Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN A

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2024/HS-ST

Ngày 11 tháng 6 năm 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A - TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Sang.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Thanh và ông Huỳnh Trường Huân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thanh Trúc Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy An - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 31/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 137/2024/QĐXXST- HS ngày 13 tháng 5 năm 2024 và thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số: 143/TB-TA ngày 23 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị G, sinh năm: 1988; nơi cư trú: Ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An GiangNghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Cao đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K(đã chết) và Nguyễn Thị Mỹ L(đã chết); anh chị em ruột có 04 người, bị cáo là người lớn nhất; Chồng: Nguyễn Văn M năm 1979 (Đã ly hôn); con: Có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền sự: Ngày 11/02/2022, bị Công an xã V vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”, với số tiền 1.500.000 đồng (nộp phạt ngày 14/11/2022); tiền án: Không. Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15/02/2024 đến nay.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Nguyễn Minh Đ, sinh năm: 1995; địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang
  2. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1985; địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang
  3. Ông Võ Văn T1 năm: 1990; địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang
  4. Ông Thái Vũ T2, sinh năm: 2004; địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang
  5. Ông Nguyễn Thanh L1 năm: 1983; địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang

- Người làm chứng:

  1. Ông Phan Văn Đ1;
  2. Ông Huỳnh Trường A;
  3. Bà Trần Thị T3;
  4. Ông Trần Minh P;
  5. Ông Võ Văn T4;
  6. Ông Nguyễn Văn M1;
  7. Ông Lê Văn P1.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa những người còn lại vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 03/8/2023, Nguyễn Thị G1 từ thành phố C nhà tại ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang, sau khi qua bến đò ông B(thuộc ấp VGiàu thấy Nguyễn Minh Đ2 thủ cái lắc tài xỉu (bằng điện thoại di động) ăn thua bằng tiền cùng các đối tượng Nguyễn Thị TThái V T2Võ Văn T1nên vào tham gia đặt cược cùng. Cụ thể, G2 theo số tiền 200.000 đồng tham gia chơi tài xỉu, đặt cược 02 ván, trong đó ván thứ nhất đặt cược 50.000 đồng, kết quả thắng; ván thứ hai đặt cược 100.000 đồng, kết quả thua. Cùng lúc, Võ Văn T1dùng chân đá vào bàn nhựa, làm rơi điện thoại di động của Đ3 nền đất nên cả nhóm nghỉ chơi. Sau đó, V T2xảy ra cự cãi, dùng dao chém Văn T1và xe mô tô biển kiểm soát 67G1-293.53 của Văn T1Ngày 16/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện A khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Thái V1 T2về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Tiếp tục điều tra mở rộng, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện A các đối tượng ĐGTVũ T2Văn T1về trụ sở làm việc và tất cả các đối tượng nêu trên đã thừa nhận hành vi đánh bạc như nội dung vụ án. Đồng thời, các đối tượng TVũ T2Văn T1 và bị cáo G3 tự nguyện giao nộp số tiền còn lại dùng vào mục đích đánh bạc là 850.000 đồng (Trong đó: Giàu nộp 150.000 đồng, T5 100.000 đồng, V2 T1nộp 400.000 đồng, V1 T2nộp là 200.000 đồng). Riêng Đ4 định số tiền còn lại dùng vào mục đích đánh bạc là 600.000 đồng nhưng chưa giao nộp.

Quá trình điều tra được biết ngày 11/02/2022 Nguyễn Thị G4 bị Công an xã V vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”, đã nộp phạt ngày 14/11/2022.

Ngày 15/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can Nguyễn Thị G

Tại bản Cáo trạng số 28/CT-VKSAP-HS ngày 22/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú đã truy tố Nguyễn Thị G về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản” của Thái V1 T2đã được khởi tố, điều tra bằng vụ án khác.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Thị G khai: Khi tham gia đánh bạc Đức thủ cái còn Tvà bị cáo đặt cược ngoài ra còn có 02 người khác nhưng bị cáo không nhớ tên. Bị cáo đem theo 200.000 đồng đặt ván thứ nhất 50.000 đồng thắng, ngưng hai ba ván, bị cáo tiếp tục đặt ván thứ hai 100.000 đồng thua. Do T2đá bàn nên bị cáo bỏ về, số tiền còn lại bị cáo dùng để đánh bạc là 150.000 đồng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Minh Đ5 bày: Ông mang theo số tiền 600.000 đồng thủ cái lắc tài xỉu cho GTVũ T2Văn T1tham gia đặt cược mỗi ván từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng, chơi được khoảng 06 ván đến 07 ván thì V2 T1đá bàn nhựa làm rơi điện thoại của Đxuống nền đất nên cả nhóm nghỉ chơi. Sau đó, Đ6 về kiểm tra số tiền còn lại sau đánh bạc là 600.000 đồng. (Bút lục 109-116)

Bà Nguyễn Thị T6 bày: Bà mang theo số tiền 200.000 đồng tham gia chơi tài xỉu, đặt cược 02 ván, mỗi ván 50.000 đồng. Sau khi nghỉ chơi, kiểm tra số tiền còn lại sau đánh bạc là 100.000 đồng. (Bút lục 122-131)

Ông Thái V1 T2trình bày: Ông mang theo 300.000 đồng tham gia chơi tài xỉu, đặt cược 02 ván, mỗi ván 50.000 đồng. Sau khi nghỉ chơi, kiểm tra số tiền còn lại sau đánh bạc là 200.000 đồng. (Bút lục 175-178)

Ông Võ Văn T7 bày: Ông mang theo 800.000 đồng tham gia chơi tài xỉu, đặt cược 04 ván thua hết, mỗi ván 100.000 đồng. Sau khi nghỉ chơi, kiểm tra số tiền còn lại sau đánh bạc là 400.000 đồng. (Bút lục 155-162)

Ông Nguyễn Thanh L2 bày: Ông có cho Đ7 bàn và ghế, sau đó Đ8 chức chơi tài xỉu hoàn toàn không biết, ông không hưởng lượi gì từ việc lắc tài xỉu. (Bút lục 208-211)

Người làm chứng ông P2 ATrần Thị T3 ông Võ Văn T4 ông N vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra đều có lời khai phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt:

Về hình phạt chính: Bị cáo Nguyễn Thị G từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng đến 18 (mười tám) tháng.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự, đề nghị phạt bổ sung bị cáo G10.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý vật chứng còn lại trong vụ án.

Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, hứa không tái phạm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt. Xét thấy: Những người tham gia tố tụng vắng mặt đã có lời khai thể hiện trong hồ sơ vụ án và việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử; căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung:

Xét thấy lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở xác định: Khoảng 21 giờ ngày 03/8/2023 tại Bến đò ông B1 ấp V, xã V, huyện A bị cáo Nguyễn Thị G5 ĐVăn T1Vũ T2và Ttham gia đặt cược bằng tiền dưới hành thức lắc tài xỉu do Đức thủ cái. Tổng số tiền tham gia đánh bạc tại sới bạc là 1.450.000 đồng, trong đó chứng minh được Gsử dụng số tiền 200.000 đồng tham gia đánh bạc. Giàu đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, chưa hết thời hạn được xem là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn tiếp tục đánh bạc được thua bằng tiền. Từ đó có đủ căn cứ kết luận: Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị G6 yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự, có khung hình phạt đến 3 năm tù.

Xác định truy tố của Viện kiểm sát theo cáo trạng số 28/CT-VKSAP-HS ngày 22/4/2024 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc mà còn tiếp tục vi phạm. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo mới phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, bị cáo đã ly hôn và đang nuôi hai con còn nhỏ và là lao động duy nhất trong gia đình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét áp dụng hình phạt đối với bị cáo. Ngoài ra, trong thời gian tại ngoại bị cáo chấp hành tốt chủ trương, chính sách của địa phương; không phạm tội mới; có nơi cư trú ổn định, rõ ràng; chấp hành thông báo triệu tập của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hội đồng xét xử xét thấy khi quyết định hình phạt không nhất thiết phải cánh ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ răn đe, giáo dục đối với bị cáo đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước ta. Xét mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị là có căn cứ nên chấp nhận.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Để đảm bảo tính răn đe cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo mức đề nghị của Viện kiểm sát.

[5] Về những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Hành vi đánh bạc của Nguyễn Minh ĐNguyễn Thị TVõ Văn T1Thái Vũ T2 là vi phạm pháp luật nhưng tổng số tiền chưa đủ định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự. Cơ quan chức năng Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ. Các ông bà ĐTVăn Tlvà Vũ T2phải nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật, khắc phục về sau.

Đối với N1 bàn ghế nhưng không biết Đdùng để đánh bạc và L1không hưởng lợi gì tự việc đánh bạc nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xem xét xử lý là có căn cứ.

Đối với Lê Văn B1và người tên T5do chưa làm việc được nên kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện A xác minh và xử lý theo quy định.

[6] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

Đối với 01 (một) phong bì màu trắng, bên ngoài có ghi “Vụ: 472/KL-KTHS (KTSĐT-GT) ngày 12 tháng 12 năm 2023” có in hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1Công an tỉnh Avà các chữ ký ghi tên Giáp T8 T6Phạm Q T7bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, model Galaxy J4+, số IMEI 1: 351590103563909, số IMEI 2: 351591103563907, đã qua sử dụng. Đây là tài sản Nguyễn Minh Đ9 làm công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi đánh bạc nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Tiền Việt Nam: 850.000 đồng theo biên lai thu số: 0004395 ngày 23/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú là tiền của bị cáo G7 các ông bà Vũ T2Văn T1Tsử dụng vào mục đích đánh bạc nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với Nguyễn Minh Đ10 nhận sau khi đánh bạc số tiền còn lại dùng để đánh bạc là 600.000 đồng nhưng Đ11 giao nộp nên buộc Đ12 nộp 600.000 đồng sung vào ngân sách nhà nước.

[7] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, bị cáo G8 chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị G9 tội “Đánh bạc”.

1. Về hình phạt chính:

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ lut hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị G 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án (ngày 11/6/2024).

Giao bị cáo Nguyễn Thị G10 Ủy ban nhân dân xã V, tỉnh An Gianggiám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017.

2. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017.

Phạt tiền bị cáo G11 (mười triệu) đồng.

3. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015;

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) phong bì màu trắng, bên ngoài có ghi “Vụ: 472/KL-KTHS (KTSĐT-GT) ngày 12 tháng 12 năm 2023" có in hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1Công an tỉnh Avà các chữ ký ghi tên Giáp T8 T6Phạm Q T7bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, model Galaxy J4 +, số IMEI 1: 351590103563909, số IMEI 2: 351591103563907.

(Hiện trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/4/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Avà Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú).

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: Tiền Việt Nam 850.000 (T8trăm năm mươi nghìn) đồng theo biên lai thu tiền số: 0004395 ngày 23/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú .

Buộc Nguyễn Minh Đ13 nộp số tiền đánh bạc trái phép 600.000 đồng sung vào ngân sách nhà nước.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Thị G phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 11/6/2024), bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của người tham gia tố tụng vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

(Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự).

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện An Phú (02);
  • - Tòa án nhân dân tỉnh (01);
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang (01);
  • - Nhà Tạm giữ (01);
  • - Thi hành án DS huyện (01);
  • - Bộ phận THAHS Tòa án (01);
  • - UBND cấp xã nơi BC cư trú (01);
  • - Người bị hại, liên quan (nếu có);
  • - Lưu hồ sơ vụ án (01);
  • - Lưu văn phòng (01).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Sang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A - TỈNH AN GIANG về hình sự sơ thẩm về tội đánh bạc

  • Số bản án: 42/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A - TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Nguyễn Thị G phạm tội đánh bạc (k1 điều 321)
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger