Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2024/HS-ST

Ngày 09-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ,TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thống.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Phương Trang;

2. Ông Trần Duy Hồ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Lài - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Hồ Long Hồ - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 50/2024/TLST-HS, ngày 19 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXXST-HS, ngày 27 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Duy P, sinh ngày 01/01/1992 tại Đồng Tháp; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp B, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1969 và bà Huỳnh Thị Lệ H, sinh năm 1967; vợ: Lương Thị B, sinh năm 1998; con: 02 người con (lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2018); tiền sự: Chưa có; tiền án: Chưa có; tạm giữ: Ngày 12/6/2024; tạm giam: Từ ngày 14/6/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố H, tỉnh Đồng Tháp (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Nguyễn Văn A, sinh năm 1987 (vắng mặt);

2. Trương Phan Hồng Đ, sinh năm 2000 (vắng mặt);

Cùng nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.

- Người chứng kiến: Nguyễn Phúc H1, sinh năm 2001. Nơi cư trú: Khóm D, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ, ngày 14/9/2023, Nguyễn Văn A đi mua ma túy của một người thanh niên, không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể ở C với giá 500.000 đồng, mang về nhà ở ấp B, xã T, huyện H cất giấu để sử dụng. Đến khoảng 14 giờ, Nguyễn Văn A lấy ma túy mang theo trên người và đi uống bia, rượu cùng Nguyễn Duy P, Trương Phan Hồng Đ, sinh năm 2000 và người bạn tên Q không rõ họ tên cụ thể cùng ngụ ấp B, xã T, huyện H. Trong lúc nói chuyện, P hỏi A “Có còn chơi ma túy không”, A trả lời “còn, mới mua ma túy nè”. Sau đó, A, P cùng rủ ĐQ đi thành phố H chơi và tìm nơi sử dụng ma túy.

Khi cả nhóm đến nhà nghỉ K1 tại khóm E, phường A, thành phố H, A thuê phòng số 10 cho A, P ở và thuê phòng số 15 cho Đ, Q ở. Sau khi được bố trí phòng, cả nhóm tập trung tại phòng trọ số A, A lấy ma túy ra đưa P, P lấy nỏ thủy tinh mang theo sẵn và chế chai mủ nhựa hiệu Sting thành dụng cụ sử dụng ma túy; P lấy ma túy đổ một phần vào bộ dụng cụ, dùng bật lửa đốt lên sử dụng cùng với A, ĐQ, phần ma túy còn lại để trên bàn. Sau khi sử dụng ma túy xong QĐ về phòng trọ số 15 ngủ, AP ngủ tại phòng trọ số A, sau đó Q về nhà trước, Đ qua phòng số 10 của A, P chơi.

Đến khoảng 18 giờ 10 phút, ngày 15/9/2023, Công an phường A, phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự - Kinh tế - Ma túy Công an thành phố H kiểm tra hành chính nhà trọ Khoa Nam, phát hiện trong phòng trọ số 10 có 01 (một) bịch nylon màu trắng có nắp kẹp màu đỏ, bên trong có các hạt tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy và nhiều dụng cụ dùng sử dụng trái phép chất ma túy nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội qua tang.

Tại biên bản bắt người phạm lội quả tang thu giữ: 01 (một) bịch nylon màu trắng có nắp kẹp màu đỏ, bên trong có các hạt tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy; 01 (một) chai gas mini, bên trên có ghi dòng chữ BlufStar màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) chai mủ nhựa trong suốt, có nắp đậy màu trắng, bên ngoài có dáng nhãn ghi dòng chữ Sting, trên nắp đậy có gắn 02 ống mủ nhựa trắng trong, đã qua sử dụng; 01 (một) bật lửa màu vàng, đã qua sử dụng; 01 (một) đoạn ống mủ nhựa trắng trong, không rõ hình.

Tại bản Kết luận giám định số: 1015/KL-KTHS, ngày 18/9/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh Đ1, kết luận: “Tinh thể rắn chứa trong 01 bịch (túi) nylon màu trắng dạng nắp kẹp một đầu có viền màu đỏ kẹp kín, được niêm phong trong túi niêm phong nêu trên gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,837 gam loại Methamphetamine (số thứ tự 247, mục IIC thuộc Danh mục II, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ)”.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; Nguyễn Duy P về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tuy nhiên Nguyễn Duy P bỏ trốn nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định truy nã, đến ngày 12/6/2024, bắt được P.

Quá trình điều tra, Nguyễn Duy P đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội đã thực hiện.

Tại bản cáo trạng số: 44/CT-VKSTPHN, ngày 15 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp truy tố bị cáo Nguyễn Duy P về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự thực hành quyền công tố khẳng định hành vi của bị cáo Nguyễn Duy P đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo bị cáo Nguyễn Duy P về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo sống bằng nghề làm thuê, thu nhập không ổn định, nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

- Đối với việc Nguyễn Văn A có vai trò dồng phạm cùng Nguyễn Duy P về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự đã xét xử vào ngày 22/5/2024 tuyên xử Nguyễn Văn A 07 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 02 năm tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” nên không đề nghị Hội đồng xem xét xử lý.

- Đối với việc Nguyễn Văn A khai nhận số lượng ma túy mua của một người thanh niên không biết rõ họ tên và địa chỉ cụ thể tại Campuchia với giá

500.000 đồng mục đích để sử dụng. Hiện hành vi phạm tội này của A đã được xét xử bằng bản án số 16/2024/HSST, ngày 22/5/2024 cua Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp. Riêng đối tượng bán ma túy cho A, qua xác minh không rõ đối tượng, chưa làm việc được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.

- Đối với địa điểm tổ chức sử dụng ma túy tại phòng số 10, nhà trọ Khoa Nam. Qua điều tra làm rõ chủ Cơ sở kinh doanh là ông Nguyễn Thành N, N không biết Nguyễn Văn ANguyễn Duy P tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà trọ nên không có căn cứ xem xét xử lý với vai trò đồng phạm cùng Nguyễn Văn A, Nguyễn Duy P về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và hành vi “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.

- Đối với đối tượng Trương Phan Hồng Đ sử dụng ma túy trong phòng số 10. Qua điều tra thể hiện Đ là người sử dụng ma túy, không bàn bạc, rủ rê, giúp sức đến hành vi tổ chức sử dụng ma túy của bị can Nguyễn Văn ANguyễn Duy P nhưng do Đ sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã đề nghị Công an thành phố H xử lý hành chính đối với Trương Phan Hồng Đ, do đó không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.

- Đối với đối tượng tên Q sử dụng ma túy trong phòng số 10. Qua điều tra chỉ biết tên Q (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) là người sử dụng ma túy, không bàn bạc, rủ rê. giúp sức đến hành vi tổ chức sử dụng ma túy của bị cáo Nguyễn Văn ANguyễn Duy P, nhưng do Q sử dụng trái phép chất ma túy nên khi nào làm rõ nhân thân Cơ quan cảnh sát điều tra sẽ đề nghị Công an thành phó H xử lý hành chính đối với Q do đó không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.

- Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chai gas mini, bên trong có ghi dòng chữ BlufStar màu xanh; 01 (một) chai mủ nhựa trong suốt, có nắp đậy màu trắng, bên ngoài có dáng nhãn ghi dòng chữ Sting, trên nắp dậy có gắn 02 ống mủ nhựa trắng trong; 01 (một) bật lửa màu vàng; 01 (một) đoạn ống mủ nhựa trắng trong, không rõ hình.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Duy P đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 15/9/2023, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các chứng cứ khác

thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo thống nhất với nội dung luận tội của Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Duy P đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đã thực hiện đúng như cáo trạng truy tố của Viện Kiểm sát. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mình thực hiện là vi phạm pháp luật hình sự, nhưng vì để thỏa mãn nhu cầu của bản thân bị cáo đã cùng với Nguyễn Văn A cung cấp ma túy, dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy tổ chức cho Trương Phan Hồng ĐQ cùng sử dụng, trong đó A là người trực tiếp mua ma túy, còn P là người chuẩn bị dụng cụ sử dụng và trực tiếp phân phối ma túy để cả nhóm cùng sử dụng. Trong lúc các đối tượng đang sử dụng thì bị Công an phường A, phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự - Kinh tế - Ma túy Công an thành phố H kiểm tra hành chính nhà trọ Khoa Nam phát hiện nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang, Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 (một) bịch nylon màu trắng có nắp kẹp màu đỏ, bên trong có các hạt tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy.

Căn cứ Bản kết luận giám định số: 1015/KL-KTHS, ngày 18/9/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh Đ1, kết luận: “Tinh thể rắn chứa trong 01 bịch (túi) nylon màu trắng dạng nắp kẹp một đầu có viền màu đỏ kẹp kín, được niêm phong trong túi niêm phong nêu trên gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,837 gam loại Methamphetamine”.

Nguyễn Duy P khai nhận, ma túy bị bắt quả tang là của Nguyễn Văn A mua về để sử dụng, P là người trực tiếp chuẩn bị dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy và phân mà túy ra để cả nhóm cùng sử dụng.

Căn cứ lời thừa nhận của bị cáo, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 15/9/2023 và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Duy P đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.

Điều 255. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

“1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm

a)...;

b) Đối với 02 người trở lên...”;

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy, gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.

Như chúng ta đã biết, hậu quả của việc sử dụng trái phép chất ma túy gây ra cho xã hội rất nặng nề, nó đang làm hủy hoại sức khỏe của chính người sử dụng, xói mòn sự tồn tại và phát triển của loài người, tàn phá cuộc sống yên vui gia đình của người sử dụng, gây tác hại trên lĩnh vực kinh tế, văn hóa, là nguyên nhân phát sinh tội phạm, các tệ nạn xã hội khác, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự ổn định và phát triển của xã hội.

Hiện nay, tình trạng tàng trữ ma túy để sử dụng và tổ chức sử dụng, mua bán trái phép trên cả nước nói chung và trên địa bàn thành phố H nói riêng xảy ra ngày càng nhiều với tính chất hết sức phức tạp. Nhằm để ổn định tình hình chính trị tại địa phương, góp phần vào công cuộc phòng chống và ngăn ngừa tội phạm, Hội đồng xét xử xét thấy phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

[3] Về nhân thân của bị cáo:

Bị cáo chưa có tiền sự, tiền án, nhưng do bị cáo là đối tượng nghiện ma túy và để thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Điều đó thể hiện bị cáo thiếu ý thức tu dưỡng rèn luyện nhân cách, thể hiện bản chất xem thường pháp luật.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội đã thực hiện, đây là

tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5] Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, căn cứ vào tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống cộng đồng một thời gian nhất định, để có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục cho bị cáo thấy được lỗi lầm của mình, phấn đấu trở thành con người tốt, có ích cho gia đình và xã hội. Có như thế mới thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật. Đồng thời, nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho những ai có ý định phạm tội như bị cáo.

[6] Trong vụ án này có đồng phạm nhưng thuộc đồng phạm giản đơn, Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội từng bị cáo gây ra để quyết định hình phạt cho tương xứng.

Nguyễn Văn A là người khởi xướng, rủ rê việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, chính bị cáo là người mua ma túy về để cả nhóm cùng xử dụng. Hành vi phạm tội của Nguyễn Văn A là rất nguy hiểm cho xã hội.

Đối với Nguyễn Duy P là người giúp sức tích cực, khi Nguyễn Văn A rủ rê tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thì bị cáo đồng ý và thực hiện ngay. Bị cáo là người chuẩn bị dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy và phân ma túy ra để cả nhóm cùng sử dụng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên phải xử lý nghiêm thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

[7] Đối với việc Nguyễn Văn A có vai trò đồng phạm cùng Nguyễn Duy P về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự đã xét xử vào ngày 22/5/2024 ( Bản án số: 16/2024/HS-ST) tuyên xử Nguyễn Văn A 07 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 02 năm tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

[8] Đối với đối tượng bán ma túy cho Nguyễn Văn A, qua xác minh không rõ đối tượng, Cơ quan điều tra chưa làm việc được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

[9] Đối với địa điểm tổ chức sử dụng ma túy tại phòng số 10, nhà trọ Khoa Nam. Qua điều tra làm rõ chủ cơ sở kinh doanh là ông Nguyễn Thành N, ông N không biết Nguyễn Văn ANguyễn Duy P tổ chức sử dụng trái phép chất ma

túy tại nhà trọ nên không xem xét xử lý với vai trò đồng phạm cùng Nguyễn Văn A, Nguyễn Duy P về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và hành vi “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” do đó Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

[10] Đối với đối tượng Trương Phan Hồng Đ sử dụng ma túy trong phòng số 10. Qua điều tra, thể hiện Đ là người sử dụng ma túy, không bàn bạc, rủ rê, giúp sức đến hành vi tổ chức sử dụng ma túy của bị cáo Nguyễn Văn ANguyễn Duy P, nhưng do Đ sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã đề nghị Công an thành phố H xử lý hành chính đối với Trương Phan Hồng Đ, do đó Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

[11] Đối với đối tượng tên Q sử dụng ma túy trong phòng số 10. Qua điều tra, chỉ biết tên Q (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) là người sử dụng ma túy, không bàn bạc, rủ rê, giúp sức đến hành vi tổ chức sử dụng ma túy của Nguyễn Văn ANguyễn Duy P, nhưng do Q sử dụng trái phép chất ma túy nên khi nào làm rõ nhân thân Cơ quan cảnh sát điều tra sẽ đề nghị Công an thành phố H xử lý hành chính đối với Q do đó Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

[12] Về vật chứng vụ án:

Đối với 01 (một) chai gas mini, bên tron có ghi dòng chữ BlufStar màu xanh; 01 (một) chai mủ nhựa trong suốt, có nắp đậy màu trắng, bên ngoài có dáng nhãn ghi dòng chữ Sting, trên nắp dậy có gắn 02 ống mủ nhựa trắng trong; 01 (một) bật lửa màu vàng; 01 (một) đoạn ống mủ nhựa trắng trong, không rõ hình. Đây là vật chứng liên quan đến việc thực hiện hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sư tuyên tịch thu tiêu hủy là phù hợp pháp luật.

[13] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo sống bằng nghề làm thuê, không có thu nhập ổn định, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy nội dung luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ và phù hợp pháp luật.

[14] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy P phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy P 07 (bảy) năm tù. Thời hạn từ tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 12/6/2024).

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chai gas mini, bên tron có ghi dòng chữ BlufStar màu xanh; 01 (một) chai mủ nhựa trong suốt, có nắp đậy màu trắng, bên ngoài có dáng nhãn ghi dòng chữ Sting, trên nắp dậy có gắn 02 ống mủ nhựa trắng trong; 01 (một) bật lửa màu vàng; 01 (một) đoạn ống mủ nhựa trắng trong, không rõ hình.

(Tất cả các vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hồng Ngự đang quản lý, theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/8/2024).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Duy P phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 09/9/2024). Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND. TX. Hồng Ngự;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND TP. Hồng Ngự;
  • - Nhà tạm giữ Công an TP. Hồng Ngự;
  • - Cơ quan CSĐT Công an TP. Hồng Ngự;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Minh Thống

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 42/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BẢN ÁN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger