Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2023/DS-ST

Ngày 11 tháng 8 năm 2023

Về việc tranh hợp đồng dân sự

vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Ngọc Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thanh và ông Nguyễn Thanh Phương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Huỳnh Thị Bích Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 01/2023/TLST-DS ngày 06 tháng 01 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 138/2023/QĐXXST-DS ngày 04/7/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2023/QĐST-DS ngày 25 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Đinh Thiện N, sinh năm 1974; địa chỉ: số A, T, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Ông Lê Võ Quốc C, sinh năm 1981; địa chỉ: khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang.

Nguyên đơn ông Đinh Thiện N có mặt tại phiên tòa; bị đơn ông Lê Võ Quốc C vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn trình bày:

Ngày 29/4/2014 ông N có cho ông C vay số tiền 400.000.000 đồng, thời hạn vay 05 năm (kể từ ngày 29/4/2014 đến ngày 29/4/2019), lãi suất thỏa thuận 1,3%/tháng, có làm hợp đồng vay công chứng tại Phòng C1, thành phố C.

Quá trình vay, ông C không thực hiện trả vốn, lãi như thỏa thuận. Ông N đã nhiều năm tìm kiếm nhưng ông C cố ý né tránh, hỏi thăm gia đình cha mẹ ông C, bên vợ C đều cho rằng C đi làm ăn, không có ở nhà. Mặt khác, do sức khỏe yếu, bệnh hiểm nghèo, ảnh hưởng đến đôi mắt bị mờ, phải điều trị bệnh viện tại thành phố Hồ Chí Minh liên tục, nên thời gian tìm kiếm ông C bị gián đoạn. Nay sức khỏe dần hồi phục, ông N làm đơn khởi kiện yêu cầu ông C trả lại ông N số tiền vay 400.000.000 đồng và tiễn lãi theo lãi suất quy định pháp luật cho đến khi kết thúc xét xử.

Quá trình tố tụng ông N xác định lại chỉ yêu cầu khởi kiện là đòi lại tài sản số tiền 400.000.000 (bốn trăm triệu) đồng, tuy nhiên khi án có hiệu lực pháp luật thì yêu cầu tính lãi chậm trả theo quy định pháp luật.

Trong quá trình tố tụng, Tòa án có tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ tại khóm C, phường C B về tình trạng cư trú của ông C. Đại diện ban khóm cho biết: ông Lê Võ Quốc C có đăng ký hộ khẩu thường trú nhưng bỏ địa phương từ lâu, không rõ đi đâu và làm gì.

Đồng thời, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt và tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến tại phiên tòa

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng

Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015. Xác định thẩm quyền thụ lý, quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách pháp lý của các đương sự, thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án và lập hồ sơ đúng theo quy định tại các Điều 195, 196, 198 và Điều 203, 208 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.

Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Bị đơn vắng mặt nhiều lần không lí do, thuộc trường hợp Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.

Về việc giải quyết vụ án

Ngày 29/4/2023, ông N có cho ông C vay số tiền 400.000.000 đồng, thời hạn 05 năm kể từ ngày 29/4/2014 đến 29/4/2019, lãi suất thỏa thuận là 1,3%/ tháng. Quá trình vay thì trả dần nợ vốn và lãi, khi vay có lập văn bản và công chứng tại Văn phòng C2. Theo nguyên đơn từ khi nhận tiền vay, ông C không trả dần nợ vốn và lãi như thỏa thuận, nên khởi kiện yêu cầu buộc C trả số tiền vốn vay 400.000.000 đồng và không yêu cầu tính lãi. Nhưng khi án có hiệu lực yêu cầu tính lãi suất chậm trả theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào Hợp đồng vay do nguyên đơn cung cấp cũng như lời trình bày của nguyên đơn thấy rằng nguyên đơn và bị đơn có thỏa thuận giao kết hợp đồng vay tài sản theo đúng quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để ghi nhận ý kiến nhưng bị đơn vắng mặt không lý do, do đó bị đơn phải có trách nhiệm trả nợ theo yêu cầu cũng như chứng cứ nguyên đơn cung cấp. Xét thấy, việc thỏa thuận vay nợ giữa các bên là tự nguyện, trong quá trình thực hiện nghĩa vụ trả nợ bị đơn đã không thực hiện đúng theo thỏa thuận nên việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền vốn vay là có căn cứ.

Đối với yêu cầu lãi suất chậm trả khi án có hiệu lực pháp luật, thấy rằng khi án có hiệu lực pháp luật và ngyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án mà bị đơn không thực hiện thì phải chịu lãi chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Căn cứ vào các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc bị đơn ông C có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số tiền vốn vay 400.000.000 đồng.

Từ phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh luận của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, nhận thấy:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án “Tranh chấp dân sự hợp đồng vay tài sản”, bị đơn có nơi cư trú tại thành phố C, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung

[1] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

Ông N xác định chỉ yêu cầu khởi kiện là đòi lại tài sản số tiền 400.000.000 (bốn trăm triệu) đồng, không yêu cầu tính lãi, tuy nhiên khi án có hiệu lực pháp luật thì yêu cầu tính lãi chậm trả theo quy định pháp luật.

Xét văn bản Hợp đồng vay tiền ngày 29/4/2014 được công chứng chứng thực tại Văn phòng C2 có nội dung ông C vay của ông N số tiền 400.000.000 đồng được các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đồng không trái quy định của pháp luật. Do đó, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng.

Tại hợp đồng vay tiền thể hiện địa chỉ cụ thể của bị đơn C, được Văn phòng Công chứng chứng thực. Tuy nhiên, khi Tòa án triệu tập nhiều lần thì không làm việc được ông C. Qua xác minh ông C có đăng ký thường trú tại địa chỉ trên, nhưng đã bán cửa hàng và rời khỏi địa phương, không xác định nơi cư trú. Như vậy, ông C đã ký thỏa thuận vay tiền số tiền 400.000.000 đồng với ông N, ông C hoàn toàn biết nghĩa vụ trả nợ vay của mình theo hợp đồng đã ký kết. Tuy nhiên, ông lại rời khỏi địa phương mà không thông báo cho ông N nên thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ, nơi ở mới, Tòa án tiến hành thụ lý, giải quyết vụ án theo thủ tục chung, niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định. Xét nguyên đơn ông Đinh Thiện N yêu cầu bị đơn Ông Lê Võ Quốc C thực hiện nghĩa vụ trả nợ số tiền nợ gốc là 400.000.000 đồng, tự nguyện không yêu cầu ông C thanh toán lãi vay là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

[2] Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm

Bị đơn Lê Võ Quốc C có trách nhiệm trả nợ nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Nguyên đơn ông Đinh Thiện N được chấp nhận yêu cầu kiện nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả tạm ứng án phí đã nộp cho nguyên đơn.

[3] Quyền kháng cáo

Các đương sự có quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 463, Điều 466 và Điều 468, khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 147, Điều 244 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Thiện N, buộc ông Lê Võ Quốc C trả cho ông Đinh Thiện N số tiền gốc 400.000.000 (bốn trăm triệu) đồng.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm

    Ông Đinh Thiện N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho ông N số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0002998 ngày 06 tháng 01 năm 2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Châu Đốc.

    Ông Lê Võ Quốc C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng.

  3. Quyền kháng cáo

    Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có mặt có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của đương sự vắng mặt là 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Châu Đốc (2);
  • - TAND tỉnh An Giang (1);
  • - Chi cục THADS TP. Châu Đốc (1);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ (1);
  • - Lưu văn phòng (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trịnh Thị Ngọc Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2023/DS-ST ngày 11/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 42/2023/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/08/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger