TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 42/2024/HNGĐ-ST Ngày: 07/6/2024 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thúy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Tâm và bà Phan Thị Liên
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Như Ý – Thư ký TAND huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.
Đại diện VKSND huyện Tây Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Sơn – Kiểm sát Viên.
Ngày 07 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 130/2024/TLST- HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2024, về “Tranh chấp ly hôn” theo thủ tục rút gọn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2024/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Nguyễn Hữu B, sinh năm 1986; (Có mặt).
Bị đơn: Nguyễn Thị Thúy A, sinh năm 1991; (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
Đồng địa chỉ: Khu phố P, thị trấn P, huyện T, tỉnh Phú Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn Nguyễn Hữu B trình bày: Ông Nguyễn Hữu B và bà Nguyễn Thị Thúy A tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H (nay là UBND thị trấn P) vào ngày 31/12/2009. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc và sinh được 02 con chung thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân vợ chồng do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 6/2023 cho đến nay không ai quan tâm ai, mạnh ai nấy sống. Mặc dù hai bên gia đình cố gắng khuyên ngăn nhiều lần nhưng hai vợ chồng sống không hạnh phúc.
Nay ông B nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không tồn tại nên ông B yêu cầu được ly hôn với bà A.
Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc Bảo Y, sinh ngày 29/10/2010 và Nguyễn Ngọc Bảo Ng, sinh ngày 11/10/2015. Hiện nay, con chung Nguyễn Ngọc Bảo Y do ông B trực tiếp nuôi dưỡng và con chung Nguyễn Ngọc Bảo Ng do bà A trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn, ông B yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi con chung Nguyễn Ngọc Bảo Ng và giao con chung Nguyễn Ngọc Bảo Y cho bà A trực tiếp nuôi dưỡng. Hai bên không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản: Ông B không yêu cầu Tòa giải quyết.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Thúy A có đơn trình bày thống nhất ly hôn với ông B, thống nhất giao con chung Nguyễn Ngọc Bảo Y cho ông B trực tiếp nuôi dưỡng và yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung Nguyễn Ngọc Bảo Ng. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con, về tài sản không yêu cầu Tòa án giải quyết, tuy nhiên bà A không đến Tòa án nên không tiến hành hòa giải được.
Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, xét thấy vụ án có tình tiết đơn giản, quan hệ pháp luật rõ ràng, các đương sự có nơi cư trú, địa chỉ ổn định và đã thống nhất với nhau về việc giải quyết vụ án; Tài liệu chứng cứ đầy đủ đảm bảo việc giải quyết vụ án, Tòa án đã ra thông báo thụ lý vụ án và tiến hành giải quyết, xét xử vụ án theo thủ tục rút gọn.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Hòa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn đã tuân thủ và thực hiện đúng theo quy định pháp luật tố tụng. Bị đơn vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử vụ án.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, vì mâu thuẫn đã trầm trọng và kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Ngọc Bảo Y, sinh ngày 29/10/2010 cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng. Giao con chung Nguyễn Ngọc Bảo Ng, sinh ngày 11/10/2015 cho bị đơn trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Nguyên đơn, bị đơn không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét; Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét. Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Các đương sự tranh chấp về ly hôn, là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn Nguyễn Thị Thúy A có nơi cư trú hiện nay tại: Khu phố P, thị trấn P, huyện T, tỉnh Phú Yên, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.
[1.2] Bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu của đương sự:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn Nguyễn Hữu B và bị đơn Nguyễn Thị Thúy A tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H (nay là Ủy ban nhân dân thị trấn P), vào ngày 31/12/2009 là hôn nhân hợp pháp. Ông B khai trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau và sống ly thân từ tháng 6/2023 đến nay. Mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng, mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm ai và bà Nguyễn Thị Thúy A cũng có ý kiến thống nhất ly hôn.
Như vậy, đủ cơ sở xác định, mâu thuẫn giữa ông B và bà A đã trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Hữu B như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.
[2.2] Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc Bảo Y, sinh ngày 29/10/2010 và Nguyễn Ngọc Bảo Ng, sinh ngày 11/10/2015. Xét thấy, cháu Yên lâu nay do nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng tình cảm cha con gắn bó và cháu Nguyên do bị đơn trực tiếp nuôi dưỡng tình cảm mẹ con gắn bó. Hơn nữa, cháu Yên có nguyện vọng ở với nguyên đơn, cháu Nguyên có nguyện vọng ở với bị đơn, để tạo điều kiện cho hai cháu phát triển tốt về thể chất lẫn tinh thần, cần chấp nhận ý kiến, yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn; giao cháu Yên cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Nguyên cho bị đơn trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Nguyên đơn không yêu cầu nên không xét.
[2.4] Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên không xét.
[3] Về án phí: Nguyên đơn Nguyễn Hữu B phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 254, Điều 260, Điều 262, Điều 264, Điều 266, Điều 267, Điều 316, Điều 317; Điều 320 và Điều 322 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Hữu B.
- Về hôn nhân: Nguyên đơn Nguyễn Hữu B được ly hôn với bị đơn Nguyễn Thị Thúy A.
- Về con chung: Giao con chung Nguyễn Ngọc Bảo Y, sinh ngày 29/10/2010 cho nguyên đơn Nguyễn Hữu B trực tiếp nuôi dưỡng và giao con chung Nguyễn Ngọc Bảo Ng, sinh ngày 11/10/2015 cho bị đơn Nguyễn Thị Thúy A trực tiếp nuôi dưỡng.
Nguyên đơn Nguyễn Hữu B, bị đơn Nguyễn Thị Thúy A không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Nguyên đơn Nguyễn Hữu B phải chịu 300.000đ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm về yêu cầu xin ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000890 ngày 15/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.
- Về kháng cáo: Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 07 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Thị Kim Thúy |
Bản án số 42/2024/HNGĐ-ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 42/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
