Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN DŨNG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2024/HS-ST

Ngày 07 - 5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Sơn.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tin, bà Nguyễn Thị Nhàn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Mông Anh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Quang Anh - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 02 tháng 5 năm 2024 và ngày 07 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 120/2023/TLST-HS ngày 28/11/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 121/2023/QĐXXST-HS ngày 12/12/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 63/2023/QÐST-HS ngày 27/12/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2024/QÐST-HS ngày 26/01/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2024/QÐST-HS ngày 26/02/2024; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 12/TB-TA ngày 25/3/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2024/QÐST-HS ngày 05/4/2024; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 01/2024/QĐST-DS ngày 02/5/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đặng Văn D, sinh năm 1967; nơi đăng ký thường trú và nơi ở: Khu dân cư A, phường H, thị xã K, tỉnh Hải Dương; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; văn hóa: 7/10; Đảng, đoàn thể: không; con ông Đặng Văn V và con bà Nguyễn Thị L; vợ là Phạm Thị C, sinh năm 1970; có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1990, con nhỏ nhất sinh năm 1997; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại (có mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Hoàng Thị Hải Y, sinh năm 1985 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Đường T, tổ F, khu C, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
  2. Ông Trương Văn A, sinh năm 1970 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Số nhà G đường H, phường H, quận H, thành phố Hải Phòng.
  3. Chị Trương Thị B, sinh năm 1998 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng.
  4. Ông Nguyễn Văn C1, sinh năm 1977 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Khu dân cư A, phường H, thị xã K, Hải Dương.
  5. Ông Lê Anh T, sinh năm 1958 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Thôn P, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
  6. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1960 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Thôn P, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
  7. Công ty TNHH một thành viên X, vận tải và thương mại Bảo A1 (Do ông Phùng Đắc D1, sinh năm 1983 là người đại diện – vắng mặt).
    Địa chỉ: Khu dân cư C, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương.
  8. Công ty Cổ phần V1 (do bà Trần Thị Thu H, sinh năm 1987 là người đại diện – vắng mặt)
    Địa chỉ: Số nhà G phố Q, khu T, phường B, thành phố C, tỉnh Hải Dương.
  9. Công ty Cổ phần X1 (Do ông Nguyễn Thế T1, sinh năm 1965 là người đại diện – vắng mặt).
    Địa chỉ: Tổ D, khu D, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.
  10. Công ty TNHH T8 (Do ông Trần Thành H1, sinh năm 1967 là người đại diện – vắng mặt).
    Địa chỉ: Tổ D, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh.
  11. Chi cục thuế khu vực Bắc Giang - Y (Do ông Trần Đức H2, sinh năm 1969 là người đại diện – vắng mặt)
    Địa chỉ: Thôn D, xã C, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung được tóm tắt như sau:

Năm 2018, Đặng Văn D, sinh năm 1967 ở khu dân cư A, phường H, thị xã K, tỉnh Hải Dương nảy sinh ý định thành lập Công ty trên địa bàn huyện Y, tỉnh Bắc Giang nhằm mục đích mua bán trái phép hoá đơn giá trị gia tăng để kiếm lời. Để thực hiện hành vi phạm tội, D tìm gặp và nhờ người quen là anh Lê Văn H3, sinh năm 1983 ở thôn P, xã L, huyện Y tìm người làm giúp các thủ tục để thành lập Công ty, thì anh H3 giới thiệu D với chị Hoàng Thị Hải Y, sinh năm 1985 ở đường T, tổ F, khu C, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Sau khi được H3 giới thiệu, D tìm đến gặp chị Y nhờ làm các thủ tục thành lập Công ty thì chị Y đồng ý. Sau khi D cung cấp tên công ty thành lập là “Công ty TNHH D3” (sau đây gọi tắt là Công ty D3) và lấy địa chỉ của công ty tại nhà của anh H3 ở thôn P, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, thì chị Y yêu cầu D đưa 2.500.000đ và 01 bản phô tô chứng minh thư nhân dân của D để Y đi làm thủ tục. Sau khi hoàn tất các thủ tục, ngày 27/9/2018, Y nộp hồ sơ đăng ký thành lập công ty cho D tại Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Bắc Giang.

Ngày 01/10/2018, Công ty D3 được Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh B cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, với mã số doanh nghiệp là 2400848341, có địa chỉ tại thôn P, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang và Đặng Văn D là chủ sở hữu đồng thời là đại diện trước pháp luật của Công ty với chức danh Giám đốc.

Sau khi công ty D3 được thành lập, D nhờ chị Y làm dấu tròn của công ty và dấu chức danh giám đốc, mua chữ ký số tại công ty Cổ phần B2 với số tiền 3.109.000₫, nhờ chị Y mở tài khoản công ty tại ngân hàng TMCP Đ2, Chi nhánh B3 và nhờ người quen là anh Trương Văn A, sinh năm 1970 ở số G, đường H, phường H, quận H, TP Hải Phòng ký vào hồ sơ, đăng ký mở tài khoản ngân hàng với vai trò kế toán. Khi có tài khoản ngân hàng, D đưa cho anh Nguyễn Văn C1, sinh năm 1977 ở cùng khu dân cư A, phường H, thị xã K, Hải Dương 500.000₫ là người quen ở cùng khu dân cư của D để nhờ anh C1 ký vào hồ sơ thay đổi kế toán với mục đích để anh C1 làm kế toán thay cho A. Sau khi hoàn thiện các thủ tục, D đặt và tìm mua được 10 quyển hoá đơn với giá 2.750.000đ tại Công ty TNHH một thành viên I ở số D, đường N, phường Q, quận C, thành phố Hà Nội. 10 quyển hoá đơn này có tổng 500 số, mỗi quyển hoá đơn có 50 số hoá đơn, mỗi số gồm 03 liên với ký hiệu mẫu hoá đơn là 01GTKT3/001; ký hiệu hoá đơn là HT/18P được đánh số từ 0000001 đến 0000500. Sau khi có hoá đơn giá trị gia tăng, Đặng Văn D không có bất kỳ hoạt động sản xuất, kinh doanh nào mà tiến hành bán hoá đơn giá trị gia tăng cho các cá nhân có nhu cầu với giá từ 3% đến 3,5% giá trị hàng hoá ghi trên hoá đơn (chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng), quá trình hoạt động, D thuê chị Y làm báo cáo tài chính, thuế và trả công chị Y 27.000.000đ.

Quá trình điều tra xác định: Hành vi mua bán trái phép hóa đơn của D được thực hiện như sau:

Hành vi bán trái phép hoá đơn cho các công ty:

* Hành vi bán trái phép hoá đơn cho Công ty TNHH X2:

Trong khoảng thời gian từ ngày 05/10/2018 đến 30/12/2018, Đặng Văn D đã bán 02 hóa đơn Giá trị gia tăng (GTGT) của công ty D3 cho Công ty TNHH X2 (mã số thuế 2400779063), có địa chỉ tại trụ sở ở thôn Đ, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang do ông Ngô Sỹ T2, sinh năm 1981 ở thôn Đ, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang là giám đốc Giám đốc, với giá bán là 3% trên tổng số tiền hàng hóa trước thuế ghi trên hóa đơn.

Cụ thể là các hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000002 ngày 05/10/2018, số tiền sau thuế là 533.500.000đ; Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000006 ngày 30/12/2018, số tiền sau thuế là 1.067.000.000₫. Hình thức là Công ty D3 xuất hóa đơn cho Công ty X2 với tổng số tiền hàng hóa, dịch vụ chưa thuế ghi trên hai hóa đơn là 1.455.000.000₫, tiền thuế giá trị gia tăng là 145.500.000đ, tổng giá trị hàng hoá sau thuế ghi trên 02 hoá đơn là 1.600.500.000₫. Số tiền Đặng Văn D thu được từ việc bán các hóa đơn này là: 1.455.000.000₫ x 3%=43.650.000₫.

* Hành vi bán trái phép hoá đơn cho công ty TNHH một thành viên X3, K:

Trong khoảng thời gian từ 26/11/2018 đến 29/6/2020, Đặng Văn D đã bán tổng số 08 hóa đơn GTGT của công ty D3 cho công ty TNHH X3, VT và T9 (công ty B4) – Mã số thuế: 0801139395,có địa chỉ trụ sở tại khu dân cư C, phường C, thành phố C,tỉnh Hải Dương, do anh Phùng Đắc D1, sinh năm 1983 ở khu dân cư C,phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương là Giám đốc, với giá bán là3,5% trên tổng số tiền hàng hóa trước thuế ghi trên hóa đơn. Hình thức là Công ty. Bắc Hải T3 xuất hóa đơn cho Công ty B4 với nội dung ghi khống trênhóa đơn với số tiền trước thuế là 3.345.000.000đ; thuế giá trị gia tăng là334.500.000₫; tổng giá trị hàng hoá sau thuế là 3.679.500.000đ. Số tiền Đặng Văn Dưỡng thu được từ việc bán các hóa đơn này là: 3.345.000.000₫ x 3,5% =117.075.000đ. Cụ thể là các hóa đơn:

Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000001 ngày 26/11/2018, số tiền sau thuế là418.000.000đ; Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000047 ngày 12/12/2019, số tiền sau thuế là 1.105.500.000 đ; Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000057 ngày 28/01/2020,số tiền sau thuế là 286.000.000đ; Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000058 ngày 28/02/2020, số tiền sau thuế là 390.500.000đ; Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số0000066 ngày 30/3/2020, số tiền sau thuế là 418.000.000đ; Hóa đơn ký hiệuHT/18P, số 0000073 ngày 28/4/2020, số tiền sau thuế là 412.500.000đ; Hóa đơnký hiệu HT/18P, số 0000076 ngày 02/5/2020, số tiền sau thuế là 324.500.000đ;Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000089 ngày 29/6/2020, số tiền sau thuế là324.500.000₫.

* Hành vi bán trái phép hoá đơn cho Công ty Cổ phần V1:

Trong khoảng thời gian từ 20/12/2018 đến 24/6/2020, Đặng Văn D đã bán tổng số 43 hóa đơn Giá trị gia tăng của công ty D3 cho Công ty V1 (Công ty V1) – MST 0801146184, có trụ sở chính tại số nhà G, phố Q, khu T, phường B, TP ., tỉnh Hải Dương do bà Trần Thị Thu H, sinh năm 1987, trú tại số nhà G,phố Q, khu T, phường B, TP ., tỉnh Hải Dương là Giám đốc công ty, với giá bán là 3,5% trên tổng số tiền hàng hóa trước thuế ghi trên hóa đơn. Hình thức là Công ty D3 xuất hóa đơn cho Công ty Thanh H4 với nội dung ghi khống trên hóa đơn với số tiền trước thuế là35.153.783.157đ; thuế giá trị gia tăng là 3.515.378.316 đ; tổng giá trị hàng hoá sau thuế là 38.669.161.473 đ. Số tiền Đặng Văn D thu được từ việc bán các hóa đơn này là: 35.153.783.157đ x 3,5%= 1.230.382.410đ. Cụ thể là các hóa đơn:

Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000004 ngày 20/12/2018, số tiền sau thuế là 1.334.440.800đ; Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000005 ngày 22/12/2018, số tiền sau thuế là 2.691.495.928đ; Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000008 ngày 17/01/2019, số tiền sau thuế là 2.518.263.616₫ Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000009 ngày 29/01/2019, số tiền sau thuế là 529.549.570đ; Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000014 ngày 05/5/2019, số tiền sau thuế là 525.390.096đ; Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000015 ngày 15/5/2019, số tiền sau thuế là 1.205.594.148đ; Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000016 ngày 17/5/2019, số tiền sau thuế là 572.619.762 đ; Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000017 ngày 30/5/2019, số tiền sau thuế là 1.083.145.536 đ; Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000021 ngày 30/6/2019, tiền sau thuế là 662.015.200đ; Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000024 ngày 13/7/2019, số tiền sau thuế là 608.879.128đ; Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000025 ngày 31/7/2019, số tiền sau thuế là 910.424.328đ; Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000026 ngày 31/7/2019, số tiền sau thuế là 1.276.000.000đ; Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000027 ngày 31/7/2019, số tiền sau thuế là 2.156.000.000đ; Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000029 ngày 02/9/2019, số tiền sau thuế là 582.114.390 đ; Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000033 ngày 26/9/2019, số tiền sau thuế là 141.328.000 đ; Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000034 ngày 30/9/2019, số tiền sau thuế là 581.116.558đ; Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000035 ngày 05/10/2019, số tiền sau thuế là 1.672.000.000đ; Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000037 ngày 18/11/2019, số tiền sau thuế là 3.222.017.568đ; Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000038 ngày 19/11/2019, số tiền sau thuế là 939.787.200 đ; Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000039 ngày 19/11/2019, số tiền sau thuế là 427.180.336₫ Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000040 ngày 20/11/2019, số tiền sau thuế là 1.367.692.326 đ; Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000041 ngày 20/11/2019, số tiền sau thuế là 418.000.000đ; Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000042 ngày 20/11/2019, số tiền sau thuế là 528.141.900đ; Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000054 ngày 24/12/2019, số tiền sau thuế là 287.401.400đ; Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000055 ngày 24/12/2019, số tiền sau thuế là 1.707.697.200đ; Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000056 ngày 24/12/2019, số tiền sau thuế là 32.780.000đ; Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000060 ngày 05/01/2020, số tiền sau thuế là 735.441.102d Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000061ngày 08/01/2020, số tiền sau thuế là 509.083.080 đ; Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000062ngày 08/01/2020, số tiền sau thuế là 199.957.670 đ; Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000063ngày 20/01/2020, số tiền sau thuế là 553.196.915đ; Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000064 ngày 28/01/2020, số tiền sau thuế là 215.600.000đ; Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000068 ngày 30/3/2020, số tiền sau thuế là 1.111.728.398 đ; Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000069 ngày 30/3/2020, số tiền sau thuế là 215.050.000đ; Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000070 ngày 30/3/2020, số tiền sau thuế là 594.808.500đ; Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000072 ngày 27/4/2020, số tiền sau thuế là 682.546.117 đ; Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000074 ngày 28/4/2020, số tiền sau thuế là 594.484.000đ; Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000075 ngày 29/4/2020, số tiền sau thuế là 558.166.609đ; Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000077 ngày 03/5/2020, số tiền sau thuế là 583.689.183đ; Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000078 ngày 03/5/2020, số tiền sau thuế là 706.305.600đ; Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000083 ngày 20/5/2020, số tiền sau thuế là 600.077.082đ; Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000084 ngày 20/5/2020, số tiền sau thuế là 244.099.152đ; Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000086 ngày 02/6/2020, số tiền sau thuế là 1.966.811.000đ; Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000088 ngày 24/6/2020, số tiền sau thuế là 617.042.074₫.

* Hành vi bán trái phép hoá đơn cho Công ty cổ phần X1:

Trong khoảng thời gian từ 30/5/2019 đến 12/5/2020, Đặng Văn D đã bán tổng số 09 hóa đơn Giá trị gia tăng của công ty D3 cho Công ty X1 (Công ty X1) – MST: 5700569753, có địa chỉ trụ sở Tổ D, khu D, Phường H, Thành phố H, tỉnh Quảng Ninh do ông Nguyễn Thế T1, sinh năm 1965 ở tổ D, khu D, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh là Chủ tịch Hội đồng quản trị, kiêm Giám đốc Công ty, với giá bán là 3,5% trên tổng số tiền hàng hóa trước thuế ghi trên hóa đơn. Hình thức là Công ty D3 xuất hóa đơn cho Công ty X1 với nội dung ghi khống trên hóa đơn với số tiền trước thuế là 9.726.002.036đ; thuế giá trị gia tăng là 972.600.204đ ; tổng giá dịch vụ sau thuế là 10.698.602.240đ. Số tiền Đặng Văn D thu được từ việc bán các hóa đơn này là: 9.726.002.036 đồng x 3,5%= 340.410.071đ.Cụ thể là các hóa đơn: Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000019 ngày 30/5/2019, số tiền sau thuế là 968.573.800 đ; Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000028 ngày 02/9/2019, số tiền sau thuế là 623.986.000 đ; Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000030 ngày 10/9/2019, số tiền sau thuế là839.344.000đ; Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000032 ngày 26/9/2019, số tiền sau thuế là 1.264.538.000đ; Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000036 ngày 06/11/2019, số tiền sau thuế là 789.342.290đ; Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000050 ngày 24/12/2019, số tiền sau thuế là 571.230.000đ; Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000067 ngày 30/3/2020, số tiền sau thuế là 2.574.000.000đ; Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000071 ngày 31/3/2020, số tiền sau thuế là 451.902.000 đ; Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000082 ngày 12/5/2020, số tiền sau thuế là 2.615.686.150đ.

