) Giấy phép lái xe số [...], dạng D, tên Nguyễn Văn T là tài sản của bị cáo T nên trả lại cho bị cáo T. Đối với 01 (một) Đĩa DVD màu trắng, bên trong có chứa một tệp file là đoạn video, dài 01 phút 07 giây, ghi nhận diễn biến của vụ tai nạn giao thông, Cơ quan điều tra Công an huyện C đã lưu vào hồ sơ vụ án nên tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.

[12] Kiểm sát viên đề nghị áp dụng pháp luật về tội danh, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt, bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng là có căn cứ chấp nhận. Sau khi nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất xử phạt bị cáo T mức hình phạt khởi điểm mà Kiểm sát viên đề nghị, thể hiện nguyên tắc khoan hồng đối với người thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, người từng tham gia cách mạng. Ngoài ra, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo T bị xử phạt tù dưới 03 (ba) năm; có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nơi cư trú rõ ràng; có khả năng tự cải tạo và việc cho họ hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên đủ điều kiện được hưởng án treo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 2 của Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo (viết tắt là Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP) và Nghị quyết số: 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15-4-2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên cho bị cáo T được hưởng án treo, thời gian thử thách bằng hai lần mức hình phạt tù.

[13] Bị cáo T là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo T và người đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận, bồi thường xong trước khi mở phiên tòa nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

[14] Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Điểm a Khoản 1 Điều 260, điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Điểm a Khoản 3 Điều 106, Khoản 2 Điều 136, Khoản 1 Điều 292, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
  • Điểm a, f Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Tuyên xử:

1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 12-9-2024).

Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Nguyễn Văn T thay đổi nơi cư trú thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn T phải bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết. Công ty TNHH V không yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn T phải bồi thường thiệt hại nên không xem xét giải quyết.

3. Xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) Giấy phép lái xe số [...], dạng D, tên Nguyễn Văn T. Lưu theo hồ sơ vụ án 01 (một) Đĩa DVD màu trắng, bên trong có chứa một tệp file là đoạn video, dài 01 phút 07 giây, ghi nhận diễn biến của vụ tai nạn giao thông.

4. Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 đồng và không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người đại diện hợp pháp của bị hại;
  • - Người có QLNVLQ đến vụ án;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành;
  • - CQĐT Công an huyện Châu Thành;
  • - NTG Công an huyện Châu Thành;
  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
  • - Lưu: HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Thành Đạt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 42/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Tuấn phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger