|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 42/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 09 – 05 – 2024
“Về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Mạnh Trí.
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đinh Xuân Thủy.
2. Bà Đinh Thị Nguyệt.
- Thư ký phiên tòa: Ông Biện Việt Cường – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 05 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 37/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 01 năm 2024, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 03 năm 2024; Thông báo mở lại phiên tòa số 23/2024/TB-TA ngày 22 tháng 04 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hồ Thị Cẩm L, sinh năm 2003; nơi cư trú: bản 3, xã L, huyện T, tỉnh Bình Thuận; (Vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Anh Trần T, sinh năm 1995; nơi cư trú: thôn A, xã Đ, huyện T, tỉnh Bình Thuận; (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1]. Theo đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai, ý kiến đã thu thập được trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Hồ Thị Cẩm L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị Cẩm L và anh Trần T tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện T, tỉnh Bình Thuận vào ngày 15/11/2021. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn, cải vả, không thể hòa hợp, mâu thuẫn kéo dài. Mặc dù chị L đã cố gắng hàn gắn để vợ chồng chung sống với nhau như trước nhưng không được. Hiện nay, chị L hôn nhân không có hạnh phúc, chị L không còn tình cảm, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị L yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh T.
Về con chung: Chị L và anh T có 01 người con chung tên Trần Hồ Minh Q, sinh ngày 04/7/2022. Khi ly hôn, chị L yêu cầu được quyền nuôi dưỡng cháu Q cho đến khi thành niên, không yêu cầu cấp dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị L xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[2]. Quá trình tố tụng, Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ đầy đủ Giấy triệu tập và các văn bản tố tụng nhưng bị đơn anh Trần T không tham gia tố tụng và vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án không thu thập được lời khai của anh T và cũng không tiến hành hòa giải được.
[3]. Các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án:
Các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp: 01 Trích lục kết hôn số 04/TLKH-BS ngày 05/7/2023 của UBND xã L, huyện T, tỉnh Bình Thuận; 01 bản sao có chứng thực Giấy khai sinh số 50 của UBND xã L, huyện T, tỉnh Bình Thuận; 01 bản sao có chứng thực Căn cước công dân của chị Hồ Thị Cẩm L;
Ngoài ra, Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương xã L về quan hệ hôn nhân của vợ chồng chị L, anh T và lập Biên bản xác minh ngày 20/02/2024 (Bút số 26).
[4]. Ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh:
- Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, thư ký đã tuân thủ theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Ý kiến đề nghị việc giải quyết vụ án: Đại diện viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận tòa bộ yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị Cầm L; xử cho chị Hồ Thị Cẩm L được ly hôn với anh Trần T; giao cho chị Hồ Thị Cẩm L tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 01 người con chung tên Trần Hồ Minh Q, sinh ngày 04/7/2022 cho đến khi thành niên; buộc chị L phải nộp 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm, khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nghe các đương sự trình bày, nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh phát biểu ý kiến, quan điểm giải quyết vụ án. Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Hồ Thị Cẩm L vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Trần T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ 02 nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định của pháp luật.
[2]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Trong vụ án chỉ có yêu cầu của nguyên đơn chị Hồ Thị Cẩm L, yêu cầu giải quyết ly hôn và nuôi con; ngoài ra không có yêu cầu nào khác của các đương sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận định quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” căn cứ theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự là phù hợp.
Tranh chấp dân sự quy định tại Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự; vụ án không có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp; các đương sự có nơi cư trú tại huyện T, tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Về yêu cầu giải quyết ly hôn của nguyên đơn chị Hồ Thị Cẩm L, Hội đồng xét xử nhận định:
Căn cứ vào Trích lục kết hôn số 04/TLKH-BS ngày 05/7/2023 của UBND xã L, huyện T, tỉnh Bình Thuận (Bút lục số 03) mà nguyên đơn chị Hồ Thị Cẩm L đã cung cấp; căn cứ lời khai phù hợp của nguyên đơn chị L; có đủ cơ sở xác định: Chị Hồ Thị Cẩm L và anh Trần T tự nguyện kết hôn và đã đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh T là hợp pháp. Vì vậy, chị L có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 51 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Nguyên đơn chị Hồ Thị Cẩm L xác định: Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn, cải vả, không thể hòa hợp, mâu thuẫn kéo dài. Mặc dù chị L đã cố gắng hàn gắn để vợ chồng chung sống với nhau như trước nhưng không được. Hiện nay, chị L hôn nhân không có hạnh phúc, chị L không còn tình cảm, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị L yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh T.
Tại các biên bản xác minh lập ngày 20/02/2024 (Bút số 26), địa phương xã L cũng đã cung cấp thông tin: Sau khi kết hôn, chị L và anh T chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn, sau đó thì thường phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T có chơi bời dẫn đến nợ nần, chị L khuyên nhủ thì anh T không nghe. Hiện nay, cả hai đã ly thân không còn chung sống với nhau khoảng 01 năm nay, cả hai không còn quan tâm, chăm sóc cho nhau, phận ai người đó sống. Ngoài ra, trong quá trình tố tụng, Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng chị L cương quyết yêu cầu giải quyết ly hôn, không có nguyện vọng đoàn tụ và anh T vắng mặt không có lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải đoàn tụ được, cho thấy chị L và anh T không có nguyện vọng đoàn tụ.
Từ những căn cứ nêu trên, có đủ cơ sở xác định được: Vợ chồng chị L và anh T đã phát sinh mâu thuẫn nghiêm trọng, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị L yêu cầu giải quyết ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên cần chấp nhận, xử cho chị L được ly hôn với anh T.
[3.2] Về con chung:
Căn cứ vào bản sao có chứng thực bản sao có chứng thực Giấy khai sinh số 50 của UBND xã L, huyện T, tỉnh Bình Thuận mà nguyên đơn chị Hồ Thị Cẩm L đã cung cấp; căn cứ lời khai phù hợp của nguyên đơn chị Hồ Thị Cẩm L; có đủ cơ sở xác định được: Chị L và anh T có 01 người con chung tên là Trần Hồ Minh Q, sinh ngày 04/7/2022;
Căn cứ lời khai phù hợp của nguyên đơn có đủ cơ sở xác định được: Khi ly hôn chị L có nguyện vọng tiếp tục được nuôi dưỡng cháu Q. Cháu Q hiện nay dưới 36 tháng tuổi đang rất cần sự chăm sóc của người mẹ, và hiện nay đang do chị L trực tiếp nuôi dưỡng, chị L có đủ điều kiện để nuôi dưỡng các con phát triển tốt về mọi mặt. Quá trình tố tụng, anh Trần T đều vắng mặt không có lý do, không tham gia tố tụng để thực hiện quyền, trình bày ý kiến, nguyện vọng, yêu cầu cầu của mình về việc nuôi con. Do đó, yêu cầu của chị L việc nuôi con là có căn cứ, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chung chưa thành niên, phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên cần chấp nhận; xử giao cho chị Hồ Thị Cẩm L có quyền, nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 01 người con chung tên Trần Hồ Minh Q, sinh ngày 04/7/2022 cho đến khi thành niên; anh Trần T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
[3.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này.
[3.4] Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này.
[4] Về án phí: Cần căn cứ khoản 4 điều 147, khoản 3 Điều 144 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Xử buộc chị Hồ Thị Cẩm L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[5] Về ý kiến đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận: Ý kiến đề nghị giải quyết vụ án của của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh là có căn cứ và phù hợp với quy định của Pháp luật nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 điều 147, khoản 3 Điều 144, các Điều 227, 228, 273, 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
[1]. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị Cẩm L:
Về việc ly hôn: Chị Hồ Thị Cẩm L được ly hôn với anh Trần T.
Về việc nuôi con: Giao cho chị Hồ Thị Cẩm L có quyền, nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 01 người con chung tên là Trần Hồ Minh Q, sinh ngày 04/7/2022 cho đến khi thành niên;
Anh Trần T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại Điều 84 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
[2]. Về án phí: Buộc chị Hồ Thị Cẩm L phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm, khấu trừ vào 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0005674 ngày 26/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận; sau khi khấu trừ, chị Hồ Thị Cẩm L đã nộp đủ tiền án phí.
[3]. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, các đương sự đều được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết (Đã giải thích quyền kháng cáo).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Mạnh Trí |
Bản án số 42/2024/HNGĐ-ST ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 42/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
