|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 42/2025/HS-PT Ngày: 11-3-2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khắc Thịnh.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Ngọc Thông.
Ông Phạm Minh Tùng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Châu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Liệt - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 13 tháng 02 và ngày 11 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp, mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 232/2024/TLPT-HS ngày 03 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Lưu Văn L và đồng phạm. Do có kháng cáo của bị cáo Lưu Văn L và Phan Quang B đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 37/2024/HS-ST ngày 20 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự.
- Bị cáo có kháng cáo:
1/ Họ và tên: Lưu Văn L, sinh ngày 01/01/1976. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp T, xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp. Chỗ ở hiện nay: ấp T, xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 06/12; Quốc tịch:Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; giới tính: Nam; con ông Lưu Văn D (chết); con bà Lâm Thị C (chết); A, chị (em ruột): có 08 anh, chị, em. Bị cáo là con thứ ba trong gia đình; vợ Bùi Thị N sinh năm: 1979; Con: 03 người (lớn nhất sinh năm 1999; Con nhỏ nhất sinh năm 2015); Tiền án: không; tiền sự: Ngày 01/7/2022, bị Công an xã T, huyện T xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc trái phép”. Thực hiện nộp phạt vào ngày 06/7/2022; Tạm giữ, tạm giam: Không; Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
2/ Họ và tên: Phan Quang B (Tên gọi khác: Tam L1), sinh ngày 01/01/1976. Nơi đăng ký HKTT: ấp L, xã L, huyện H tỉnh Đồng Tháp. Chỗ ở hiện nay: ấp L, xã L, huyện H tỉnh Đồng Tháp. Nghề nghiệp: Mua bán; Trình độ học vấn: 11/12; Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không; Giới tính: nam; Con ông Phan Văn H (chết); Con bà Trần Thị Kim B1 (chết); Gia đình có 06 chị, em. Bị cáo là con thứ 06 trong gia đình; Vợ: Trần Thị Bích N1, sinh năm: 1991; Con: 03 người (lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh 2022); Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Ngày 26/5/1999 bị Tòa án Nhân dân tỉnh Đồng Tháp xử phạt 09 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Chấp hành xong hình phạt vào ngày 23/3/2000; Tạm giữ, tạm giam: không; Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo có mặt tại phiên toà).
Bị cáo có liên quan đến kháng cáo: Bùi Thị Mỹ N2, sinh ngày 01/01/1986. Nơi đăng ký HKTT: ấp L, xã L, huyện H tỉnh Đồng Tháp. Chỗ ở hiện nay: ấp L, xã L, huyện H tỉnh Đồng Tháp. Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 11/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nữ; Con ông Bùi Văn Ứ, sinh năm 1935. Con bà Trần Thị X, sinh năm 1938 (chết). Gia đình có 07 chị, em. Bị cáo là con thứ 06 trong gia đình. Chồng: Nguyễn Văn M, sinh năm: 1979; Con: 03 người (lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2023); Tiền án, tiền sự: không; Tạm giữ, tạm giam: không; Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo có mặt tại phiên toà).
Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Bùi Thị Mỹ N2: Nguyễn Văn M, sinh năm 1979 (chồng bị cáo N2, có mặt).
Địa chỉ: ấp Long Châu, xã Long Khánh B, huyện Hồng Ngự, Đồng Tháp.
Chỗ ở: ấp Long Hòa, xã Long Thuận, huyện Hồng Ngự tỉnh Đồng Tháp.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Nguyễn Thị B2, sinh năm 1995. Địa chỉ: ấp P, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Nguyễn Văn T, sinh năm 1992 Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.
- Nguyễn Thị D1, sinh năm 1986 Địa chỉ: Khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
- Nguyễn Văn M1, sinh năm 1983 Địa chỉ: ấp L, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Nguyễn Thị Oanh Đ, sinh năm 1986 Địa chỉ: khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
- Lê Thị Ngọc H1, sinh năm 1986 Địa chỉ: Khu phố M, thị trấn V, huyện V, tỉnh Long An.
- Trần Văn L2, sinh năm 1982 Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.
- Phan Thanh V, sinh năm 1993 Địa chỉ: khóm M, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
- Bùi Thị Đ1, sinh năm 1984 Địa chỉ: ấp G, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Lê Vỹ K, sinh năm 2004 Địa chỉ: ấp T, xã T, thành phố H, Đồng Tháp.
- Võ Vũ L3, sinh năm 1982 Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Võ Thanh B3, sinh ngày 25/12/1986 Địa chỉ: ấp H, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Đỗ Thị Hoàng H2, sinh năm 1974 Địa chỉ: ấp D, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Nguyễn Văn M, sinh năm 1979 Địa chỉ: ấp Long Châu, xã Long Khánh B, huyện Hồng Ngự, Đồng Tháp. Chỗ ở: ấp Long Hòa, xã Long Thuận, huyện Hồng Ngự, Đồng Tháp.
- Nguyễn Trường G, sinh năm 2002 Địa chỉ: ấp P, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Lâm Nhựt Q, sinh năm 2003 Địa chỉ: khóm B, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
- Mai Thị T1, sinh năm 1969 Địa chỉ: khóm B, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
- Trương Thị C1, sinh ngày 25/4/1980 Địa chỉ: ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Bùi Thông M2, sinh năm 1990 Địa chỉ: khóm C, phường A, TP ., Đồng Tháp.
- Lê Văn N3, sinh năm 1996 Địa chỉ: ấp T, xã T, thành phố H, Đồng Tháp.
* Người làm chứng:
- Lê Văn T2, sinh năm 1992 Địa chỉ: Tổ H, thôn E, xã L, thành phố V, Bà Rịa Vũng Tàu.
- Nguyễn Trần Thị T3, sinh năm 1992 Địa chỉ: B N, phường E, thành phố T, tỉnh Long An.
- Ngô Đình V1, sinh năm 1982 Địa chỉ: ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Phạm Văn H3, sinh năm 2002 Địa chỉ: khóm A, phường A, TP ., Đồng Tháp.
- Trần Thị Bích N1, sinh năm 1991 Địa chỉ: ấp L, xã L, huyện H, Đồng Tháp
- Nguyễn Thị Kim D2, sinh ngày 24/11/2000 Địa chỉ: khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp
- Nguyễn Thị Kim C2, sinh năm 1991 Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Nguyễn Thị G1, sinh ngày 25/02/1982 Địa chỉ: ấp B, xã B, thành phố H, Đồng Tháp
- Nguyễn Thị Bé E, sinh năm 1988 Địa chỉ: khóm A, phường A, TP ., Đồng Tháp.
- Hồ Thị Kim T4, sinh năm 1998 Địa chỉ: ấp K, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp
- Trần Ngọc L4, sinh năm 1987. Địa chỉ: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.
- Huỳnh Duy T5, sinh năm 1982. Địa chỉ: Khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
- Đinh Hồng N4, sinh năm 1978 Địa chỉ: B T, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ.
- Nguyễn Thị N5, sinh năm 1993 Địa chỉ: Khóm A, phường A, thành phố H, Đồng Tháp.
- Lê Đức T6, sinh năm 1999 Địa chỉ: Khóm A, phường A, thành phố H, Đồng Tháp.
- Nguyễn Phi A, sinh ngày 09/6/2004. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
(Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đều vắng mặt).
Trong vụ án còn có bị cáo Bùi Thị Mỹ N2; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 22 giờ 30 phút, ngày 30 tháng 9 năm 2022, Công an phường A phối hợp với Công an thành phố H và phòng C3 Công an tỉnh Đ tiến hành kiểm tra phát hiện tại khu đất trống thuộc khóm A, phường A có nhiều người tập trung tham gia đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền dưới hình thức lắc T7 - Xỉu. Thời điểm này tại hiện trường có mặt: Bùi Thị Mỹ N2, Lưu Văn L, Phan Quang B, Bùi Thị Đ1, Lê Thị Ngọc H1, Võ Thanh B3, Trần Văn L2, Nguyễn Thị D1, Nguyễn Thị Oanh Đ, Võ Vũ L3, Nguyễn Văn M1, Nguyễn Thị B2, Nguyễn Thị Kim C2, Nguyễn Văn T, Nguyễn Trần Thị T3, Nguyễn Thị G1, Hồ Thị Kim T4, Lê Văn N3, Trần Thị Bích N1, Nguyễn Thị Kim D2, Nguyễn Thị Bé E thu giữ Tiền Việt Nam 65.270.000 đồng tại chiếu bạc nên lực lượng Công an lập biên bản quả tang.
* Vật chứng Cơ quan Công an thu giữ:
- - T8 tại chiếu bạc: T10 tổng cộng 65.270.000 đồng; 06 (sáu) hột xí ngầu hình lục giác; 01 (một) tấm mủ nhựa trên mặt có màu xanh- đỏ- vàng- trắng; 01 (một) cái dĩa màu trắng; 01 (một) nắp mủ nhựa hình hoa văn màu đen- xám; 03 (ba) mảnh kim loại hình vuông; 04 (bốn) mảnh kim loại hình tròn; 01 (một) tấm mũ màu xanh- cam; 02 (hai) đèn chiếu sáng màu cam.
- - Thu giữ trên người các đối tượng Tiền Việt Nam 267.484.000 đồng và 20 điện thoại di động các loại gồm:
- + Bùi Thị Đ1: 2.400.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo, màu đen, đã qua sử dụng;
- + Lê Thị Ngọc H1: 58.261.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo, màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) căn cước công dân tên Lê Thị Ngọc H1;
- + Võ Thanh B3: 434.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động Nokia màu xanh, dạng nút bấm đã qua sử dụng;
- + Lưu Văn L: 610.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh - đen, đã qua sử dụng;
- + Trần Văn L2: 76.195.000 đồng, 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu đen, đã qua sử dụng;
- + Nguyễn Trần Thị T3: 500.000 đồng;
- + Nguyễn Thị G1: 304.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu đen, đã qua sử dụng;
- + Nguyễn Thị D1: 200.000 đồng;
- + Trần Thị Bích N1: 120.126.000 đồng; 02 (hai) điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng gold, đã qua sử dụng;
- + Phan Quang B: 4.443.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme màu bạc, đã qua sử dụng;
- + Nguyễn Thị Kim D2: 25.000 đồng;
- + Nguyễn Thị Oanh Đ: 500.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Vsmart màu đen, đã qua sử dụng;
- + Võ Vũ L3: 300.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh, đã qua sử dụng;
- + Hồ Thị Kim T4: 10.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu đen, đã qua sử dụng;
- + Lê Văn N3: 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu hồng, đã qua sử dụng;
- + Nguyễn Văn M1: 474.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động hiệu N6 màu đen, dạng nút bấm, đã qua sử dụng; 02 (hai) điện thoại di động hiệu Oppo màu đen, đã qua sử dụng;
- + Nguyễn Thị B2: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu xám, đã qua sử dụng;
- + Nguyễn Thị Kim C2: 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu đen, đã qua sử dụng;
- + Bùi Thị Mỹ N2: 2.702.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu trắng, dạng nút bấm, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh đen, đã qua sử dụng;
- - Thu giữ 29 phương tiện xe mô tô, xe gắn máy tại hiện trường gồm:
- + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Vario, màu trắng, biển số 66H1-423.04, đã qua sử dụng;
- + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Air Blade, màu đen đỏ, biển số 67H1-229.94, đã qua sử dụng;
- + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu SH Mode, màu trắng, biển số 66G1-226.75, đã qua sử dụng;
- + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Air Blade, màu đen đỏ, biển số 66H1-340.53, đã qua sử dụng;
- + 01 (một) xe gắn máy nhãn hiệu Chaly, màu trắng, biển số 66FB-4652, đã qua sử dụng;
- + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Sirius, màu đen, biển số 68P5-2058, đã qua sử dụng;
- + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave 100, màu xanh - đen, biển số 66H1-400.71, đã qua sử dụng;
- + 01 (một) xe gắn máy nhãn hiệu Wave Anpha, màu xanh, biển số 66BA-004.03, đã qua sử dụng;
- + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave Anpha, màu xanh, biển số 66P1-560.76, đã qua sử dụng;
- + 01 (một) xe gắn máy nhãn hiệu Cup Japan, màu trắng, biển số 66HA-020.38, đã qua sử dụng;
- + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Ecexter, màu xanh - đen, biển số 66G1-761.49, đã qua sử dụng;
- + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave Anpha, màu trắng, biển số 66H1-253.10, đã qua sử dụng;
- + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave, màu đỏ biển số 66H1-2121, đã qua sử dụng;
- + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Vario, màu vàng, biển số 66G1-670.39, đã qua sử dụng;
- + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave Anpha, màu đỏ, biển số 66N1-219.72, đã qua sử dụng;
- + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Dream, màu nâu (nho), không biển số, đã qua sử dụng;
- + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Smash Revo, màu đỏ, biển số 66K1-066.04, đã qua sử dụng;
- + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Supper Dream, màu nâu (nho), biển số 66B1-790.07, đã qua sử dụng;
- + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave RSX, màu xanh - đen, biển số 66H1-282.91, đã qua sử dụng;
- + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave ZX, màu đỏ - đen, biển số 66B1-777.19, đã qua sử dụng;
- + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Sirius, màu đỏ - đen, biển số 66N1-429.48, đã qua sử dụng;
- + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave Anpha, màu đỏ, biển số 66N6-4190, đã qua sử dụng;
- + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Sirius, màu đen – bạc, biển số 66K1-397.68, đã qua sử dụng;
- + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Air Blade, màu xanh - đen, biển số 67B1-506.42, đã qua sử dụng;
- + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Exciter, màu đen – bạc, biển số 66H7-7901, đã qua sử dụng;
- + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu RCV 120, màu đỏ - trắng, biển số 66P1-039.79, đã qua sử dụng;
- + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Vision, màu trắng, biển số 66G1-362.21, đã qua sử dụng;
- + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Click, màu trắng, biển số 66P2-334.56, đã qua sử dụng;
- + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave Anpha, màu vàng, biển số 66H1-202.35, đã qua sử dụng.
Quá trình điều tra, Lưu Văn L, Phan Quang B, Bùi Thị Mỹ N2, Nguyễn Thị B2, Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị D1, Nguyễn Văn M1, Nguyễn Thị Oanh Đ, Võ Vũ L3, Võ Thanh B3, Lê Thị Ngọc H1, Trần Văn L2, Phan Thanh V, Bùi Thị Đ1, Lê Vỹ K khai nhận vào ngày 30/9/2022, có tham gia đánh bạc dưới hình thức lắc T7- Xỉu ăn thua bằng tiền, mỗi ván chơi đặt tiền từ 300.000 đồng - 4.000.000 đồng đến khi lực lượng Công an phát hiện bắt giữ quả tang tại hiện trường Lưu Văn L đang đặt cược 100.000 đồng, Phan Quang B đang đặt cược 200.000 đồng, Bùi Thị Mỹ N2 đang đặc cược 500.000 đồng (cùng mộ số đối tượng không rõ họ tên cụ thể) nhưng chưa có kết quả thắng, thua thì bị Cơ quan Công an bắt quả tang thu trên chiếu bạc 65.270.000 đồng. Nguyễn Thị B2, Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị D1, Nguyễn Văn M1, Nguyễn Thị Oanh Đ, Võ Vũ L3, Võ Thanh B3, Lê Thị Ngọc H1, Trần Văn L2, Phan Thanh V, Bùi Thị Đ1, Lê Vỹ K không tham gia ván T7-xỉu bị bắt quả tang chỉ tham gia các ván trước đó. Riêng Lê Văn T2, Nguyễn Trần Thị T3, Nguyễn Phi A, Ngô Đình V1, Trương Thị C1, Lê Văn N3, Nguyễn Văn B4, Nguyễn Thị Kim D2, Nguyễn Thị Kim C2, Nguyễn Thị Bé E, Bùi Thông M2, Trần Ngọc L4, Lê Văn T2 không tham gia đánh bạc, chỉ đến địa điểm đánh bạc để xem và tìm người thân.
Hình thức lắc T7 - Xỉu được xác định bằng điểm: “Tài” được tính từ 11 đến 17 điểm, “Xỉu” được tính từ 04 đến 10 điểm, “Bảo” là ba mặt giống nhau có cùng 01 nút là 03 điểm, 03 mặt cùng 02 nút là 06 điểm, 03 mặt cùng 03 nút là 09 điểm, 03 mặt cùng 04 nút là 12 điểm, 03 mặt cùng 05 nút là 15 điểm, 03 mặt cùng 06 nút là 18 điểm. Theo quy ước nếu đặt “T7” ra “Tài” là trúng, đặt “Xỉu” ra “Xỉu” là trúng, nếu nhà cái (còn gọi là người lắc cái, người làm cái) “Bảo” thì thắng hết tức là “Bảo Tài” thì thắng hết bên “Xỉu”, ngược lại “Bảo Xỉu” thì thắng hết bên “T7”; bên nào đặt trúng “B5” không thắng cũng không thua (còn gọi là chạy). Trong đó, “Bảo Tài” có 03 nút, 06 nút, 09 nút còn “Bảo Xỉu” có 12 nút, 15 nút, 18 nút.
Tại Bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 182/KLGĐ và Công văn số 182.0/PYTT cùng ngày 16/5/2023 của Trung tâm P kết luận đối với Bùi Thị Mỹ N2:
- + Về y học: Trước, trong, sau khi phạm tội và hiện tại: Đương sự có bệnh lý tâm thần rối loạn cảm xúc lưỡng cực (F31-ICD10).
- + Về năng lực: Tại thời điểm phạm tội và hiện tại đương sự hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, giai đoạn bệnh thuyên giảm.
Các vật chứng thu giữ Cơ quan điều tra đã xử lý: 259.729.000 đồng; 29 xe mô tô, xe gắn máy; 20 điện thoại di động các loại. Cụ thể:
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả số tiền Việt Nam 250.421.000 đồng và 24 xe mô tô, xe gắn máy; 16 điện thoại di động các loại cho người liên quan. Cụ thể trả cho:
- + Huỳnh Duy T5: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave 100, màu xanh - đen, biển số 66H1-400.71;
- + Lê Văn T2: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu RCV 120, màu đỏ - trắng, biển số 66P1-039.79, đã qua sử dụng;
- + Nguyễn Thị G1: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Dream, màu nâu (nho), không biển số, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu đen, đã qua sử dụng;
- + Bùi Thị Đ1: 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo, màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Sirius, màu đen – bạc, biển số 66K1-397.68, đã qua sử dụng;
- + Trần Ngọc L4: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave Anpha, màu xanh, biển số 66P1-560.76, đã qua sử dụng;
- + Lê Thị Ngọc H1: 58.261.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo, màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) căn cước công dân tên Lê Thị Ngọc H1;
- + Trần Văn L2: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Ecexter, màu xanh - đen, biển số 66G1-761.49, đã qua sử dụng; 71.195.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu đen, đã qua sử dụng;
- + Lê Vỹ K: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Vario, màu trắng, biển số 66H1-423.04, đã qua sử dụng;
- + Nguyễn Thị Kim D2: 25.000 đồng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Click, màu trắng, biển số 66P2-334.56, đã qua sử dụng;
- + Lê Văn N3: 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu hồng, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Air Blade, màu đen đỏ, biển số 67H1-229.94, đã qua sử dụng;
- + Nguyễn Thị Kim C2: 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu đen, đã qua sử dụng;
- + Lê Đức T6: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Exciter, màu đen – bạc, biển số 66H7- 7901, đã qua sử dụng;
- + Phạm Văn H3: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave RSX, màu xanh - đen, biển số 66H1-282.91, đã qua sử dụng;
- + Lưu Văn L: 01 (một) điện thoại di động hiệu Itel màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Vision, màu trắng, biển số 66G1-362.21, đã qua sử dụng;
- + Nguyễn Thị Kim T9: 10.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu đen, đã qua sử dụng;
- + Nguyễn Thị G1: 304.000 đồng;
- + Nguyễn Trần Thị T3: 500.000 đồng;
- + Đinh Hồng N4: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave Anpha, màu vàng, biển số 66H1-202.35, đã qua sử dụng
- + Bùi Thông M2: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Vario, màu vàng, biển số 66G1-670.39, đã qua sử dụng;
- + Mai Thị T1: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave ZX, màu đỏ - đen, biển số 66B1-777.19, đã qua sử dụng;
- + Nguyễn Út E1: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave Anpha, màu đỏ, biển số 66N1-219.72, đã qua sử dụng;
- + Nguyễn Thị N5: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave Anpha, màu trắng, biển số 66H1-253.10, đã qua sử dụng;
- + Nguyễn Thị Bé E: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Air Blade, màu đen đỏ, biển số 66H1-340.53, đã qua sử dụng;
- + Nguyễn Thị B2: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Sirius, màu đỏ - đen, biển số 66N1-429.48, đã qua sử dụng;
- + Ngô Đình V1: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Smash Revo, màu đỏ, biển số 66K1-066.04, đã qua sử dụng;
- + Nguyễn Văn M1: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Sirius, màu đen, biển số 68P5-2058, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động hiệu N6 màu đen, dạng nút bấm và 02 (hai) điện thoại di động hiệu Oppo màu đen, đều đã qua sử dụng;
- + Nguyễn Phi A: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Supper Dream, màu nâu (nho), biển số 66B1-790.07, đã qua sử dụng;
- + Phan Quang B: 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme màu bạc, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu SH Mode, màu trắng, biển số 66G1-226.75, đã qua sử dụng;
- + Trần Thị Bích N1: 120.126.000 đồng; 02 (hai) điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng gold, đã qua sử dụng;
- + Bùi Thị Mỹ N2: 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu trắng, dạng nút bấm; 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh đen, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave Anpha, màu đỏ, biển số 66N6-4190, tất cả đều đã qua sử dụng.
- Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển Công an phường A, thành phố H 9.308.000 đồng và 04 điện thoại, 05 xe mô tô, xe gắn máy để đảm bảo việc xử lý hành chính đối với những người tham gia đánh bạc trước ván bị bắt quả tang. Gồm các loại: 01 (một) xe gắn máy nhãn hiệu Chaly, màu trắng, biển số 66FB-4652, đã qua sử dụng; 01 (một) xe gắn máy nhãn hiệu Wave Anpha, màu xanh, biển số 66BA-004.03, đã qua sử dụng; 01 (một) xe gắn máy nhãn hiệu Cup Japan, màu trắng, biển số 66HA-020.38, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave, màu đỏ biển số 66H1-2121, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Air Blade, màu xanh - đen, biển số 67B1-506.42, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Vsmart màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu xám, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động Nokia màu xanh, dạng nút bấm đã qua sử dụng.
- Đối với vật chứng còn lại tiếp tục tạm giữ phục vụ công tác điều tra, truy tố.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 37/2024/HS-ST ngày 20 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, đã quyết định:
- 1/ Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố: Bị cáo Lưu Văn L phạm tội “Đánh bạc”.
- Xử phạt bị cáo Lưu Văn L 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.
- 2/ Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố: Bị cáo Phan Quang B phạm tội “Đánh bạc”.
- Xử phạt bị cáo Phan Quang B 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên phạt bị cáo Bùi Thị Mỹ N2 03 (ba) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm cùng về tội “Đánh bạc”; tuyên về hình phạt bổ sung; về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 25 tháng 8 năm 2024, các bị cáo Lưu Văn L và Phan Quang B kháng cáo với nội dung kêu oan.
Tại phiên toà phúc thẩm, các bị cáo Lưu Văn L và Phan Quang B thay đổi nội dung kháng cáo, các bị cáo yêu cầu xem xét lại khung hình phạt và xin giảm nhẹ hình phạt, xin được áp dụng hình phạt tiền.
Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm: Hành vi của các bị cáo Lưu Văn L và Phan Quang B bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Đánh bạc” là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo Lưu Văn L và Phan Quang B có đơn kháng cáo xin xem xét lại bản án sơ thẩm vì các bị cáo chỉ phạm tội thuộc khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự và xin cho bị cáo hình phạt tiền. Nhận thấy việc các bị cáo khai nhận tại thời điểm cơ quan điều tra bắt quả tang, bị cáo L đang đặt 100.000 đồng, bị cáo B đặt 200.000 đồng, số tiền này của các bị cáo nằm chung trong số tiền thu tại chiếu bạc là 65.270.000 đồng. Ngoài ra, thu trên người của bị cáo L 610.000 đồng, bị cáo B là 4.443.000 đồng, bị cáo B khai sử dụng 600.000 đồng để đánh bạc. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Lưu Văn L và Phan Quang B khai rằng thời điểm bắt quả tang, cơ quan Công an công bố thu giữ khoảng 45.000.000 đồng. Sau khi lập biên bản, thu giữ đồ vật, dọn dẹp tấm mũ nhựa trải làm chiếu bạc thì phát hiện 01 bọc nylon màu xanh bên trong có hơn 20.000.000 đồng nằm bên dưới tấm mũ nhựa nên tiếp tục thu giữ, cộng lại với số tiền thu trên chiếu bạc mới ra số tiền 65.270.000 đồng.
Nhận thấy, do không xác định được người làm cái và không chứng minh được số tiền khoảng 20.000.000 đồng nằm bên dưới chiếu bạc là của ai. Đây là tình tiết mới phát sinh tại phiên toà phúc thẩm mà cấp sơ thẩm chưa chứng minh làm rõ. Tuy nhiên, áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị can, bị cáo nên cần xét xử các bị cáo phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Căn cứ Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Lưu Văn L từ 06 tháng đến 09 tháng tù; Xử phạt bị cáo Phan Quang B từ 09 tháng đến 01 năm tù.
Đối với bị cáo Bùi Thị Mỹ N2, do không có kháng cáo, kháng nghị nên không đặt ra giải quyết.
Các vấn đề khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị và được giải quyết đúng quy định pháp luật nên không đặt ra xem xét.
Trong phần tranh luận, các bị cáo không tranh luận mà chỉ xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo để có điều kiện chăm lo cho gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa, các bị cáo Lưu Văn L và Phan Quang B khai nhận vào ngày 30/9/2022, có tham gia đánh bạc dưới hình thức lắc T7-Xỉu ăn thua bằng tiền. Các bị cáo cùng một số đối tượng không rõ họ tên cụ thể đặt được một ván, đến ván thừ hai, Lưu Văn L đang đặt cược 100.000 đồng, Phan Quang B đang đặt cược 200.000 đồng, Bùi Thị Mỹ N2 đang đặt cược 500.000 đồng nhưng chưa có kết quả thắng, thua thì bị Cơ quan Công an bắt quả tang, thu trên chiếu bạc 45.000.000 đồng. Sau khi lập biên bản, thu giữ đồ vật, dọn dẹp tấm mũ nhựa trải làm chiếu bạc thì phát hiện 01 bọc nylon màu xanh bên trong có 20.270.000 đồng, được quấn lại, không biết của ai và để nằm bên dưới tấm mũ nhựa nên tiếp tục thu giữ, cộng lại với số tiền thu trên chiếu bạc mới ra số tiền 65.270.000 đồng.
[2] Hội đồng xét xử xét thấy, căn cứ lời khai nhận của các bị cáo, cùng các tài liệu và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở xác định: Khi lực lượng Công an bắt quả tang các bị cáo đang đánh bạc bị cáo L đang đặt 100.000 đồng, bị cáo B đặt 200.000 đồng, số tiền này của các bị cáo nằm chung trong số tiền thu tại chiếu bạc là 65.270.000 đồng. Ngoài ra, thu trên người của bị cáo L 610.000 đồng, bị cáo B là 4.443.000 đồng, bị cáo B khai sử dụng 600.000 đồng để đánh bạc. Trong số tiền 65.270.000 đồng thu tại chiếu bạc là 65.270.000 đồng, cơ quan Công an công bố thu giữ trên chiếu bạc 45.000.000 đồng. Sau khi lập biên bản, thu giữ đồ vật, dọn dẹp tấm mũ nhựa trải làm chiếu bạc thì phát hiện 01 bọc nylon màu xanh bên trong có 20.270.000 đồng nằm bên dưới tấm mũ nhựa nên tiếp tục thu giữ, cộng lại với số tiền thu trên chiếu bạc mới ra số tiền 65.270.000 đồng là có thật. Bị cáo Lưu Văn L có tiền sự về hành vi đánh bạc lại tiếp tục tham gia đánh bạc dưới hình thức lắc tài xỉu được thua bằng tiền; còn các bị cáo Phan Quang B và Bùi Thị Mỹ N2 cũng tham gia đánh bạc với Lil như đã nêu trên nên có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Tuy nhiên, số tiền 20.270.000 đồng trong túi nilon màu xanh, quấn lại, để dưới chiếu bạc chưa xác định được là của người nào, có sử dụng vào việc đánh bạc hay không nhưng lại lập biên bản phạm tội quả tang ghi thu trên chiếu bạc số tiền 65.270.000 đồng rồi khởi tố, truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự là chưa có căn cứ vững chắc. Toà án cấp sơ thẩm đã trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung, làm rõ số tiền đánh bạc nêu trên. Cơ quan điều tra có kết luận điều tra bổ sung nhưng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Theo phạm vi xét xử, Toà án cấp sơ thẩm đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định nhưng cấp sơ thẩm vẫn không xác định được người làm cái, không chứng minh được số tiền 20.270.000 đồng nằm bên dưới chiếu bạc là của ai, có sử dụng vào việc đánh bạc hay không nên cấp phúc thẩm không có cơ sở để xem xét.
[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Lưu Văn L, Phan Quang B và Bùi Thị Mỹ N2 về tội “Đánh bạc” là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo là chưa có căn cứ vững chắc như Hội đồng xét xử đã nhận định ở phần trên. Do đó, cần phải hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để điều tra, truy tố và xét xử theo thủ tục chung.
[4] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với các bị cáo là chưa phù hợp nên không chấp nhận.
[5] Các bị cáo Lưu Văn L và Phan Quang B không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 358 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Hủy toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm số 37/2024/HS-ST ngày 20 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự. Chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án cho cấp sơ thẩm để điều tra, truy tố và xét xử lại theo thủ tục chung.
Giao toàn bộ hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự để điều tra, truy tố và xét xử lại theo thủ tục chung.
Về án phí: Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Khắc Thịnh |
Bản án số 42/2025/HS-PT ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự phúc thẩm (đánh bạc)
- Số bản án: 42/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc hủy án
