TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 42/2024/HS-ST Ngày: 09/05/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trung Thông.
Thẩm phán: Bà Hoàng Thị Hải Hường.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Văn Long
Ông Ngô Kim Tuyến
Bà Phạm Thị Tuyết Trinh
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Như Ý- Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn Bá Tuân - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 07/05/2024 và ngày 09/05/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, mở phiên toà xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 105/2023/TLST-HS ngày 20/11/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2024/QĐXXST-HS ngày 04/01/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 07/2024/ HSST-QĐ ngày 19/01/2024; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 17 ngày 02/02/2024; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số: 02/2024/ HSST-QĐ ngày 06/03/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 26/2024/HSST ngày 11/03/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 43/2024/ HSST-QĐ ngày 10/04/2024, đối với các bị cáo:
- Họ tên: Phạm Xuân T, sinh năm 1967; Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không.
Địa chỉ: Số A, ngách A, ngõ C, đường C, tổ dân phố Đ, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: Lớp 10/10. Nghề nghiệp: Nguyên Giám đốc Công ty TNHH T8. Con ông: Phạm Sỹ L, sinh năm 1930. Con bà: Lê Thị Ê, sinh năm 1930. Vợ: Trần Thị T1, sinh năm 1973. Con: Bị cáo có 03 con, con lớn sinh năm 1995; con nhỏ sinh năm 2012.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 16/9/2023 bị Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt 01 năm 10 tháng tù về tội “Mua bán trái phép hoá đơn”.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/12/2022 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (Có mặt tại phiên tòa).
- Họ tên: Trần Thị T1, sinh năm 1973; Giới tính: Nữ. Tên gọi khác: Không.
Địa chỉ: Số A, ngách A, ngõ C, đường C, tổ dân phố Đ, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: Lớp 12/12. Nghề nghiệp: Nhân viên kế toán Công ty TNHH T8. Con ông: Trần Văn L1 (đã chết). Con bà: Nguyễn Thị T2, sinh năm 1938. Chồng: Phạm Xuân T, sinh năm 1967. Con: Bị cáo có 03 con, con lớn sinh năm 1995; con nhỏ sinh năm 2012.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 16/9/2023 bị Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt 02 năm tù về tội “Mua bán trái phép hoá đơn”.
Bị cáo đang bị tạm giam theo Quyết định tạm giam của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang về tội “Mua bán trái phép hoá đơn”. (Có mặt tại phiên tòa).
* Người bào chữa cho bị cáo T:
- Luật sư Hoàng Thị Bích L2; Luật sư Võ Thị An B - Văn phòng L4 – Đoàn Luật sư tỉnh B (Luật sư L2 vắng mặt, luật sư B có mặt khi xét xử vắng mặt khi tuyên án)
Địa chỉ: Số I H, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang
* Người bào chữa cho bị cáo T1:
- Luật sư Giáp Văn Đ - Công ty L5 – Đoàn Luật sư tỉnh B (Xin vắng mặt gửi bài luận cứ).
* Bị hại:
- Nguyễn Văn H, sinh năm 1983 (Có mặt).
- Nguyễn Thị N, sinh năm 1992 (Có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án).
- Nguyễn Thị H1, sinh năm 1992 (Có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án).
Địa chỉ: Thôn Phú Khê, xã Quế Nham, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang
Địa chỉ: Thôn Kiễm, xã Hương Lạc, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
Địa chỉ: Phố V, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Nguyễn Trọng N1, sinh năm 1984 (Có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án).
- Nguyễn Văn K, sinh năm 1978 (Có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án).
Địa chỉ: Thôn N, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang
Địa chỉ: Số F đường L, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang
*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Chị Hoàng Thị H2, sinh năm 1987(Có mặt khi xét xử vắng mặt khi tuyên án).
- Anh Dương Văn T3, sinh năm 1989 (Vắng mặt).
- Anh Nguyễn Quang T4, sinh năm 1972 (Vắng mặt).
- Anh Trần Văn Đ1, sinh năm 1985 (Vắng mặt).
- Chị Nguyễn Thị T5, sinh năm 1973 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Anh Bạch Văn H3, sinh năm 1990 (Vắng mặt).
- Anh Nguyễn Trọng K1, sinh năm 1984 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Chị Trần Thị O, sinh năm 1982 (Vắng mặt)
- Anh Dương Quốc T6, sinh năm 1978 (Vắng mặt)
- Chị Nguyễn Thị L3, sinh năm 1982 (Vắng mặt)
- Anh Nguyễn Văn N2, sinh năm 1982 (Vắng mặt)
- Anh Trần Nam P, sinh năm 1971 (Vắng mặt)
- Chị Dương Thị H4, sinh năm 1975 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Y, xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Thôn Mẫu Sơn, xã Chu Điện, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
Địa chỉ: Số D đường L, tổ N, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Hiện đang chấp hành án tại Trại giam N4, Cục C, Bộ C1.
Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Số 29, tổ 4B, phường Trần Nguyên Hãn, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
Địa chỉ: Thôn Nội Đình, xã Yên Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
Địa chỉ: Thôn N, xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang
Địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang
Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang
Địa chỉ: Tổ D, phường T, TP B, tỉnh Bắc Giang
Địa chỉ: Tổ D, phường T, TP B, tỉnh Bắc Giang
- Anh Chu Văn X, sinh năm 1968, (Vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang
Người làm chứng:
- Chị Trần Hải N3, sinh năm 1984 (Có đơn xin xét xử vắng mặt mặt)
- Anh Bùi Đỗ D, sinh năm 1983 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố Phi Mô, thị trấn Vôi, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
Địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty TNHH T8 (gọi tắt là Công ty T8) được Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh B cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp ngày 21/3/2005; Công ty có địa chỉ trụ sở chính tại số A, Ngõ C, đường C, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Thành viên góp vốn của Công ty gồm: Phạm Xuân T, giữ chức vụ Giám đốc và là người đại diện theo pháp luật; Trần Thị T1 (vợ T), là nhân viên Kế toán. Công ty T8 đăng ký và được cấp phép kinh doanh 58 ngành nghề khác nhau, không được cấp phép ngành nghề kinh doanh bất động sản, quyền sử dụng đất thuộc chủ sở hữu, chủ sử dụng hoặc đi thuê.
Ngày 28/11/2017, UBND tỉnh B có Quyết định số 1998/QĐ-UBND về việc phê duyệt kết quả lựa chọn Chủ đầu tư Khu dân cư mới xã T, theo đó Liên danh Công ty Cổ phần X1 và Công ty TNHH Đ2 được lựa chọn làm Chủ đầu tư. Ngày 11/10/2018, UBND tỉnh B có Quyết định số 1581/QĐ-UBND về việc phê duyệt Quy hoạch chi tiết xây dựng Khu dân cư mới xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, tỷ lệ 1/500. Ngày 24/3/2020, UBND huyện L có Quyết định số 257/QĐ-UBND về việc phê duyệt điều chỉnh cục bộ Quy hoạch chi tiết xây dựng Khu dân cư mới xã T, huyện L, tỷ lệ 1/500 (kèm theo Bản đồ quy hoạch phân lô). Ngày 09/6/2020, UBND tỉnh B có Quyết định số 478/QĐ-UBND về việc chấp thuận đầu tư Khu dân cư mới xã T, huyện L. Hiện Dự án vẫn đang trong giai đoạn giải phóng mặt bằng, Chủ đầu tư dự án chưa có bất kỳ hoạt động mua bán, chuyển nhượng, huy động vốn đầu tư nào, cũng không ủy quyền cho đơn vị, cá nhân nào khác đứng ra tiến hành các hoạt động mua bán, chuyển nhượng, huy động vốn đầu tư liên quan đến Dự án.
Công ty T8 không có mối liên hệ nào với Công ty X1 hoặc Công ty Đ2 trong việc thực hiện Dự án Khu dân cư mới xã T, huyện L. Bản thân Phạm Xuân T và Trần Thị T1 không phải nhân viên của Công ty X1 và Công ty Đ2, không được Chủ đầu tư ủy quyền, cho phép đứng ra thực hiện các hoạt động mua bán, chuyển nhượng, huy động góp vốn đầu tư liên quan đến Dự án Khu dân cư mới xã T. Tuy nhiên, Phạm Xuân T và Trần Thị T1 đã đưa thông tin và giới thiệu
đến người khác rằng mình có mối quan hệ với Chủ đầu tư của Dự án Khu dân cư mới xã T nên lấy được các lô đất tại Dự án để người có nhu cầu mua đất tin tưởng đưa tiền. T lấy danh nghĩa đại diện Công ty T8 đã ký các Hợp đồng nhận tiền đặt cọc, hứa hẹn trong thời gian cụ thể sẽ đưa người có nhu cầu mua đất vào ký Hợp đồng trực tiếp với Chủ đầu tư. Sau khi nhận được tiền, T và T1 không đưa cho ai, không nhờ ai để giúp mọi người được ký hợp đồng trực tiếp với Chủ đầu tư để mua, bán, chuyển nhượng các lô đất thuộc Dự án Khu dân cư mới xã T mà sử dụng tiền để trả nợ và chi tiêu cá nhân hết.
Bằng thủ đoạn nêu trên, từ tháng 3/2021 đến tháng 4/2021, Phạm Xuân T và Trần Thị T1 đã nhận tiền và chiếm đoạt của 05 người bị hại với tổng số tiền 14.880.000.000 đồng, cụ thể như sau:
1. Chiếm đoạt của anh Nguyễn Văn H, chị Nguyễn Thị N và chị Nguyễn Thị H1 số tiền 11.040.000.000 đồng:
Hoàng Thị H2 là lao động hợp đồng tại Trung tâm phát triển quỹ đất huyện L. Năm 2016, H2 làm việc tại Công ty T8 nên có mối quan hệ quen biết với Phạm Xuân T và Trần Thị Tuyết . Khoảng đầu tháng 3/2021, tại Cửa hàng xăng dầu số F của Công ty T8 ở tổ dân phố Đ, thị trấn V, huyện L, H2 gặp T và được trao đổi về việc T, T1 có mối quan hệ với Chủ đầu tư Dự án Khu dân cư mới xã T nên có thể lấy được các Dãy liền kề (gồm nhiều lô đất liền kề nhau) của Dự án. T đứng ra ký hợp đồng nhận tiền đặt cọc của mọi người, hứa hẹn nếu H2 giới thiệu được người đến ký hợp đồng thì sẽ được hưởng tiền kênh tùy theo số lô đất có người đặt cọc. Tin tưởng T là Giám đốc Công ty T8, trước đây lại từng làm việc cho T nên sau khi được T hứa hẹn, H2 đã cung cấp thông tin trên cho Dương Văn T3, Nguyễn Thị T5 và Bạch Văn H3 rồi cùng bàn bạc, tìm khách hàng có nhu cầu mua đất để giới thiệu, đưa đến ký hợp đồng với Công ty T8 để lấy tiền kênh (tiền hoa hồng).
Quá trình tìm khách hàng mua đất, H2 giới thiệu với anh Nguyễn Trọng K1 là Cán bộ Sở Tài nguyên môi trường tỉnh B rằng có suất ngoại giao (các lô đất tuy chưa hình thành nhưng có thể đặt vấn đề mua bán trước với Chủ đầu tư với giá ưu đãi) tại Dự án Khu dân cư mới xã T, nếu anh K1 muốn mua thì H2 sẽ đưa đi ký hợp đồng. Sau đó anh K1 đã hỏi thêm thông tin và trao đổi về Dự án với chị Trần Thị O - Nguyên cán bộ Phòng Tài nguyên và môi trường huyện L.
Chị O khi biết thông tin đã trao đổi với chồng là Dương Quốc T6 và bạn của T6 là chị Nguyễn Thị L3. Sau đó thông qua O, T6 thì anh K1 và chị L3 trao đổi, thống nhất chung nhau mua Dãy liền kề LK21 tại Dự án Khu dân cư mới xã T. H2 hẹn anh K1, chị L3 đến Cửa hàng xăng dầu số 6 và giới thiệu đến Thảo, T1 để ký hợp đồng. Ngày 17/3/2021, anh K1, chị L3 gặp trực tiếp T, T1 thì được T, T1 cam đoan rằng có mối quan hệ với Chủ đầu tư của Dự án Khu dân cư mới xã T, có khả năng đưa anh K1, chị L3 vào ký hợp đồng mua bán trực tiếp các lô đất tại Dự án với Chủ đầu tư. Giữa anh K1, chị L3 và T, T1 ký 01 Giấy biên nhận đặt cọc tiền, có sự chứng kiến của H2 và T6. Anh K1, chị L3 chuyển cho T, T1 số tiền đặt cọc là 1.000.000.000 đồng (trong đó anh K1 đưa trực tiếp 500.000.000 đồng tiền mặt cho T, T1; chị L3 chuyển khoản số tiền 500.000.000
đồng vào tài khoản ngân hàng số [...] của T1) để mua 54 lô đất tại Dãy liền kề LK21, Dự án Khu dân cư mới xã T. T, T1 cam kết đến ngày 20/4/2021 sẽ bàn giao hợp đồng cho anh K1, chị L3 (tức là đưa đi ký hợp đồng mua bán trực tiếp với Chủ đầu tư).
Khi cùng anh K1, chị L3 đến Cửa hàng xăng dầu số 6 thì T6 gặp Dương Văn T3 (là anh họ của T6) và được T3 cung cấp thông tin về việc T, T1 vẫn còn các lô đất khác (tại Dãy liền kề LK20) đang tìm khách hàng ký hợp đồng. Do có mối quan hệ quen biết với chị Nguyễn Thị N từ trước nên T6 có trao đổi với chị N về thông tin nêu trên. Chị N trao đổi, thống nhất với anh Nguyễn Văn H và chị Nguyễn Thị H1 chung nhau mua Dãy liền kề LK20. Sau khi trao đổi với anh T3 thì anh H, chị N và chị H1 nhiều lần được T3 hẹn đến Cửa hàng xăng dầu số F để gặp và trao đổi trực tiếp với T, T1 nhưng chưa gặp được vợ chồng T, T1.
Ngày 19/3/2021 và 20/3/2021, anh H và chị H1 đã chuyển tiền từ số tài khoản cá nhân vào số tài khoản ngân hàng của anh T3 tổng số tiền là 4.624.000.000đồng. Trong đó có 3.400.000.000 đồng là tiền đặt cọc (số tiền sau này sẽ trừ vào tiền mua đất mà phía khách hàng phải trả cho Chủ đầu tư) và 1.224.000.000 đồng là tiền kênh (tiền hoa hồng) mà người môi giới được hưởng nếu việc ký hợp đồng mua bán trực tiếp với Chủ đầu tư được thực hiện. Cùng ngày, anh T3 đã chuyển vào tài khoản ngân hàng số [...] của T1 toàn bộ số tiền đặt cọc là 3.400.000.000 đồng. Đối với số tiền kênh 1.224.000.000 đồng sau khi nhận, T3 đã chuyển vào tài khoản ngân hàng số [...] của T1 340.000.000 đồng; chuyển cho T6 290.000.000 đồng; chuyển cho H2, T5, H3 mỗi người 170.000.000 đồng; T3 giữ lại 84.000.000 đồng. Đến ngày 24/3/2021, tại Cửa hàng xăng dầu số F, anh H, chị N và chị H1 đã gặp trao đổi, thỏa thuận trực tiếp với T, T1, H2 và được T, T1 cung cấp thông tin về việc có mối quan hệ với Chủ đầu tư Dự án Khu dân cư mới xã T nên có khả năng đưa vào ký hợp đồng mua bán trực tiếp với Chủ đầu tư. Tại đây, T đại diện Công ty T8 ký Hợp đồng nhận tiền đặt cọc Dãy liền kề LK20 với anh H, chị N, chị H1 và cam kết đến ngày 28/4/2021 sẽ bàn giao hợp đồng của Chủ đầu tư (đưa vào ký hợp đồng mua bán trực tiếp với Chủ đầu tư) cho anh H, chị N, chị H1. T1 viết Phiếu thu của Công ty T8 (có chữ ký của T, T1 tại mục Giám đốc và Kế toán) xác nhận đã nhận đủ số tiền 3.400.000.000 đồng tiền đặt cọc LK20. Sau đó Hợp đồng và Phiếu thu được niêm phong vào phong bì có chữ ký của các bên và đóng dấu của Công ty T8.
Khi anh H được T3 hẹn đến Cửa hàng xăng dầu số 6 để trao đổi trực tiếp với T, T1 thì gặp Nguyễn Thị T5 cũng có mặt ở đó. Do có quen biết với anh H từ trước nên T5 giới thiệu với anh H việc T vẫn còn các lô đất tại Dãy liền kề LK23 của Dự án Khu dân cư mới xã T. Sau khi thống nhất thì anh H, chị N và chị H1 đồng ý mua thêm Dãy liền kề LK23, thỏa thuận với T5, H2 về số tiền đặt cọc là 3.400.000.000 đồng (số tiền sau này sẽ trừ vào tiền mua đất khi ký hợp đồng mua bán/chuyển nhượng với Chủ đầu tư) và tiền kênh là 850.000.000 đồng. Ngày 19/3/2021, chị H1 đã chuyển vào tài khoản ngân hàng số 8860166366666 của H2 số tiền 200.000.000 đồng. Các ngày 20/3/2021, 24/3/2021, 25/3/2021, anh H và chị H1 đã chuyển vào tài khoản ngân hàng số
2000162689999 của T5 tổng số tiền 4.050.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền T5 giữ lại 170.000.000 đồng, còn lại chuyển toàn bộ cho H2. Ngày 25/3/2021, H2 chuyển vào các tài khoản ngân hàng số 43110000151501 và 7610111023008 của T1 số tiền đặt cọc là 1.500.000.000 đồng; chuyển cho H3 170.000.000 đồng và giữ lại số tiền 2.410.000.000 đồng khi đã thoả thuận với T. Ngày 24/3/2021, T đại diện Công ty T8 ký Hợp đồng nhận tiền đặt cọc Dãy liền kề LK23 với anh H, chị H1 và cam kết đến ngày 28/4/2021 bàn giao hợp đồng của Chủ đầu tư (đưa vào ký hợp đồng trực tiếp với Chủ đầu tư) cho anh H, chị H1. T1 viết Phiếu thu của Công ty T8 (có chữ ký của T, T1) xác nhận đã nhận đủ số tiền 3.400.000.000 đồng tiền đặt cọc Dãy liền kề LK23. Sau đó Hợp đồng và Phiếu thu được niêm phong vào phong bì có chữ ký của các bên và đóng dấu của Công ty T8.
Đến giữa tháng 4/2021, khi gần hết thời gian thỏa thuận trong hợp đồng, anh K1 và chị L3 không có nhu cầu mua đất nữa nên đề nghị được thanh lý hợp đồng để lấy lại tiền đặt cọc. Do biết anh H, chị N, chị H1 vẫn có nhu cầu mua thêm các lô đất tại Dự án Khu dân cư mới xã T nên T6 đã đứng ra đề nghị anh K1, chị L3 thanh lý hợp đồng với vợ chồng T, T1 sau đó để cho phía nhóm anh H vào ký hợp đồng đặt cọc Dãy liền kề LK23 với T (anh K1, chị L3 không biết, không trao đổi với anh H, chị N, chị H1 mà đều thông qua T6 làm trung gian). Ngày 16/4/2021, anh K1, chị L3 ký với T một Biên bản thanh lý hợp đồng. Ngày 17/4/2021, T đại diện Công ty T8 ký Hợp đồng nhận tiền đặt cọc D1 liền kề LK21với anh H, chị N, chị H1 và cam kết đến ngày 15/5/2021 bàn giao hợp đồng của Chủ đầu tư cho anh H, chị N, chị H1; T1 lập Phiếu thu của Công ty T8 xác nhận đã nhận đủ số tiền 5.400.000.000 đồng; sau đó Hợp đồng và Phiếu thu được niêm phong vào phong bì có chữ ký của các bên và đóng dấu của Công ty T8. Anh H, chị N, chị H1 chuyển trực tiếp vào tài khoản ngân hàng A của T1 số tiền đặt cọc 4.400.000.000 đồng; chuyển cho T6 4.360.000.000 đồng (gồm 3.360.000.000 đồng tiền kênh và 1.000.000.000 tiền đặt cọc mà T, T1 đã nhận từ anh K1, chị L3 ngày 17/3/2021 nhưng chưa trả lại sau khi thanh lý hợp đồng). Sau khi nhận tiền, T6 đã chuyển trả chị L3 500.000.000 đồng; chuyển cho anh K1 1.500.000.000 đồng (gồm trả 500.000.000 đồng và chuyển thêm 1.000.000.000 đồng tiền kênh); giữ lại 2.360.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền, anh K1 chuyển cho T1 400.000.000 đồng tiền kênh do giữa các bên đã thỏa thuận từ trước.
Sau khi quá thời hạn thỏa thuận trong các hợp đồng trên, T, T1 không có khả năng thực hiện cam kết nên tiếp tục ký với phía anh H, chị N, chị H1 các Phụ lục hợp đồng nhằm mục đích gia hạn thời hạn hợp đồng (ký lần cuối vào ngày 07/12/2021, gia hạn thời hạn đến 31/3/2022) để kéo dài thời gian. Tuy nhiên, đến hạn T, T1 vẫn không thực hiện được cam kết. Anh H, chị N, chị H1 nhiều lần yêu cầu hoàn trả lại tiền cọc nhưng T, T1 không trả nên làm đơn trình báo đến Cơ quan điều tra.
Như vậy, tổng số tiền mà vợ chồng T, T1 đã nhận và chiếm đoạt của anh H, chị N và chị H1 là 11.040.000.000 đồng. Số tiền này, vợ chồng T, T1 đã sử dụng để trả các khoản nợ chung của hai vợ chồng vay trước đó và sử dụng vào mục
đích cá nhân. Ngày 29/8/2022, T, T1 đã khắc phục trả cho anh H, chị N, chị H1 số tiền 1.000.000.000 đồng. Ngoài ra đối với số tiền kênh 400.000.000 đồng do anh K1 nhận sau đó chuyển cho T1, đến nay anh K1 đã bỏ tiền cá nhân ra để hoàn trả cho anh H, chị N và chị H1.
2. Chiếm đoạt của anh Nguyễn Văn K số tiền 1.920.000.000 đồng
Cùng thời điểm tháng 3/2021, thông qua vợ chồng T, T1, Hoàng Thị H2 còn cung cấp thông tin về việc có các suất ngoại giao tại Dự án Khu dân cư mới xã T cho Nguyễn Văn N2 (N2 quen biết H2 thông qua một số dự án mua bán bất động sản). Sau đó anh N2 trao đổi lại thông tin này với anh K và giới thiệu để anh K trao đổi trực tiếp với H2, H2 lại giới thiệu anh K với vợ chồng T, T1. Sau khi trao đổi, nắm bắt được thông tin, anh K cũng được vợ chồng T, T1 cam kết có khả năng đưa anh K đi ký hợp đồng mua bán trực tiếp các lô đất tại Dãy liền kề LK08 Dự án Khu dân cư mới xã T với C đầu tư dự án nên đã đồng ý đặt cọc mua đất.
Ngày 25/3/2021, T ký Hợp đồng nhận tiền đặt cọc Dãy liền kề LK08 Khu dân cư mới xã T với anh K và cam kết đến ngày 28/4/2021 bàn giao hợp đồng của Chủ đầu tư. Hợp đồng thì T và H2 cùng ký dưới mục đại diện Công ty T8 (H2 khai anh K yêu cầu H2 ký để ràng buộc trách nhiệm vì H2 công tác tại Trung tâm phát triển quỹ đất huyện L lại là môi giới). T1 viết Phiếu thu của Công ty T8 (có chữ ký của T, T1) xác nhận đã nhận đủ số tiền 1.600.000.000 đồng tiền đặt cọc LK08. Sau đó Hợp đồng và Phiếu thu được niêm phong vào phong bì có chữ ký của các bên và đóng dấu của Công ty T8. Anh K chuyển trực tiếp đến tài khoản ngân hàng số [...] của T1 số tiền 1.600.000.000 đồng tiền đặt cọc, chuyển đến tài khoản ngân hàng số 19034437344011 của T3 số tiền 1.280.000.000 đồng tiền kênh.
Sau khi nhận tiền kênh, T3 chuyển cho T1 320.000.000 đồng; chuyển cho N2 300.000.000 đồng; chuyển cho H2, H3, T5 mỗi người 120.000.000 đồng; giữ lại 300.000.000 đồng. Sau khi quá thời hạn thỏa thuận, T tiếp tục ký với anh K các Phụ lục hợp đồng nhằm mục đích gia hạn thời hạn hợp đồng (ký lần cuối vào ngày 02/12/2021, gia hạn đến 31/3/2022) để kéo dài thời gian. Tuy nhiên do T, T1 không có khả thực hiện cam kết, anh K đã nhiều lần yêu cầu hoàn trả lại tiền nhưng T, T1 không hoàn trả.
Như vậy, vợ chồng T, T1 đã chiếm đoạt của anh K số tiền 1.920.000.000 đồng; số tiền này vợ chồng T, T1 sử dụng để trả các khoản nợ chung của hai vợ chồng và các mục đích cá nhân. Đến nay vợ chồng T, T1 chưa khắc phục gì cho anh K.
3. Chiếm đoạt của anh Nguyễn Trọng N1 số tiền 1.920.000.000 đồng
Do anh K và anh N1 quen biết và cùng làm việc với nhau nên khi biết việc H2 nói có các suất ngoại giao tại Dự án Khu dân cư mới xã T, anh K đã thông tin lại cho anh N1. Anh N1 trao đổi trực tiếp với H2, T, T1 và cũng được cung cấp các thông tin về việc T, T1 có mối quan hệ với Chủ đầu tư, có khả năng đưa anh N1 vào ký hợp đồng mua bán trực tiếp các lô đất tại Dãy liền kề LK02 với
Chủ đầu tư Dự án Khu dân cư mới xã T. Tin tưởng là thật nên anh N1 đã đồng ý mua. Ngày 26/3/2021, T đại diện Công ty T8 ký Hợp đồng nhận tiền đặt cọc D1 liền kề LK02 với anh N1 và cam kết đến ngày 28/4/2021 bàn giao hợp đồng của Chủ đầu tư. T1 viết Phiếu thu của Công ty T8 (có chữ ký của T1 và đóng dấu treo của Công ty T8) xác nhận đã nhận đủ số tiền 1.600.000.000 đồng tiền đặt cọc Dãy liền kề LK02. Sau đó Hợp đồng và Phiếu thu được niêm phong vào phong bì có chữ ký của các bên liên quan và dấu của Công ty T8. Anh N1 chuyển trực tiếp vào các tài khoản ngân hàng số [...] và 7610111023008 của T1 số tiền đặt cọc 1.600.000.000 đồng; chuyển vào tài khoản ngân hàng số 19034437344011 của T3 số tiền kênh 950.000.000 đồng.
Sau khi nhận được tiền kênh, T3 chuyển cho T1 số tiền 320.000.000 đồng; chuyển cho H2, H3, T5 mỗi người 160.000.000 đồng và giữ lại 150.000.000 đồng. Quá thời hạn thỏa thuận trong các hợp đồng trên, T tiếp tục ký với anh N1 các Phụ lục hợp đồng nhằm mục đích gia hạn thời hạn hợp đồng (lần ký cuối cùng gia hạn đến 31/3/2022) để kéo dài thời gian. Tuy nhiên sau đó do T, T1 không có khả năng thực hiện cam kết, anh N1 đã nhiều lần yêu cầu hoàn trả lại tiền nhưng T, T1 cũng không thực hiện.
Như vậy, vợ chồng T, T1 đã chiếm đoạt của anh Nguyễn Trọng N1 số tiền 1.920.000.000 đồng; số tiền này vợ chồng T, T1 sử dụng để trả các khoản nợ chung của hai vợ chồng và các mục đích cá nhân; đến nay vợ chồng T, T1 chưa khắc phục gì cho anh N1.
Kết quả xác minh về Dự án khu dân cư mới T, huyện L: Dự án hiện vẫn đang trong giai đoạn giải phóng mặt bằng; Chủ đầu tư Dự án là Liên danh Công ty Cổ phần X1 và Công ty TNHH Đ2 chưa thực hiện hoạt động mua bán, chuyển nhượng, huy động vốn đầu tư nào; Công ty T8 và cá nhân Phạm Xuân T, Trần Thị T1 không có vai trò gì trong Dự án Khu dân cư mới xã T, huyện L và cũng không được Chủ đầu tư ủy quyền, cho phép đứng ra thực hiện các hoạt động mua bán, chuyển nhượng, nhận tiền đặt cọc có liên quan đến Dự án.
Quá trình điều tra Phạm Xuân T thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân khi không phải Chủ đầu tư Dự án Khu dân cư mới T, không có khả năng thực hiện các cam kết như trong các Hợp đồng đã ký nhưng vẫn nhận tiền đặt cọc của các bị hại. Tuy nhiên, T không thừa nhận việc cung cấp thông tin gian dối về Dự án cho các bị hại. T khai việc ký hợp đồng và nhận tiền đặt cọc do được H2 nhờ. Khi ký hợp đồng, T chỉ đọc qua nội dung, không kiểm tra kỹ, do tin tưởng H2 nên đứng ra nhận ký hợp đồng và nhận tiền hộ H2. Tiền là do Trần Thị Tuyết vợ T nhận, quản lý và sử dụng. Căn cứ vào các Hợp đồng, Phiếu thu, Phụ lục hợp đồng, lời khai của các bị can, bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ khác, có đủ cơ sở để xác định T là người đã đưa ra các thông tin gian dối khi cam kết có khả năng giúp các bị hại mua được các lô đất tại Dự án Khu dân cư mới xã T, làm cho các bị hại tin tưởng, chuyển tiền đặt cọc qua đó chiếm đoạt của 05 bị hại tổng số tiền 14.880.000.000 đồng.
Đối với Trần Thị T1, nhiều lần thay đổi lời khai, ban đầu thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân, về sau T1 không thừa nhận và khai là do T chỉ đạo, thực
hiện. Tuy nhiên, nội dung trên các Phiếu thu cùng Giấy biên nhận đặt cọc tiền đề ngày 17/3/2021 đều là chữ viết của T1, thể hiện rõ việc nhận tiền đặt cọc để mua bán các lô đất tại Dự án Khu dân cư mới xã T. Số tiền mà T, T1 sử dụng để trả nợ thì T1 là người trực tiếp liên lạc, trao đổi về việc chyển tiền. Căn cứ các tài liệu điều tra, lời khai của các bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan, đủ căn cứ xác định Trần Thị T1 là đồng phạm với Phạm Xuân T.
Về vật chứng đã thu giữ: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ thu giữ 01 Căn cước công dân số [...] mang tên Phạm Xuân T; 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy J6+, màu xanh đen, cũ đã qua sử dụng, số IMEI 1: 352812108932387, số IMEI 2: 352813108932385. Hiện các vật chứng đang được tạm giữ để xử lý theo quy định .
Kết quả giám định: Tại Kết luận giám định số 1474 ngày 25/8/2022 và Kết luận giám định số 692 ngày 18/4/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh B kết luận về chữ viết, chữ ký và mẫu dấu trên các tài liệu gồm các Hợp đồng nhận tiền đặt cọc; Phiếu thu; Phụ lục hợp đồng đều do Phạm Xuân T và Trần Thị Tuyết k, viết ra; hình dấu tròn có nội dung “Công ty TNHH T8 - tỉnh Bắc Giang - M.S.D.N: 2400335967 - C.T.T.N.H.H”và hình dấu có nội dung “Giám đốc Phạm Xuân T” là của “Công ty TNHH T8” do Phạm Xuân T là Giám đốc.
Về trách nhiệm dân sự:
Các bị hại đều yêu cầu bị cáo T1, T phải bồi thường số tiền đã chiếm đoạt cụ thể: anh Nguyễn Văn H; chị Nguyễn Thị N và chị Nguyễn Thị H1 (do anh H đại diện) yêu cầu trả số tiền 10.040.000.000 đồng. Anh Nguyễn Văn K yêu cầu trả số tiền 1.920.000.000đồng; anh Nguyễn Trọng N1 yêu cầu trả số tiền 1.920.000.000đồng. Anh Nguyễn Trọng K1 yêu cầu trả số tiền 400.000.000 đồng.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Phạm Xuân T trình bày: Bị cáo không phải người chủ mưu và không phải là vai trò chính. Bị cáo không biết các thông tin về dự án mà do chị H2 cho bị cáo thông tin dự án và thông tin các thửa đất cũng như sơ đồ đất. Bị cáo cũng không thỏa thuận gì về việc cho H2 10.000.000 đồng tiền chênh lệch như H2 trình bày. Bị cáo đề nghị xem xét hành vi của H2 với vai trò đồng phạm cùng bị cáo. Đối với số tiền anh K1 chuyển khoản đặt cọc 1 tỷ đồng, do bị cáo và anh K1 đã thanh lý hợp đồng ngoài ra anh K1 có chuyển cho vợ chồng bị cáo 400.000.000 đồng tiền chênh lệch, bị cáo chưa trả cho anh K1 nên bị cáo đồng ý trả số tiền này cho anh K1. Do vậy, đề nghị xem xét hành vi của H2 với vai trò đồng phạm với bị cáo.
Bị cáo Trần Thị T1 trình bày: Việc giao dịch giữa H2 với bị cáo T như thế nào bị cáo không biết. Bị cáo chỉ biết chồng bị cáo bảo cho số tài khoản để H2 chuyển tiền vào cho bị cáo, sau khi nhận tiền xong bị cáo có thông báo cho chồng bị cáo biết số tiền đã nhận, chồng bị cáo bảo bị cáo làm thế nào thì bị cáo làm thế đó.
Bị hại Nguyễn Văn H trình bày: Quá trình anh và bạn bè của anh có tham gia ký Hợp đồng đặt cọc mua đất với vợ chồng T, T1 là do chị H2 giới thiệu. Chị H2 nói vợ chồng bị cáo có nguồn đất bán giá ngoại giao nên đưa anh và chị H1 chị N đến gặp vợ chồng T để thỏa thuận về giá, số tiền đặt cọc và số tiền chênh lệch vợ chồng T, T1 được hưởng. Tại thời điểm thỏa thuận mua đất và thỏa thuận đặt cọc với bị cáo thì không có thỏa thuận nào về việc chị H2 được hưởng lợi, việc chị H2 có được hưởng lợi trong việc giới thiệu anh với bị cáo hay không anh không biết. Trong tổng số tiền anh chuyển cho chị H2 3.400.000.000đồng để đặt cọc mua đất dãy liền kề LK 23, chị H2 có chuyển cho bị cáo T1 1.500.000.000đồng số tiền còn lại 1.900.000.000đồng chị H2 vẫn đang quản lý. Nay anh đề nghị chị H2 phải trả lại cho anh số tiền trên mà không yêu cầu vợ chồng bị cáo trả cho anh và chị H1, chị N.
Bị hại Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị H1 trình bày: Nhất trí phần trình bày của anh H. Các chị thông qua môi giới là chị H2 còn tất cả các thông tin về lô đất, giao dịch, đặt cọc, tiền chênh lệch là do các chị làm việc với vợ chồng bị cáo T. Đối với số tiền 3.400.000.000 đồng mua đất dãy liền kề LK 23 là các chị cùng chung nhau với anh H để đặt cọc với vợ chồng T, T1. Do chị H2 chưa đưa cho vợ chồng bị cáo nên đề nghị trả lại cho các anh chị và đề nghị tuyên cho anh H đại diện các chị nhận số tiền 1.900.000.000 đồng trên.
Bị hại Nguyễn Trọng N1, Nguyễn Văn K thống nhất trình bày: Nhất trí với lời trình bày về giao dịch liên quan đến thửa đất các anh đặt cọc mua trực tiếp với bị cáo T, không bổ sung gì thêm và đề nghị bị cáo T, T1 phải trả cho anh N1 1.920.000.000đồng; trả cho anh K 1.920.000.000đồng
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Hoàng Thị H2 trình bày: Chị có mối quan hệ họ hàng với bị cáo T, T có trao đổi với chị về các thông tin của dự án và cho chị biết có đất dạng ngoại giao trường hợp giới thiệu được người mua sẽ được T trả tiền. T, T1 có cung cấp thông tin về việc T, T1 có khả năng giúp mọi người mua được các lô đất tại Dự án Khu dân cư mới xã T nên chị tin tưởng đã giới thiệu cho các bị hại đến trực tiếp trao đổi và ký hợp đồng đặt cọc mua đất với T, T1. Chị chỉ giới thiệu để hưởng hoa hồng, không biết vợ chồng T, T1 không có khả năng mua được các lô đất của Dự án Khu dân cư mới xã T; không chiếm đoạt tiền đặt cọc của các bị hại. Đối với số tiền 1.900.000.000đồng chị đang quả lý chị đồng ý trả cho anh H, chị N và chị H1.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nguyễn Trọng K1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai trong hồ sơ thể hiện: Đề nghị bị cáo T và bị cáo T1 phải trả cho anh số tiền 400.000.000đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang đã truy tố đối với các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Phạm Xuân T từ 15 năm đến 16 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự, tổng hợp với hình phạt 1 năm 10 tháng tù mà bị cáo phải chấp hành án theo Bản án hình sự số 159 ngày 16/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang về tội “Mua bán trái phép hóa đơn”. Buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai bản án là 16 năm 10 tháng đến 17 năm 10 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 15/12/2022.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Thị T1 từ 14 năm đến 15 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điều 56 Bộ luật hình sự, tổng hợp với hình phạt 2 năm tù mà bị cáo phải chấp hành án theo Bản án hình sự số 159 ngày 16/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang về tội “Mua bán trái phép hóa đơn”. Buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai bản án là 16 năm đến 17 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/11/2022 (là ngày bị cáo thi hành Bản án hình sự số 159 ngày 16/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang).
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có tài sản gì và còn phải bồi thường cho các bị hại nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Ngoài ra còn đề nghị xử lý về trách nhiệm dân sự, xử lý về vật chứng và án phí trong vụ án.
* Luật sư Võ An B trình bày quan điểm bào chữa cho bị cáo T: Giữ nguyên các ý kiến luật sư Hoàng Thị Bích L2 trình bày tại phiên tòa ngày 6/3/2024. Tại phiên toà hôm nay, không nhất trí với quan điểm truy tố bị cáo T1 và T đã lừa đảo chiếm đoạt tổng số tiền là 14.880.000.000đồng. Thực tế số tiền hai bị cáo nhận trực tiếp từ các bị hại là 7.400.000.000đồng, đề nghị HĐXX xem xét về số tiền này. Kính đề nghị HĐXX xem xét trách nhiệm của Hoàng Thị H2, Dương Văn T3, Nguyễn Thị T5, Bạch Văn H3, Dương Quốc T6 và Nguyễn Văn N2. Trong trường hợp HĐXX không xem xét đề nghị của luật sư thì mong HĐXX xem xét cho bị cáo T được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo có cơ hội sửa sai.
Luật sư Giáp Văn Đ vắng mặt tại phiên tòa nhưng có bài bào chữa như sau: Về tội danh và điều luật áp dụng luật sư không có ý kiến gì. Về hình phạt đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự, xem xét cho bị cáo T1 mức án từ 7 đến 8 năm tù.
Bị cáo T1, T nhất trí phần bào chữa của luật sư. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trong tổng số tiền của nhóm anh H ký đặt cọc với vợ chồng bị cáo là 3.400.000.000đồng, chị H2 đã chuyển cho bị cáo T1 1.500.000.000 đồng, nhưng bị cáo T đã ký nhận số tiền 3.400.000.000 đồng nên đề nghị số tiền 1.900.000.000 đồng chị H2 phải hoàn trả cho nhóm anh H chị N và chị H1. Các nội dung khác nhất trí ý kiến luật sư, không tranh luận gì thêm.
Các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận gì.
Đại diện Viện kiểm sát trình bày đối đáp:
- Quá trình điều tra đã thu thập đủ tài liệu chứng cứ việc xác định: Hoàng Thị H2, Dương Văn T3, Nguyễn Thị T5, Bạch Văn H3, Dương Quốc T6 và Nguyễn Văn N2 là những người môi giới mua, bán đất cho các bị hại để hưởng tiền chênh lệch được T, T1 cung cấp thông tin về việc T, T1 có khả năng giúp mọi người mua được các lô đất tại Dự án Khu dân cư mới xã T nên tin tưởng đã giới thiệu cho các bị hại đến trực tiếp trao đổi và ký Hợp đồng đặt cọc mua đất với T, T1. Những người này chỉ mới giới thiệu để hưởng hoa hồng, không biết vợ chồng T, T1 không có khả năng mua được các lô đất của Dự án Khu dân cư mới xã T, không chiếm đoạt tiền đặt cọc của các bị hại nên không có căn cứ để xử lý với vai trò là đồng phạm của bị cáo Phạm Xuân T và Trần Thị Tuyết .
- Đối với ý kiến luật sư về việc làm rõ số tiền chiếm đoạt đối với các bị cáo thì Viện kiểm sát truy tố bị cáo căn cứ vào số tiền đặt cọc các lô đất, số tiền thực tế các bị cáo đã nhận để chiếm đoạt; không truy tố các bị cáo căn cứ vào khoản tiền chênh lệch do môi giới.
- Giữ nguyên quan điểm về phần hình phạt của bị cáo T, việc VKS đề nghị mức hình phạt 15 năm đến 16 năm tù là đã căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo. Do số tiền bị cáo chiếm đoạt là rất lớn, phạm tội nhiều lần nên đề nghị của VKS là đã thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
- Không nhất trí với quan điểm bào chữa của luật sư Giáp Văn Đ đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự đối với bị cáo T1.
Kết thúc phần tranh luận các bên vẫn giữ nguyên quan điểm.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Đều gửi lời xin lỗi tới bị hại, thừa nhận hành vi của các bị cáo là sai. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho các bị cáo mức án thấp nhất để các bị cáo sớm được về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố xét xử: Kể từ khi khởi tố vụ án hình sự, trong giai đoạn điều tra, truy tố vụ án, Hội đồng xét xử thấy Điều tra viên, Kiểm sát viên và Luật sư bào chữa cho các bị cáo đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật, không có vi phạm gì. Tại giai đoạn xét xử sơ thẩm, Kiểm sát viên và Luật sư bào chữa cho các bị cáo đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, không có hành vi, quyết định tố tụng nào vi phạm tố tụng.
[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Những người tham gia tố tụng đã được tống đạt hợp lệ văn bản của Tòa án về thời gian mở phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 292, Điều 293 - Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Về tội danh của bị cáo HĐXX thấy:
Công ty TNHH T8 do bị cáo Phạm Xuân T giữ chức vụ Giám đốc và là người đại diện theo pháp luật; bị cáo Trần Thị T1 là nhân viên Kế toán. Công ty T8 đăng ký và được cấp phép kinh doanh 58 ngành nghề khác nhau, không được cấp phép ngành nghề kinh doanh bất động sản. Tuy nhiên Phạm Xuân T và Trần Thị T1 đã đưa thông tin, tạo niềm tin cho những người bị hại, làm cho họ tin và tự nguyện giao tài sản cho bị cáo rằng mình có mối quan hệ với Chủ đầu tư của Dự án Khu dân cư mới xã T nên lấy được các lô đất tại Dự án. Để người có nhu cầu mua đất tin tưởng đưa tiền, T lấy danh nghĩa đại diện Công ty T8 đã ký các Hợp đồng nhận tiền đặt cọc, hứa hẹn trong thời gian cụ thể sẽ đưa người có nhu cầu mua đất vào ký Hợp đồng trực tiếp với Chủ đầu tư. Sau khi nhận được tiền, T và T1 không đưa cho ai, không nhờ ai để giúp mọi người được ký hợp đồng trực tiếp với Chủ đầu tư để mua, bán, chuyển nhượng các lô đất thuộc Dự án Khu dân cư mới xã T mà sử dụng tiền để trả nợ và chi tiêu cá nhân hết. Bằng thủ đoạn nêu trên, trong thời gian từ tháng 3/2021 đến tháng 4/2021, Phạm Xuân T và Trần Thị T1 đã nhận và chiếm đoạt của 05 người bị hại trên địa bàn tỉnh Bắc Giang với tổng số tiền 14.880.000.000 đồng.
Hành vi phạm tội của các bị cáo xâm phạm đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Do vậy, cáo trạng số 72/CT-VKS-P2 ngày 20/11/2023 của VKSND tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo Phạm Xuân T và Trần Thị T1 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội không oan.
Đánh giá tính chất của vụ án:
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chỉ vì muốn có tiền để tiêu xài, phục vụ cho những nhu cầu cá nhân mà không phải thông qua lao động chân chính Phạm Xuân T và Trần Thị T1 đã đưa thông tin gian dối và giới thiệu đến người khác rằng mình có mối quan hệ với Chủ đầu tư của Dự án Khu dân cư mới xã T nên lấy được các lô đất tại Dự án. Để người có nhu cầu mua đất tin tưởng đưa tiền, T lấy danh nghĩa đại diện Công ty T8 đã ký các Hợp đồng nhận tiền đặt cọc, hứa hẹn trong thời gian cụ thể sẽ đưa người có nhu cầu mua đất vào ký Hợp đồng trực tiếp với Chủ đầu tư. Sau khi nhận được tiền, T và T1 không đưa cho ai, không nhờ ai để giúp mọi người được ký hợp đồng trực tiếp với Chủ đầu tư để mua, bán, chuyển nhượng các lô đất thuộc Dự án Khu dân cư mới xã T và sử dụng tiền để chi tiêu cá nhân hết.
Tại phiên toà bị cáo T cho rằng bị cáo không phải là người khởi xướng, bị cáo không biết gì về thông tin dự án mà do chị Hoàng Thị H2 là cán bộ Hợp đồng tại Trung tâm phát triển quỹ đất huyện L đã cho bị cáo thông tin về các lô đất và cho bị cáo xem sơ đồ thửa đất cũng như trao đổi với bị cáo về thông tin các thửa đất để bị cáo nhận đặt cọc của bị hại. Sau khi nhận tiền của các bị hại xong do bị cáo làm ăm thua lỗ nên đã sử dụng vào việc trả nợ và chi tiêu cá nhận hết. Quá trình điều tra cơ quan điều tra cũng đã làm rõ nội dung có hay không hành vi của chị H2 liên quan để việc đưa ra thông tin sai sự thật nhằm chiếm đoạt tài sản của các bị hại. Qua xem xét các tài liệu có trong hồ sơ cũng như tại phiên tòa xác định chị H2 chỉ giới thiệu bị hại với bị cáo để hưởng hoa hồng,
không biết vợ chồng T, T1 không có khả năng mua được các lô đất của Dự án Khu dân cư mới xã T và không chiếm đoạt tiền đặt cọc của các bị hại nên không có căn cứ để xử lý với vai trò là đồng phạm như bị cáo Phạm Xuân T trình bày.
[4] Xét vai trò, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy:
Đây là vụ án có đồng phạm mang tính chất giản đơn, không có sự cấu kết chặt chẽ giữa các bị cáo, do các bị cáo là vợ chồng và việc phát sinh ý thức chiếm đoạt tài sản là do công ty đang gặp khó khăn trong việc làm ăn, kinh doanh dẫn đến nợ nhiều tiền của người khác.
Xét về vai trò của các bị cáo trong vụ án thì thấy bị cáo T có vai trò quan trọng hơn khi lấy danh nghĩa là Giám đốc công ty T8 ký kết các hợp đồng nhận tiền đặt cọc của các bị hại, rồi cùng với vợ là bị cáo T1 chiếm đoạt tiền từ các bị hại. Vì vậy bị cáo T phải chịu mức hình phạt cao hơn so với bị cáo T1.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều có tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân xấu, ngày 16/9/2023, các bị cáo đều bị Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử về tội “Mua bán trái phép hoá đơn”. Xử phạt bị cáo T 01 năm 10 tháng tù và bị cáo T1 02 năm tù.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải do vậy áp dụng cho cả hai bị cáo tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo tự nguyện bồi thường, khắc phục được một phần hậu quả cho bị hại. Bị cáo T có thời gian đi bộ đội và tham gia chiến đấu bảo vệ tổ quốc tại biên giới phía Bắc, do vậy áp dụng cho cả hai bị cáo tình tiết giảm nhẹ do vậy bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội các bị cáo đã thực hiện, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo. Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt các bị cáo mức án tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra, cần buộc các bị cáo phải cách ly ra khỏi xã hội một thời gian để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.
[5] Các vấn đề khác trong vụ án:
Đối với Hoàng Thị H2, Dương Văn T3, Nguyễn Thị T5, Bạch Văn H3, Dương Quốc T6 và Nguyễn Văn N2 là những người môi giới mua, bán đất cho các bị hại để hưởng tiền chênh lệch. Những người này chỉ giới thiệu để hưởng hoa hồng, không biết vợ chồng T, T1 không có khả năng mua được các lô đất của Dự án Khu dân cư mới xã T, không chiếm đoạt tiền đặt cọc của các bị hại nên không có căn cứ để xử lý với vai trò là đồng phạm của bị cáo Phạm Xuân T và Trần Thị Tuyết.
Đối với ông Trần Nam P có đơn tố giác T, T1 chiếm đoạt số tiền 1.500.000.000 đồng dưới hình thức nhận tiền đặt cọc mua, bán đất. Quá trình điều tra, ông P khai vợ chồng T, T1 nhận 1.500.000.000 đồng của ông P đặt cọc mua đất thông qua “Giấy cam kết và biên nhận tiền” ký ngày 08/6/2022. Sau đó T, T1 không bán đất nữa, đồng ý chịu phạt 500.000.000 đồng (đã trả được 220.000.000 đồng) thì viết “Giấy hẹn trả tiền”đề ngày 21/8/2022 xác nhận nợ số tiền 1.780.000.000 đồng (gồm 1.500.000.000 đồng tiền gốc và 280.000.000 đồng tiền phạt). Bị cáo T và bị cáo Tuyết không thừa nhận việc nhận tiền đặt cọc bán đất cho ông P mà khẳng định đó là tiền vay nợ. Việc ký “Giấy cam kết và biên nhận tiền” do ông P yêu cầu để ràng buộc trách nhiệm khoản vay nợ từ trước. Quá trình vay đã trả cho ông P được 220.000.000 đồng tiền lãi; số tiền ghi trên “Giấy hẹn trả tiền”bao gồm tiền gốc và tiền lãi 280.000.000 đồng chưa trả. Căn cứ vào thời hạn ghi trong “Giấy cam kết và biên nhận tiền”; “Giấy hẹn trả nợ”. Lịch sử giao dịch chuyển tiền giữa vợ chồng T, T1 với ông P; tin nhắn Zalo giữa ông P với Trần Thị T1 có đủ cơ sở để xác định số tiền 1.500.000.000 đồng mà vợ chồng T, T1 nhận của ông P là tiền vay nợ, có sự thoả thuận giữa các bên. Cơ quan điều tra xác định hành vi này của Phạm Xuân T và Trần Thị T1 không cấu thành tôi phạm là có căn cứ.
Xét quan điểm của người bào chữa cho bị cáo T: Hội đồng xét xử đã yêu cầu Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát làm rõ. Tại công văn số 174/VKS – P2 ngày 5/4/2024 của VKSND tỉnh Bắc Giang đã nêu rõ các vấn đề cần bổ sung tài liệu theo đề nghị của luật sư cũng như yêu cầu của các bị cáo như: Yêu cầu đối chất giữa các bị cáo và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, số tiền các bị cáo chiếm đoạt cụ thể là bao nhiêu. Về việc H2 chủ mưu cung cấp thông tin và nhờ bị cáo kí hợp đồng đặt cọc, cáo trạng nêu về các số tiền chuyển khoản của H2, anh H, chị H1 và chị N đều không có căn cứ. Do vậy không có căn cứ để chấp nhận những yêu cầu của luật sư và các bị cáo. Trong trường hợp sau này nếu có căn chứng minh có hành vi về việc đồng phạm của những người nêu trên thì tiếp tục xử lý theo quy định của pháp luật.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Các bị cáo chiếm đoạt tiền của những người bị hại nhưng chưa bồi thường; Đến nay những người bị hại đều yêu cầu các bị cáo phải bồi thường số tiền mà các bị cáo đã chiếm đoạt là có căn cứ, nên cần buộc các bị cáo phải bồi thường số tiền đã chiếm đoạt cho các bị hại cụ thể:
- Trả cho anh Nguyễn Văn H, chị Nguyễn Thị N và chị Nguyễn Thị H1 (do anh H đại diện) số tiền 10.040.000.000 đồng;
- Trả cho anh Nguyễn Văn K số tiền 1.920.000.000 đồng;
- Trả cho anh Nguyễn Trọng N1 số tiền 1.920.000.000 đồng;
- Trả cho anh Nguyễn Trọng K1 số tiền 400.000.000 đồng.
Đối với số tiền 1.900.000.000đồng, tại phiên tòa giữa chị H2, anh H chị N, chị H1 và các bị cáo đầu thống nhất do khoản tiền này chị H2 đang quản lý chưa chuyển cho bị cáo T1 nên chị H2 có trách nhiệm trả cho anh H, chị N, chị H1.
Do vậy cần buộc chị Hoàng Thị H2 phải trả cho anh H, chị N, chị H1 (do anh H đại diện nhận) số tiền 1.900.000.000đồng.
[7] Về vật chứng vụ án:
Đối với chiếc điện thoại S J6+ là phương tiện bị cáo sử dụng thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
Đối với căn cước công dân số [...] mang tên Phạm Xuân T7 giấy tờ cá nhân của bị cáo cần trả lại cho bị cáo.
[8] Về hình phạt bổ sung:
Do các bị cáo không có tài sản gì khác và còn phải bồi thường cho các bị hại nên nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật hình sự và khoản 4 Điều 341 Bộ luật hình sự.
[9] Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Phạm Xuân T và bị cáo Trần Thị T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo T, T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm được tính cụ thể như sau: 112.000.000 đồng + 01% x (14.280.000.000 đồng - 4.000.000.000 đồng) = 122.280.000 đồng. Mỗi bị cáo phải chịu 61.140.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Chị Hoàng Thị H2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm được tính như sau: 36.000.000 đồng + 3% x (1.900.000.000 đồng - 800.000.000 đồng) = 69.000.000 đồng
[10] Về quyền kháng cáo:
Người tham gia tố tụng được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331; Điều 332; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[11] Hội đồng xét xử tiếp tục tạm giam bị cáo Phạm Xuân T để đảm bảo thi hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Xuân T 16 (mười sáu) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ Điều 56 Bộ luật hình sự, tổng hợp với hình phạt 1 (một) năm 10 (mười) tháng tù mà bị cáo phải chấp hành án theo Bản án hình sự số 159 ngày 16/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang về tội “Mua bán trái phép hóa đơn”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp chấp hành chung cho cả hai bản án là 17 (mười bẩy) năm 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/12/2022.
- Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Thị T1 14 (mười bốn) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Về trách nhiệm dân sự:
- Trả cho anh Nguyễn Văn H, chị Nguyễn Thị N và chị Nguyễn Thị H1 (do anh H đại diện nhận) số tiền 10.040.000.000 đồng (Mười tỷ, không trăm, bốn mươi triệu đồng).
- Trả cho anh Nguyễn Văn K số tiền 1.920.000.000đồng (Một tỷ, chín trăm, hai mươi triệu đồng).
- Trả cho anh Nguyễn Trọng N1 số tiền 1.920.000.000 đồng (Một tỷ, chín trăm, hai mươi triệu đồng).
- Trả cho anh Nguyễn Trọng K1 số tiền 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng).
- Về vật chứng: Căn cứ Điều 46 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- Về án phí:
Căn cứ điều 56 Bộ luật hình sự, tổng hợp với hình phạt 2 (hai) năm tù mà bị cáo phải chấp hành án theo Bản án hình sự số 159 ngày 16/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang về tội “Mua bán trái phép hóa đơn”. Tổng hợp hình phạt buộc buộc bị cáo phải chấp chấp hành chung cho cả hai bản án là 16 (mười sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/11/2022 (là ngày bị cáo thi hành Bản án hình sự số 159 ngày 16/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang).
Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586 và 589 Bộ luật Dân sự:
Buộc bị cáo Phạm Xuân T và bị cáo Trần Thị T1 phải có trách nhiệm liên đới bồi thường cho các bị hại cụ thể là:
Buộc chị Hoàng Thị H2 phải trả cho chị Nguyễn Thị H1, chị Nguyễn Thị N anh Nguyễn Văn H (do anh H đại diện nhận) số tiền 1.900.000.000 đồng (một tỷ, chín trăm triệu đồng).
Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy J6+, màu xanh đen.
Trả lại cho bị cáo Phạm Xuân T 01 Căn cước công dân số [...] mang tên Phạm Xuân T.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Phạm Xuân T và bị cáo Trần Thị T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 án phí HSST và 122.280.000đồng án phí dân sự sơ thẩm cụ thể bị cáo Phạm Xuân T phải chịu 61.140.000đồng; bị cáo Trần Thị T1 phải chịu 61.140.000đồng.
Chị Hoàng Thị H2 phải chịu 69.000.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
- Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;
Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quanvắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trung Thông |
Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 42/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Xuân T và Trần Thị T1 Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