* Hành vi bán trái phép hoá đơn cho Công ty TNHH T10

Trong khoảng thời gian từ 06/12/2019 đến 18/12/2019, Đặng Văn D đã bán tổng số 04 hóa đơn Giá trị gia tăng của công ty D3 cho Công ty TNHH T11 (Công ty T11) - MST 5701896464, có địa chỉ tại số C, phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh do bà Lê Thị T4, sinh năm 1992, trú tại số C, phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh là Giám đốc, với giá bán là 3,5 % trên tổng số tiền hàng hóa trước thuế ghi trên hóa đơn. Hình thức là Công ty D3 xuất hóa đơn cho Công ty L1 tổng số tiền hàng hóa, dịch vụ chưa thuế ghi trên hóa đơn là 5.965.877.277đ, tổng thuế giá trị gia tăng là 596.587.728đ, tổng số tiền hàng hoá, dịch vụ sau thuế là 6.562.465.005đ. Số tiền Đặng Văn D thu được từ việc bán các hóa đơn này là: 5.965.877.277đ x 3,5% = 208.805.705₫.

Cụ thể gồm các hoá đơn: Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000045 ngày 06/12/2019, số tiền sau thuế là 1.895.220.162đ; Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000046 ngày 12/12/2019, số tiền sau thuế là 2.013.375.976đ; Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000048 ngày 16/12/2019, số tiền sau thuế là 1.812.708.938đ. Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000049 ngày 18/12/2019, số tiền sau thuế là 841.159.930đ.

* Hành vi bán trái phép hoá đơn cho Công ty TNHH T8:

Trong khoảng thời gian từ 03/5/2020 đến 31/8/2020, Đặng Văn D đã bán tổng số 04 hóa đơn Giá trị gia tăng của công ty D3 cho Công ty TNHH T8 (Công ty T8) - MST 5701935723, có trụ sở chính tại số D, tổ C khu H, phường Q, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh do ông Trần Thành H1, sinh năm 1967, trú tại tổ D, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh là Giám đốc, với giá bán là 3,5% trên tổng số tiền hàng hóa trước thuế ghi trên hóa đơn. Hình thức là Công ty ), Bắc Hải T3 xuất hóa đơn cho Công ty B5 tổng số tiền hàng hóa, dịch vụ chưa thuế ghi trên hóa đơn là 6.989.602.405đ; thuế giá trị gia tăng là 698.960.241đ; tổng giá dịch vụ sau thuế là 7.688.562.646đ. Số tiền Đặng Văn D thu được từ việc bán các hóa đơn này là: 6.989.602.405₫ x 3,5% = 244.636.084đ. Cụ thể là các hóa đơn: Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000079 ngày 03/5/2020, số tiền sau thuế là 222.876.500đ; Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000085 ngày 25/5/2020, số tiền sau thuế là 3.543.924.385đ; Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000087 ngày 24/6/2020, số tiền sau thuế là 3.571.483.474đ; Hóa đơn ký hiệu HT/18P, số 0000094 ngày 31/8/2020, số tiền sau thuế là 350.278.287đ.

Như vậy, tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ ghi trên 70 hóa đơn GTGT mà Đặng Văn D đã bán là 62.635.264.875 đ, tổng thuế giá trị gia tăng là 6.263.526.489đ, tổng giá trị hàng hóa dịch vụ sau thuế là 68.898.791.364 đ. Tổng số tiền thu được từ việc bán trái phép hóa đơn cho 06 công ty này là 2.184.959.270đ.

Hành vi mua trái phép hóa đơn.

Từ khi thành lập Công ty D3 đến hết năm 2019, Đặng Văn D đã tiến hành mua tổng số 44 hoá đơn GTGT từ một người, D khai không quen biết với giá 2,5% giá trị hàng hóa ghi trên hóa đơn chưa bao gồm thuế GTGT của 05 doanh nghiệp để hợp thức hoá các hoá đơn đã bán ra, Cụ thể:

  1. Công ty TNHH T12, có địa chỉ số A P, phường T, quận D, thành phố Hải Phòng do Hoàng Thị T5, sinh năm 1993 ở số 2057, Phạm Văn Đ, khu dân cư T, phường T, quận D, thành phố Hải Phòng là Giám đốc: 01 hóa đơn ký hiệu AA/17P số 0000258 ngày 23/11/2018 với tổng số tiền hàng hoá, dịch vụ chưa thuế là 376.200.000đ, tiền thuế giá trị gia tăng là 37.620.000đ, tổng giá trị hàng hoá sau thuế ghi trên hoá đơn là 413.820.000₫.
  2. Công ty CP K1, có địa chỉ Số D đường Đ, Đ, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng do Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1990 ở thôn D, xã A, huyện A, TP Hải Phòng là giám đốc: 04 hóa đơn gồm: 01 hoá đơn ký hiệu AA/16P số 0000311 ngày 04/12/2018; 01 hoá đơn ký hiệu AA/16P số 0000348 ngày 17/12/2018; 01 hoá đơn ký hiệu AA/16P số 0000349 ngày 18/12/2018 và 01 hoá đơn ký hiệu AA/16P số 0000352 ngày 20/12/2018, với tổng số tiền hàng hoá, dịch vụ chưa thuế ghi trên 04 hoá đơn là 5.170.213.170đ, tiền thuế giá trị gia tăng là 517.021.317đ, tổng giá trị hàng hoá sau thuế ghi trên 04 hoá đơn là 5.687.234.487₫.
  3. Công ty TNHH T13, có địa chỉ: Số E, tổ dân phố F, thị trấn C, huyện C, thành phố Hải Phòng do chị Bùi Thị H5, sinh năm 1985 ở thôn B, xã A, huyện A, TP Hải Phòng là Giám đốc: 07 hóa đơn gồm: 01 hoá đơn ký hiệu AA/18P số 0000042 ngày 16/01/2019; 01 hoá đơn ký hiệu AA/18P số 0000050 ngày 28/01/2019; 01 hoá đơn ký hiệu AA/18P số 0000139 ngày 05/5/2019; 01 hoá đơn ký hiệu AA/18P số 0000142 ngày 15/5/2019; 01 hoá đơn ký hiệu AA/18P số 0000143 ngày 17/5/2019; 01 hoá đơn ký hiệu AA/18P số 0000146 ngày 30/5/2019; 01 hoá đơn ký hiệu AA/18P số 0000147 ngày 30/5/2019, với tổng số tiền hàng hoá, dịch vụ chưa thuế ghi trên 07 hoá đơn là 6.685.995.406đ, tiền thuế giá trị gia tăng là 668.599.543đ, tổng giá trị hàng hoá sau thuế ghi trên 07 hoá đơn là 7.354.594.949₫.
  4. Công ty TNHH D4, có địa chỉ: Số G, Đường H, tổ dân phố F, thị trấn C, huyện C, thành phố Hải Phòng do Trương Thị H6, sinh năm 1987 ở số G đường H, tổ dân phố F, thị trấn C, huyện C, thành phố Hải Phòng là Giám đốc: 31 hóa đơn gồm: 02hoá đơn ký hiệu TT/19P từ số 0000101 đến số 0000102 cùng ngày 30/6/2019; 01 hoá đơn ký hiệu TT/19P số 0000122 ngày 15/7/2019; 01 hoá đơn ký hiệu TT/19P số 0000135 ngày 31/7/2019; 01 hoá đơn ký hiệu TT/19P số 0000136 ngày 31/7/2019; 01 hoá đơn ký hiệu TT/19P số 0000139 ngày 31/7/2019; 01 hoá đơn ký hiệu TT/19P số 0000170 ngày 02/9/2019; 01 hoá đơn ký hiệu TT/19P số 0000172 ngày 02/9/2019; 01 hoá đơn ký hiệu TT/19P số 0000178 ngày 10/9/2019; 01 hoá đơn ký hiệu TT/19P số 0000188 ngày 26/9/2019; 01 hoá đơn ký hiệu TT/19P số 0000192 ngày 26/9/2019; 01 hoá đơn ký hiệu TT/19P số 0000193 ngày 30/9/2019; 01 hoá đơn ký hiệu TT/19P số 0000195 ngày 30/9/2019; 01 hoá đơn ký hiệu TT/19P số 0000201 ngày 04/10/2019; 01 hoá đơn ký hiệu TT/19P số 0000218 ngày 06/11/2019; 01 hoá đơn ký hiệu TT/19P số 0000220 ngày 15/11/2019; 01 hoá đơn ký hiệu TT/19P số 0000238 ngày 17/11/2019; 01 hoá đơn ký hiệu TT/19P số 0000245 ngày 18/11/2019; 01 hoá đơn ký hiệu TT/19P số 0000247 ngày 18/11/2019; 01 hoá đơn ký hiệu TT/19P số 0000256 ngày 19/11/2019; 01 hoá đơn ký hiệu TT/19P số 0000257 ngày 19/11/2019; 01 hoá đơn ký hiệu TT/19P số 0000277 ngày 05/12/2019; 01 hoá đơn ký hiệu TT/19P số 0000282 ngày 10/12/2019; 01 hoá đơn ký hiệu TT/19P số 0000283 ngày 11/12/2019; 01 hoá đơn ký hiệu TT/19P số 0000288 ngày 15/12/2019; 01 hoá đơn ký hiệu TT/19P số 0000289 ngày 16/12/2019; 01 hoá đơn ký hiệu TT/19P số 0000291 ngày 22/12/2019; 01 hoá đơn ký hiệu TT/19P số 0000292 ngày 23/12/2019; 01 hoá đơn ký hiệu TT/19P số 0000294 ngày 23/12/2019; 01 hoá đơn ký hiệu TT/19P số 0000295 ngày 23/12/2019; 01 hoá đơn ký hiệu TT/19P số 0000297 ngày 31/12/2019, với tổng số tiền hàng hoá, dịch vụ ty chưa thuế ghi trên 31 hoá đơn là 26.665.572.300đ, tiền thuế giá trị gia tăng là 2.666.557.231đ, tổng giá trị hàng hoá sau thuế ghi trên 31 hoá đơn là 29.332.129.531d.
  5. Công ty CP X1, có địa chỉ: Tổ D, khu D, Phường H, thành phố H, Tỉnh Quảng Ninh: 01 hóa đơn ký hiệu AA/11P số 0000615 ngày 31/7/2019 với tổng số tiền hàng hoá, dịch vụ chưa thuế là 710.317.500đ, tiền thuế giá trị gia tăng là 71.031.750đ, tổng giá trị hàng hoá sau thuế ghi trên hoá đơn là 781.349.250d.

Tổng giá trị hàng hoá ghi trên 44 hoá đơn GTGT đầu vào mà Đặng Văn D đã mua là 39.608.298.376 đ, tổng thuế giá trị gia tăng là 3.960.829.838d, tổng giá trị hàng hóa dịch vụ sau thuế là 43.569.128.214đ.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y không thu giữ được các hóa đơn đầu vào trong năm 2020, nên không xác định được Đặng Văn D đã mua tất cả bao nhiêu hóa đơn đầu vào và tên công ty bán hàng trên hóa đơn là của công ty nào. Theo tờ khai thuế GTGT của Công ty D3 thì Đặng Văn D có kê khai thuế giá trị gia tăng quý I/2020 và quý IV/2020. Theo báo cáo thuế thì các hóa đơn giá trị gia tăng đầu vào quý I/2020 có giá trị hàng hóa ghi trên hóa đơn là 6.836.001.770đ; các hóa đơn giá trị gia tăng đầu vào quý II/2020 có giá trị hàng hóa ghi trên hóa đơn là 19.729.413.370₫.

Số tiền Đặng Văn D bỏ ra mua các hóa đơn GTGT đầu vào tính đến hết năm 2019 là 39.608.298.376 đồng x 2,5%= 990.207.459đ. Đặng Văn D khai đã bỏ ra là 664.135.379đ để mua các hóa đơn GTGT đầu vào trong Quý I và Quý II/2020. Như vậy tổng số tiền Đặng Văn D đã mua hoá đơn đầu vào là 1.654.342.838 đ.

Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu

* Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã thu giữ các tài liệu, đồ vật gồm:

- 01 Quyển Hóa đơn GTGT bên ngoài ghi Quyển số 01, từ số 01 đến số 50, (Các Hóa đơn GTGT số 0000003,0000007, 0000010, 0000011, 0000012, 0000013, 0000018, 0000020, 0000022, 0000023, 0000031, 0000043, 0000044 có đủ 3 liên là liên 1, liên 2 và liên 3; các hóa đơn GTGT còn lại chỉ có 1 liên là liên 1) ( Tổng cộng có 78 tờ cả bìa).

- 01 Quyển sổ SỐ QUỸ TIỀN MẶT PHIẾU THU + PHIẾU CHI Năm 2018+2019 (gồm 41 tờ cả bìa). 01 Quyển sổ “GIẤY NỘP TIỀN VÀO NSNN Năm 2018+2019” (gồm có 31 tờ cả bìa). 01 Quyển sổ “SỐ TIỀN GỬI NGÂN HÀNG Năm 2018+2019” (gồm có 52 tờ cả bìa). 01 Quyển sổ “BẢNG KÊ NHẬP XUẤT TỒN, PHIẾU XUẤT KHO- PHIẾU NHẬP KHO- THẺ KHO Năm 2018” (gồm có 16 tờ cả bìa). 01 Quyển sổ “MUA HÀNG – BÁN HÀNG, CÔNG NỢ PHẢI THU- PHẢI TRẢ Năm 2018” (gồm có 14 tờ cả bìa). 01 Quyển sổ “BÁO VỀ CÁO TÀI CHÍNH QUYẾT TOÁN THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP Năm 2018” (gồm có 22 tờ cả bìa). 01 Quyển sổ “BÁO CÁO TÀI CHÍNH QUYẾT TOÁN THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP Năm 2019” (gồm có 21 tờ cả bìa). 01 Quyển sổ “BẢNG KÊ NHẬP XUẤT TỒN, PHIẾU XUẤT KHO- PHIẾU NHẬP KHO- THẺ KHO Năm 2019” (gồm có 77 tờ cả bìa). 01 Quyển sổ “MUA HÀNG – BÁN HÀNG CÔNG NỢ PHẢI THU – PHẢI TRẢ Năm 2019” (gồm có 35 tờ cả bìa). 01 Quyển sổ “HÓA ĐƠN GTGT (GỐC) BÁO CÁO THUẾ QUÝ 4/2018 Năm 2018” (gồm có 21 tờ cả bìa). 01 Quyển sổ “HÓA ĐƠN GTGT (GỐC) BÁO CÁO THUẾ QUÝ 1/2019 Năm 2019” (gồm 11 tờ cả bìa). 01 Quyển SỔ “HÓA ĐƠN GTGT (GỐC) BÁO CÁO THUẾ QUÝ 2/2019 Năm 2019” (gồm có 21 tờ cả bìa). 01 Quyển sổ “HÓA ĐƠN GTGT (GỐC) BÁO CÁO THUẾ QUÝ 3/2019 Năm 2019” (gồm có 30 tờ cả bìa). 01 Quyển sổ “HÓA ĐƠN GTGT (GỐC) BÁO CÁO THUẾ QUÝ 4/2019 Năm 2019” (gồm có 45 tờ cả bìa). 01 Quyết định trả lương 2018; 01 Quyết định trả lương 2019; 15 Bảng chấm công năm 2018, 2019 (gồm 15 tờ); 15 Bảng thanh toán lương của Công ty TNHH D3 2018 và 2019 (gồm 15 tờ). 01 Hợp đồng lao động với Nguyễn Văn C1; 01 Hợp đồng lao động với ông Nguyễn Văn C1; 02 Hợp đồng lao động với Lê Thị N1; 02 Hợp đồng lao động với Đặng Văn G; 02 Hợp đồng lao động với Phan Thị T6; 02 Hợp đồng lao động với Nguyễn Văn N2; 01 Hợp đồng lao động với Phạm Thị H7; 01 Hợp đồng lao động với Trương Văn A; 01 Hợp đồng lao động với Đặng Thị D2 03 Giấy Ủy nhiệm chi ngày 21/9/2020 gồm các số HĐ: 0237223; số HĐ: 0237114; số HĐ: 0237160, 03 Giấy Ủy nhiệm chi ngày 22/9/2020 gồm các số HĐ: 0238014; số HĐ: 0238047; số HĐ: 0238491, 02 Giấy Ủy nhiệm chi ngày 22/9/2020,; số HĐ: 0238120; số HĐ: 0238523;, 02 Giấy Ủy nhiệm chi ngày 23/9/2020, số HĐ: 0239367; số HĐ: 0239402; 01 Giấy Ủy nhiệm chi ngày 23/9/2020; 02 Giấy Ủy nhiệm chi ngày 24/9/2020, số HĐ: 0240568; số HĐ: 0240609 ; 01 Giấy Ủy nhiệm chi ngày 24/9/2020, số HĐ: 0240555, 01 Giấy Ủy nhiệm chi ngày 25/9/2020, số HĐ: 0242252; 10 Giấy rút tiền mặt các số: 43110000880540 số 0016 ngày 30/7/2019; số 43110000880540 số 0011 ngày 10/5/2019; số 43110000880540 số 0028 ngày 14/2/2019; số 43110000880540 số 0022 ngày 14/2/2019; số 43110000880540 số 0114 ngày 18/7/2019; số 43110000880540 số 0110 ngày 17/7/2019; số 43110000880540 số 0061; số 0025 ngày 07/6/2019; số 43110000880540 số 0045 ngày 14/6/2019; số 43110000880540 số 0111 ngày 16/1/2019. 03 Giấy nộp tiền mặt vào tài khoản các số 43110000880540 số 0058; số 0022 ngày 07/6/2019; số 43110000880540 số 0011 ngày 02/8/2019; 01 Hợp đồng Nguyên tắc Công ty TNHH D3, bên bán (bên B) là Công ty TNHH T13 (gồm 03 tờ). 07 Biên Bản Nghiệm thu Khối lượng các ngày 16/01/2019; 28/01/2019: 05/5/2019; 15/05/2019; 17/05/2019 và 30/05/2019. 01 Hợp đồng Nguyên tắc (bên A) là Công ty TNHH D3, bên bán (bên B) là Công ty TNHH D5. 25 Biên Bản Nghiệm thu Khối lượng các ngày 28/6/2019; 30/06/2019; 15/07/2019; 10/9/2019; 04/10/2019; 06/11/2019; 15/11/2019; 17/11/2019; 05/12/2019; 10/12/2019; 11/12/2019; 15/12/2019; 31/7/2019; 02/9/2019; 26/9/2019; 30/9/2019; 18/11/2019 và 19/11/2019. 01 Hợp đồng cung cấp dịch vụ ngày 03/10/2018; 01 Giấy đề nghị thanh toán ngày 03/10/2018. 01 Biên bản đối chiếu và xác nhận công nợ ngày 22/12/2018; 03 Biên bản đối chiếu và xác nhận công nợ không ghi ngày tháng, ghi năm 2019; 06 biên bản đối chiếu và xác nhận công nợ không ghi ngày tháng năm. 03 Hợp đồng kinh tế ngày 01/12/2018; ngày 01/01/2020; ngày 01/12/2019. 05 B Nghiệm thu Khối lượng đất san lấp ngày 12/12/2019; 28/01/2020; 28/02/2020; 30/03/2020; 28/04/2020. 02 Hợp đồng thuê nhân công ngày 08/9/2019 và ngày 08/9/2019; 01 Bảng kê chi tiết máy móc sử dụng ngày 06/12/2019; 01 Biên bản nghiệm thu thực tế ngày 06/12/2019; 95 Giấy rút tiền mặt của Ngân hàng B6 chưa viết nội dung. 90 Giấy uỷ nhiệm chi của Ngân hàng B6 chưa viết nội dung.

* Hoàng Thị Hải Y đã giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y:

01 Thiết bị chứa Chữ ký số hình dạng USB màu bạc có lắp màu đen, kích thước 5,2cm x 1,7cm; bên trong có dập chữ số “160808F02891H”, bên ngoài thiết bị một mặt có in chữ “BkavCA”, một mặt dán giấy màu vàng có ghi chữ "MK+MP 1357902468".

* Công ty TNHH một thành viên X3, VT và T9; Công ty CP X1; Công ty Cổ phần V1; Công ty TNHH T8 đã giao nộp các tài liệu gồm:

08 Hóa đơn GTGT, liên 2 các số Hoá đơn gồm: 0000001, 0000047 0000057, 0000058, 0000066, 0000073, 0000076, 0000089 của Công ty TNHH D3 và các hợp đồng, chứng từ kèm theo.

09 Hóa đơn GTGT liên 2 các số: 0000019, 0000028, 0000030, 0000032, 0000036, 0000050, 0000067, 0000071, 0000082 của Công ty TNHH D3 và các hợp đồng, chứng từ kèm theo.

01 Hoá đơn GTGT liên 3 số 0000615 của Công ty Cổ phần X1 và các hợp đồng, chứng từ kèm theo.

43 Hóa đơn GTGT liên 2 các số: 0000004, 0000005 0000008, 0000009, 0000014, 0000015, 0000016, 0000017, 0000021, 0000024, 0000025, 0000026, 0000027, 0000029, 0000033, 0000034, 0000035, 0000037, 0000038, 0000039,0000040, 0000041, 0000042, 0000054, 0000055, 0000056, 0000060, 0000061, 0000062, 0000063, 0000064, 0000068, 0000069, 0000070, 0000072, 0000074, 0000075, 0000077, 0000078, 0000083, 0000084, 0000086, 0000088 của Công ty TNHH D3 và các hợp đồng, chứng từ kèm theo.

Kết quả trưng cầu giám định tài liệu.

Ngày 14/4/2022 và ngày 08/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y có Quyết định trưng cầu giám định và Quyết định trưng cầu giám định bổ sung đối với các tài liệu thu giữ để xác định chữ viết chữ ký của D và những người liên quan.

Trong các ngày 04/5/2022; 02/12/2022 và 29/12/2022, phòng K2 Công an tỉnh B có Kết luận giám định số 725/KL-KTHS; Kết luận giám định bổ sung số 2225/KL-KTHS và Kết luận giám định bổ sung số 2437/KL-KTHS xác định: Hình dấu tròn đỏ ghi “CÔNG TY TNHH DỊCH VỤ THƯƠNG MẠI VÀ XÂY DỰNG BẮC HẢI THỊNH” và hình dấu chức danh “GIÁM ĐỐC ĐẶNG VĂN DƯỠNG” có trên các hợp đồng, hóa đơn, chứng từ thu giữ trong quá trình điều tra với hình dấu do Đặng Văn D cung cấp, giao nộp là do cùng một con dấu đóng ra; Chữ ký của Đặng Văn D trên toàn bộ các hợp đồng, hóa đơn, chứng từ thu giữ trong quá trình điều tra với chữ ký do Đặng Văn D cung cấp là do cùng một người ký, viết ra; Chữ viết trên một số tài liệu cần giám định so với chữ viết của Trương Thị B là không phải do cùng một người viết ra. Phòng K2 không kết luận giám định chữ viết trên các tài liệu cần giám định còn lại so với chữ viết của Trương Thị B do xuất hiện các đặc điểm giống nhau, khác nhau không giải thích được; Chữ viết trên toàn bộ các hóa đơn giá trị gia tăng của Công ty TNHH D3 so với chữ viết của Trương Văn A là không phải do cùng một người viết ra.

Ngày 23/3/2023, Phòng K2 Công an tỉnh B có Công văn số 206/KTHS giải thích nội dung kết luận: “13. Phòng K2 không kết luận giám định chữ viết trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A1, A2, từ 46 đến A29, A37, A45, A46, 447, 449, A55, A56, A57, từ A224 đến 4228, A234, A235, từ A239 đến A242, A244, A249, A250, A251, A253, A256, A257, A261, 4408 đến 4416, từ A418 đến 424, từ A441 đến 446, A474, A478, A479, A480) so với chữ viết của Trương Thị B trên các tài liệu mẫu (Ký hiệu M18, M19) do xuất hiện các đặc điểm giống nhau, khác nhau không giải thích được” như sau: “Chữ viết trên các tài liệu cần giám định xuất hiện các đặc điểm ổn định, có giá trị truy nguyên; tuy nhiên chữ viết của Trương Thị B trên các tài liệu mẫu so sánh (gồm02 mẫu) là quá ít, không xuất hiện hoặc xuất hiện ít các đặc điểm tương đông với các đặc điểm trên tài liệu cần giám định nên không thể đánh giá các đặc điểm đó là ổn định hoặc không có”.

Ngày 03/4/2023, Phòng K2 Công an tỉnh B có Kết luận giám định số 725/KL-KTHS và Kết luận giám định bổ sung số 2225/KL-KTHS xác định:

- Chữ viết phần nội dung trong hồ sơ mở tài khoản của Công ty TNHH D3 tại Ngân hàng TMCP Đ2 – Chi nhánh B3 (Đề nghị kiêm hợp đồng đăng ký thông tin khách hàng và dịch vụ tài khoản, số HĐ: 11688611, ngày 15/10/2018, chủ tài khoản là Công ty TNHH D4 và XD BẮC HẢI THỊNH) so với chữ viết của Trương Văn A là không phải do cùng một người viết ra.

- Chữ ký dạng chữ viết có nội dung”An” tại các cột “Chữ ký 1” và “Chữ ký 2” hàng “Kế toán trưởng/Người phụ trách kế toán” trên tài liệu cần giám định (Đề nghị kiêm hợp đồng đăng ký thông tin khách hàng và dịch vụ tài khoản, số HĐ: 11688611, ngày 15/10/2018, chủ tài khoản là Công ty TNHH D4 và XD BẮC HẢI THỊNH) so với chữ ký, chữ viết của Trương Văn A là do cùng một người ký ra.

Kết quả trưng cầu giám định về thuế.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã trưng cầu giám định thiệt hại về thuế đối với hành vi mua bán trái phép hóa đơn của Công ty D3 và hành vi kê khai, sử dụng hóa đơn GTGT của các công ty có liên quan. Kết luận giám định xác định:

- Việc thành lập Công ty TNHH D3 mua bán hóa đơn GTGT là bất hợp pháp (không được phép).

- Việc kê khai thuế của Công ty TNHH D3 không gây thiệt hại về thuế.

- Công ty TNHH T8 đã kê khai thuế GTGT đầu vào với tổng số 04 hóa đơn của Công ty TNHH D3 thì thuế GTGT phải nộp ngân sách Nhà nước là 698.960.241 đồng; không xác định được thiệt thiệt hại về thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường. Không xác định được thiệt hại về thuế thu nhập doanh nghiệp của công ty.

- Công ty CP X1 đã kê khai thuế GTGT đầu vào với tổng số 09 hóa đơn của Công ty TNHH D3 thì thuế GTGT phải nộp ngân sách Nhà nước là 972.600.204 đồng; không xác định được thiệt thiệt hại về thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường. Không xác định được thiệt hại về thuế thu nhập doanh nghiệp của công ty.

- Công ty Cổ phần V1 đã kê khai thuế GTGT đầu vào với tổng số 43 hóa đơn của Công ty TNHH D3 thì thuế GTGT phải nộp ngân sách Nhà nước là 3.515.378.316 đồng; không xác định được thiệt thiệt hại về thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường. Không xác định được thiệt hại về thuế thu nhập doanh nghiệp của công ty.

- Công ty TNHH một thành viên X3, VT và T9 đã kê khai thuế GTGT đầu vào với tổng số 08 hóa đơn của Công ty TNHH D3 thì thuế GTGT phải nộp ngân sách Nhà nước là 334.500.000 đồng; Công ty TNHH một thành viên X3, VT và T9 đã kê khai bổ sung ngày 17/5/2022 và tự khắc phục hậu quả thuế nên thuế GTGT còn phải nộp ngân sách Nhà nước là 65.972.785 đồng; không xác định được thiệt thiệt hại về thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường. Không xác định được thiệt hại về thuế thu nhập doanh nghiệp của công ty.

- Công ty TNHH T14 có cơ sở để xác định đã kê khai thuế GTGT đầu vào của 04 số hóa đơn của Công ty TNHH D3 do đó không xác định được thuế GTGT phải nộp ngân sách Nhà nước; không xác định được thiệt thiệt hại về thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường. Không xác định được thiệt hại về thuế thu nhập doanh nghiệp của công ty.

- Công ty TNHH X2, chưa có cơ sở để xác định đã kê khai thuế GTGT đầu vào của 02 số hóa đơn của Công ty TNHH D3 do đó không xác định được thuế GTGT phải nộp ngân sách Nhà nước; không xác định được thiệt thiệt hại về thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường. Không xác định được thiệt hại về thuế thu nhập doanh nghiệp của công ty.

Tại cơ quan điều tra, Đặng Văn D khai nhận: Quá trình bán các hóa đơn giá trị gia tăng (GTGT) thể hiện tên đơn vị mua hàng gồm các công ty: Công ty V1, Công ty B4, Công ty X2 được thực hiện thông qua Trương Văn A. Khi có người mua hóa đơn, D mang quyển hóa đơn, đã ký, đóng dấu sẵn đưa cho Trương Văn A, sau đó A nhờ con gái là Trương Thị B viết thông tin lên các hoá đơn. Sau khi Trương Văn A bán các hóa đơn thì trả lại quyển hóa đơn cho D, quá trình bán các hoá đơn Trương Văn A có đưa Hợp đồng và các Biên bản nghiệm thu để Đặng Văn D ký. Để hợp thức hoá các hóa đơn GTGT này người mua sẽ chuyển tiền mua hàng vào tài khoản ngân hàng của Công ty TNHH D3. Sau đó, Đặng Văn D sẽ trực tiếp đi rút tiền và đưa lại toàn bộ cho Trương Văn A để A trả lại cho người mua, D không biết người đã viết và mua các hóa đơn GTGT thể hiện tên đơn vị mua hàng là các công ty này là ai. Đối với các hóa đơn GTGT thể hiện đơn vị mua hàng là Công ty X1, Công ty T11, Công ty T8 thì D là người trực tiếp bán các hóa đơn GTGT này cho các cá nhân không quen biết, các hóa đơn này khi bán D nhờ người khác viết hóa đơn, D không nhớ đã nhờ những ai viết, sau khi nhờ người viết xong thì D ký tên, đóng dấu đưa cho người mua. Đối với 44 hoá đơn đã mua thì D mua của một người không quen biết, đến nay D không biết người bán là ai. Đối với Nguyễn Văn C1 là kế toán và 06 cá nhân có tên trong danh sách, hợp đồng lao động của công ty là do D nhờ những người này ký vào hợp đồng lao động để hợp thức hoá hồ sơ trong công ty, những người này không biết việc D thành lập công ty, không biết việc D mua bán trái phép hoá đơn.

Về số tiền thu lời bất chính, quá trình điều tra xác định sau khi trừ chi phí thành lập công ty, chi phí trả cho các cá nhân và số tiền bỏ ra mua các hoá đơn đầu vào thì tổng số tiền bị cáo thu lợi bất chính từ việc mua bán trái phép hóa đơn là 497.257.432 đồng.

Từ những nội dung trên, bản Cáo trạng số 57/CT-VKS-YD ngày 24 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng đã truy tố Đặng Văn D về tội “Mua bán trái phép hóa đơn” theo điểm d, đ khoản 2 điều 203 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay: Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố và xác định việc bị truy tố về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, không oan.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; giám định viên đã được tống đạt triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của người vắng mặt có trong hồ sơ vụ án.

Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Về trách nhiệm hình sự:

- Áp dụng điểm d, đ khoản 2, khoản 3 Điều 203; điểm s khoản 1, khoản Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015:

Xử phạt Đặng Văn D từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Mua bán trái phép hóa đơn”, phải chịu thời gian thử thách từ 04 năm đến 05 năm. Giao bị cáo Đặng Văn D cho UBND phường H, thị xã K, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Cấm bị cáo hành nghề kinh doanh trong thời gian từ 04 năm đến 05 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Buộc bị cáo Đặng Văn D nộp lại số tiền thu lợi bất chính 497.257.432 đồng để sung vào ngân sách nhà nước. Xác nhận bị cáo đã tự nguyện nộp vào Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Dũng số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) theo biên lai thu số 0002229 ngày 07/5/2024 để khắc phục hậu quả. Bị cáo còn phải nộp tiếp số tiền thu lời bất chính là 477.257.432 đồng (Bốn trăm bẩy mươi bẩy triệu, hai trăm năm mươi bẩy nghìn, bốn trăm ba mươi hai đồng).

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 dấu hình hộp vuông màu đỏ in tên “Công ty T.N.H.H DỊCH VỤ THƯƠNG MẠI VÀ XÂY DỰNG BẮC HẢI THỊNH”; 01 dấu đóng dạng hình hộp chữ nhật màu đỏ in tên “GIÁM ĐỐC ĐẶNG VĂN DƯỠNG”; 01 thiết bị chứa chữ ký số hình dạng USB màu bạc có lắp màu đen, kích thước 5,2cm x 1,7cm.

3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận.

Lời nói sau cùng: Bị cáo xin được hưởng hình phạt nhẹ nhất.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà; Trên cơ sở xem xét, đánh giá đầy đủ và toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa xét xử vụ án, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do vậy hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật.

[2] Về việc trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung: Quá trình giải quyết vụ án, ngày 28/9/2023 Hội đồng xét xử đã ban hành quyết định số 06/2023/HSST-QĐ trả hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng vì: “Có căn cứ cho rằng còn có đồng phạm khác hoặc có người khác thực hiện hành vi mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố vụ án, khởi tố bị can theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 280 Bộ luật Hình sự năm 2015”.

Tại Công văn số 54/CV-VKSYD ngày 21/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng trả lời “Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với Đặng Văn D theo Cáo trạng số 57 ngày 21/5/2023”.

Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 280 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, "Trường hợp Viện kiểm sát không bổ sung được những vấn đề mà Tòa án yêu cầu và vẫn giữ nguyên quyết định truy tố thì Tòa án tiến hành xét xử vụ án". Do vậy việc Tòa án tiếp tục đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

[3] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng:

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được tống đạt, triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại cho việc xét xử, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[4] Về hành vi phạm tội:

Theo các tài liệu đã được điều tra, thu thập có trong hồ sơ thể hiện:

Năm 2018, Đặng Văn D nảy sinh ý định thành lập Công ty trên địa bàn huyện Y, tỉnh Bắc Giang nhằm mục đích mua, bán trái phép hoá đơn giá trị gia tăng để kiếm lời. Sau khi nhờ người làm các thủ tục để thành lập và cấp phép, ngày 01/10/2018, Công ty của D đã được thành lập lấy tên là Công ty TNHH D3 và được Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh B cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên với mã số doanh nghiệp là 2400848341, có địa chỉ tại thôn P, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Sau khi thành lập Công ty, D không có bất kỳ hoạt động sản xuất, kinh doanh nào mà tiến hành mua, bán hoá đơn GTGT cho các cá nhân có nhu cầu với giá từ 3% đến 3,5% để kiểm lời, cụ thể:

Trong khoảng thời gian từ ngày 05/10/2018 đến 31/8/2020, Đặng Văn D đã mua bán trái phép 114 số hoá đơn giá trị gia tăng đã ghi nội dung. Trong đó: Mua 44 số hóa đơn GTGT với tổng số tiền ghi trên hóa đơn là 43.569.128.214 đồng và đã bán 70 số hóa đơn GTGT với tổng số tiền ghi trên hóa đơn là 68.898.791.364 đồng cho Công ty B4, Công ty X1, Công ty V1, Công ty T8, Công ty X2Công ty L2 thu lợi bất chính 497.257.432 đồng.

Căn cứ lời khai của bị cáo, lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, vật chứng bị thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy Đặng Văn D thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, bị cáo mua đi bán lại các loại hóa đơn, chứng từ vì mục đích vụ lợi trong khi biết rõ các hóa đơn, chứng từ này không được phép mua bán. Số lượng hóa đơn mua bán trái phép trên 30 số, số tiền thu lợi bất chính trên 100.000.000 đồng nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép hóa đơn” theo điểm d, đ khoản 2 điều 203 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước đối với các loại hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước; xâm phạm đến chế độ quản lý thuế của Nhà nước, cụ thể là hoạt động thu ngân sách nhà nước dẫn đến thất thu ngân sách, gây thiệt hại tiền thuế cho nhà nước. Do vậy cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục riêng cũng như để đấu tranh phòng ngừa đối với loại tội phạm này nói chung.

[5] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có thời gian tham gia quân đội (có Quyết định xuất ngũ), đã tự nguyện khắc phục một phần hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra nên được hưởng thêm hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Xét đề nghị của Viện kiểm sát về mức hình phạt thì thấy:

Bị cáo Đặng Văn D là người có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này thì bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật của Nhà nước, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân nơi cư trú, không vi phạm các điều mà pháp luật cấm, bị cáo chưa từng bị kết án hoặc bị xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật. Bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (01 tình tiết quy định tại khoản 1 Điều 51 và 02 tình tiết quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự), không có tình tiết tăng nặng; căn cứ Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tại Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo. Xét thấy bị cáo Đặng Văn D đủ điều kiện được hưởng án treo và chỉ cần cho bị cáo tự cải tạo tại địa phương cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành công dân biết tuân thủ pháp luật, không gây nguy hiểm, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Đề nghị của Viện kiểm sát về việc cho bị cáo được hưởng án treo là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về hình phạt bổ sung: Tội phạm này có quy định hình phạt bổ sung bằng tiền nhưng xét thấy bị cáo Đặng Văn D có hoàn cảnh gia đình khó khăn, đang nuôi con bị khuyết tật nặng (Giấy xác nhận khuyết tật số Km-HT-00002 do UBND phường H, thị xã K cấp ngày 06/5/2024), bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập nên xét thấy cần miễn phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo. Tuy vậy cần cấm bị cáo hành nghề kinh doanh trong thời gian nhất định để bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật như Viện kiểm sát đề nghị là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật.

[8] Về việc truy thu số tiền thu lợi bất chính từ mua bán trái phép hóa đơn và tiền trốn thuế:

Quá trình điều tra xác định Đặng Văn D đã thu lời bất chính từ việc mua bán trái phép hóa đơn là 497.257.432 đồng. Nay cần buộc bị cáo phải nộp lại số tiền trên để sung ngân sách nhà nước. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị cáo đã tự nguyện nộp vào Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Dũng số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) theo biên lai thu số 0002229 ngày 07/5/2024 để khắc phục hậu quả. Do vậy cần buộc bị cáo phải nộp tiếp số tiền thu lời bất chính là 477.257.432 đồng (Bốn trăm bẩy mươi bẩy triệu, hai trăm năm mươi bẩy nghìn, bốn trăm ba mươi hai đồng).

[9] Đối với những vấn đề khác:

Đối với Trương Văn A là người được Đặng Văn D nhiều lần thuê chở lên thành phố B. Dưỡng mượn Chứng minh nhân dân và nhờ Trương Văn A ký vào một số giấy tờ, nộp tiền, rút tiền hộ D. Quá trình điều tra xác định Trương Văn A không biết số tiền đó là do D mua bán trái phép hoá đơn mà có, mặt khác A khai cũng không biết D mua bán trái phép hoá đơn, và cũng không thực hiện bán bất kỳ hóa đơn GTGT nào của Công ty D3. Vì vậy Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý trách nhiệm đối với Trương Văn A là có căn cứ.

Đối với Trương Thị B: B không thừa nhận quen biết với Đặng Văn D, không tham gia vào việc mua bán trái phép hóa đơn của Đặng Văn D, không viết hoá đơn nào liên quan đến công ty D3 do Đặng Văn D làm Giám đốc. Do vậy cơ quan điều tra không xem xét, xử lý trách nhiệm đối với Trương Thị B. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để yêu cầu điều tra bổ sung đối với hành vi của Trương Thị B nhưng Viện kiểm sát vẫn giữ quyết định truy tố và không bổ sung thêm nội dung nào khác. Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 280 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Tòa án tiếp tục đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

Đối với Nguyễn Văn C1 là người được Đặng Văn D nhờ ký xác nhận một số loại giấy tờ, chứng từ. Các lần nhờ C1 ký giấy tờ thì D có trả công cho C1 tổng số tiền là 500.000 đồng. Quá trình điều tra xác định Nguyễn Văn C1 không biết gì về hoạt động của Công ty D3, không biết việc mua bán trái phép hóa đơn của Đặng Văn D. Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý trách nhiệm đối với Nguyễn Văn C1 là có căn cứ.

Đối với Hoàng Thị Hải Y là người được D thuê làm thủ tục để thành lập Công ty D3, thực hiện khai báo thuế GTGT và làm báo cáo tài chính cuối năm. Dựa vào các chứng từ của các quý và các thông tin do D cung cấp, Y làm báo cáo tài chính cho Công ty D3. Y không biết gì về hoạt động của Công ty D3 và không biết việc Đặng Văn D mua bán trái phép hóa đơn. Do vậy cơ quan điều tra không xử lý trách nhiệm hình sự đối với Hoàng Hải Y là có căn cứ.

Đối với Lê Văn H3 là người giới thiệu Đặng Văn D cho Y để thành lập công ty và cho D lấy địa chỉ trụ sở công ty tại nhà ở của mình. Quá trình điều tra xác định H3 không biết mục đích D thành lập công ty là để mua bán hoá đơn, H3 không liên quan trong các công việc của D, cơ quan điều tra không xem xét xử lý trách nhiệm đối với Lê Văn H3 là có căn cứ.

Đối với Đỗ Thị T7 là người có tên trong mục người bán hàng của công ty D4 nhưng T7 không làm việc cho công ty D5 và không liên quan trong việc mua bán trái phép hóa đơn giữa các công ty này, T7 cũng không quen biết với Đặng Văn D. Cơ quan điều tra không xem xét xử lý trách nhiệm đối với Đỗ Thị T7 là có căn cứ.

Đối với Phùng Đắc D1 là giám đốc Công ty B4: Quá trình điều tra, Phùng Đắc D1 khai không mua bán hoá đơn với công ty D3, ngoài ra không có căn cứ nào khác chứng minh liên hệ giữa Phùng Đắc D1 với hành vi mua bán trái phép hóa đơn của Đặng Văn D. Cơ quan điều tra không xem xét xử lý trách nhiệm đối với ông D1 là có căn cứ.

Đối với Nguyễn Thế T1 là giám đốc Công ty X1: Quá trình điều tra, Nguyễn Thế T1 khai không mua bán hoá đơn với công ty D3, ngoài ra không có căn cứ nào khác chứng minh liên hệ giữa Nguyễn Thế T1 với hành vi mua bán trái phép hóa đơn của Đặng Văn D. Cơ quan điều tra không xem xét xử lý trách nhiệm đối với ông T1 là có căn cứ.

Đối với Trần Thị Thu H, giám đốc Công ty V1: Quá trình điều tra, H khai không mua bán hoá đơn với công ty D3, ngoài ra không có căn cứ nào khác chứng minh liên hệ giữa H với hành vi mua bán trái phép hóa đơn của Đặng Văn D. Cơ quan điều tra không xem xét xử lý trách nhiệm đối với Trần Thị Thu H là có căn cứ.

Đối với Trần Thành H1 là giám đốc Công ty T8: Quá trình điều tra, H1 khai không mua bán hoá đơn với công ty D3, ngoài ra không có căn cứ nào khác chứng minh liên hệ giữa Trần Thành H1 với hành vi mua bán trái phép hóa đơn của Đặng Văn D. Cơ quan điều tra không xem xét xử lý trách nhiệm đối với ông H1 và đã có công văn kiến nghị tới Chi cục thuế khu vực của các công ty trên đến địa bàn tỉnh Quảng Ninh và tỉnh Hải Dương xem xét xử lý theo quy định. Hội đồng xét xử xét thấy việc xử lý như trên của cơ quan điều tra là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật nên không đặt ra giải quyết vấn đề này.

Đối với Ngô Sỹ T2 là Giám đốc công ty X2; Lê Thị T4 là Giám đốc công ty T11; Hoàng Thị T5 là Giám đốc công ty T12; Nguyễn Văn Đ1 là Giám đốc công ty K1; Bùi Thị H5 là Giám đốc Công ty T13; Trương Thị H6 là Giám đốc Công ty D5. Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã đến tiến hành xác minh tại địa chỉ trụ sở các Công ty này thì xác định: Đây đều là nhà ở của các hộ gia đình, không có bất kỳ hoạt động kinh doanh nào. Các hộ gia đình đều xác định trước đó có người đến hỏi thuê nhà, sau đó không ở và không có bất kỳ hoạt động kinh doanh nào. Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa làm việc được với giám đốc của các công ty này do những người này không có mặt tại nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và không xác định được đang ở đâu nên cơ quan điều tra chưa làm rõ được. Cơ quan điều tra tách tài liệu để tiếp tục điều tra, xác minh khi nào làm rõ được sẽ xử lý theo quy định của pháp luật. Xét thấy việc xử lý của Cơ quan điều tra là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết vấn đề này.

[10] Về xử lý vật chứng:

Đối với các hóa đơn, chứng từ, tài liệu do Đặng Văn D và các công ty liên quan giao nộp cần đưa vào lưu trữ cùng hồ sơ vụ án.

Đối với 01 dấu hình hộp vuông màu đỏ in tên “Công ty T.N.H.H DỊCH VỤ THƯƠNG MẠI VÀ XÂY DỰNG BẮC HẢI THỊNH”; 01 dấu đóng dạng hình hộp chữ nhật màu đỏ in tên “GIÁM ĐỐC ĐẶNG VĂN DƯỠNG”; 01 thiết bị chứa chữ ký số hình dạng USB màu bạc có lắp màu đen, kích thước 5,2cm x 1,7cm. Vật chứng là công cụ, phương tiện sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm d, đ khoản 2, khoản 3 Điều 203; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106; Điều 136; Điều 292; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Xử phạt Đặng Văn D 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Mua bán trái phép hóa đơn”, phải chịu thời gian thử thách là 05 (Năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 07/5/2024. Giao Đặng Văn D cho Ủy ban nhân dân phường H, thị xã K, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Buộc Đặng Văn D nộp lại số tiền thu lời bất chính là 497.257.432 đồng. Xác nhận bị cáo đã nộp 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) theo biên lai thu số 0002229 ngày 07/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Dũng. Bị cáo còn phải nộp tiếp số tiền là 477.257.432 đồng (Bốn trăm bẩy mươi bẩy triệu, hai trăm năm mươi bẩy nghìn, bốn trăm ba mươi hai đồng).

Cấm Đặng Văn D hành nghề kinh doanh trong thời hạn 03 (Ba) năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

- Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khởi nơi cư trú” đối với Đặng Văn D.

- Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

* Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách:

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 dấu hình hộp vuông màu đỏ in tên “Công ty T.N.H.H DỊCH VỤ THƯƠNG MẠI VÀ XÂY DỰNG BẮC HẢI THỊNH”; 01 dấu đóng dạng hình hộp chữ nhật màu đỏ in tên “GIÁM ĐỐC ĐẶNG VĂN DƯỠNG”; 01 thiết bị chứa chữ ký số hình dạng USB màu bạc có lắp màu đen, kích thước 5,2cm x 1,7cm.

(Đối với các hóa đơn, chứng từ, tài liệu do Đặng Văn D và các công ty liên quan giao nộp được lưu trữ cùng hồ sơ vụ án).

3. Về án phí: Bị cáo Đặng Văn D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6; 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - CQ.CSĐT Công an huyện Yên Dũng;
  • - VKSND huyện Yên Dũng;
  • - UBND phường Hiến Thành, thị xã Kinh Môn, Hải Dương
  • - Chi cục THADS huyện Yên Dũng;
  • - Bộ phận THAHS (Tòa án);
  • - Cổng thông tin điện tử tòa án;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thái Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 07/05/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang về hình sự sơ thẩm (tội mua bán trái phép hóa đơn)

  • Số bản án: 42/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Mua bán trái phép hóa đơn)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng Văn D bị Viện kiểm sát truy tố về tội “Mua bán trái phép hoá đơn” theo điểm d, đ khoản 2 điều 203 Bộ luât Hình sự.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger