Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NGỌC LẶC

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:42/2024/HS-ST

Ngày: 06 - 8 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Xuân Thành

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bùi Đăng Thảnh

2. Bà Hà Thị Hòa

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Quý Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa

- Đại diện VKSND huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Lê Thị T - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 45/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:42/2024/QĐXXST- HS ngày 19 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Văn N

- Sinh ngày 27/7/2005 tại huyện L, tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Giới tính Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa 10/12; Con ông: Lê Văn H - Sinh năm 1981 và bà Lê Thị K - Sinh năm 1982: Vợ, con chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/6/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa

- Người bào chữa cho bị cáo:

Ông Lê Ngọc H1 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc chi nhánh T4 pháp lý số 2 Trung tâm trợ giúp pháp lý, tỉnh Thanh Hóa.

Địa chỉ: Phố L, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

- Người làm chứng:

  • + Phạm Anh H2, sinh năm: 2006 (Vắng mặt)
  • Nơi cư trú: Khu phố C, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
  • + Phạm Văn B, sinh năm: 2006 (Vắng mặt)
  • Nơi cư trú: Khu phố T, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
  • + Phạm Minh T1, sinh năm: 2005 (Vắng mặt)

Nơi cư trú: Khu phố C, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tối ngày 18/7/2022, Lê Văn N, trú tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Thanh Hóa hẹn gặp Phạm Minh T1, trú tại khu phố C, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa đến cầu L thuộc khu phố T, thị trấn N, huyện N để giải quyết mâu thuẫn cá nhân trước đó. Khi đi N rủ Lê Văn X ở thôn C, xã Đ, huyện L; Lê Công V, sinh năm 2006; Lê Văn H3, sinh năm 2006 đều ở thôn T, xã T, huyện L; Lê Minh Q, sinh năm 2006; Lê Thanh H4 đều trú tại thôn Q, xã Đ, huyện L; Vì V trú tại thôn C, xã Đ, huyện L; Nguyễn Văn Đ trú tại thôn C, xã Đ, huyện L đi cùng đến địa điểm hẹn gặp T1. Trước khi đi, H3 chuẩn bị 03 gậy sắt đều có chiều dài khoảng 89cm, màu trắng bạc; Nhuận chuẩn bị 01 con dao (loại dao bài) dài khoảng 15cm đến 20cm, cán gỗ; 01 gậy baton dài khoảng 50cm. Nhóm N đi 04 (bốn) xe môtô, mỗi xe chở hai người.

Sau khi nghe điện thoại của N gọi cho mình với nội dung như trên thì Phạm Minh T1 kể lại mâu thuẫn giữa T1 và N cho Phạm Thúc H5, trú tại khu phố C, thị trấn N, huyện N biết, rủ H5 đi cùng T1 đến điểm hẹn để gặp N. Khi T1, H5 đi qua cầu L thì N chưa đến, nên T1, H5 ra ngã tư đèn tín hiệu giao thông (ngã tư giao nhau giữa đường H và Quốc lộ A) thuộc địa phận khu phố L, thị trấn N, huyện N đứng chờ Nhuận. Tại đây, T1 và H5 gặp Phạm Văn B, sinh ngày 27/12/2006, trú tại khu phố T, thị trấn N, huyện N điều khiển xe môtô BKS 36B3 - 285.31 chở Nguyễn Minh T2, trú tại thôn C, xã T, huyện T; H5 gọi B và Nguyễn Minh T2 lại, H5 nói với B “Có bọn Lang Chánh xuống, đứng đây với anh”, B hỏi H5 “Có chuyện gì”, Phạm Minh T1 đứng gần B, nói cho B biết việc đang chờ Nhuận đến để nói chuyện giải quyết mâu thuẫn, nghe T1 nói xong, B không nói gì nhưng vẫn đứng lại cùng với H5.

Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, T1 thấy nhóm N đi qua, chỉ cho B, H5 và Nguyễn Minh T2 biết mặt N. Nhuận không nhận ra nhóm T2 đang đứng bên đường nên vẫn tiếp tục điều khiển xe môtô đi đến điểm đã hẹn trước đó. Khi nhóm N đến cầu L thuộc địa phận phố T, thị trấn N, huyện N do không gặp Phạm Minh T1, nên N liền gọi điện và nhắn tin cho T1, nhưng T1 không trả lời. Lúc này, H5 điều khiển xe môtô chở Phạm Văn T3 đi trước, còn B điều khiển xe môtô chở Nguyễn Minh T2 theo sau, đi đến vị trí nhóm N đang dừng ở cầu L, thấy nhóm N đông quân số, nên H5 và B điều khiển xe đi qua nhóm Nhuận một đoạn đến Trung tâm giáo dục thường xuyên huyện N, B và H5 điều khiển xe vòng quay lại. Do nhóm N không gặp được T2, nên rủ nhau đi về, trước khi về N đưa hung khí cầm theo cho H3 cầm, còn N điều khiển xe môtô BKS 36H1 - 108.24 chở X đi trước. Khi H5 thấy nhóm N đi về nên gọi điện thoại cho Phạm Anh H2, sinh ngày 24/08/2006 ở khu phố C, thị trấn N, huyện N hỏi H2 “Cháu đang ở đâu”, H2 trả lời đang ở quán C gần siêu thị N1, H5 nói tiếp “Có bọn này gây sự đánh nhau, cháu đến cầu L đi”, B nghe thấy H5 gọi điện thoại cho H2, thì hỏi H5 vị trí của H2, H5 nói H2 đang ở quán trà chanh gần siêu thị, B điều khiển xe vượt lên xe của H5, đến chỗ của H2, còn H2 nghe H5 gọi xong, đi vào quán trà chanh gọi Nguyễn Văn Anh V1, sinh ngày 22/7/2006 ở cùng khu phố đi với H2 tìm H5, khi H2 điều khiển xe môtô BKS: 36K5 - 323.89 chở V1 ngồi sau đến cổng siêu thị N1, cùng lúc B đi đến, H2 hỏi B “Đi đâu đấy”, B trả lời “Vừa chỗ anh H5”. Lúc này, B thấy H5 và Phạm Minh T1 đang đi đến mình, B hô lên “Đuổi lên đánh, đuổi lên đánh”, rồi B điều khiển xe môtô BKS 36B3 - 285.31 chở anh Nguyễn Minh T2 đuổi theo nhóm của N, thấy B hô đuổi đánh, Phạm A H2 điều khiển xe môtô BKS: 36K5 - 323.89 chở V1 đi theo, còn H5 nói Phạm Minh T1 “Đi về thôi”, nhưng T1 nói H5 “Đi chậm xem sao”.

Đến khoảng 21 giờ, cùng ngày xe môtô của B, H2 đuổi theo đến cây xăng L thuộc địa phận khu phố T, thị trấn N, huyện N thì gặp nhóm của N đang đi về; B, H2 áp sát xe môtô BKS 36H1 - 108.24 do N điều khiển chở X ngồi sau, rồi B và H2 chửi bới Nhuận, yêu cầu N dừng xe lại, nhưng N không trả lời điều khiển xe bỏ chạy về hướng huyện L. Thấy vậy, B và H2 điều khiển xe môtô theo sau xe của Nhuận theo đường Quốc lộ 15A hướng từ huyện N đi huyện L. Trong quá trình điều khiển xe đi trên đường, N điều khiển xe lạng lách, đánh võng từ bên trái sang bên phải đường, rồi từ phải sang trái đường mục đích không cho xe của B và H2 vượt lên, còn H2 và B đi sau Nhuận lạng lách, đánh võng trên đường tìm cách đuổi kịp, để vượt xe của N với mục đích chặn xe Nhuận lại. Hai bên chạy đuổi nhau trên đường, đến địa phận khu phố V, thị trấn N, huyện N, ba xe môtô do N, B và H2 điều khiển đang đi ở phần đường bên phải và đi theo thứ tự (tính theo hướng từ huyện N đi huyện L): xe môtô BKS 36H1-108.24 do Nhuận điều khiển chở anh X đi đầu, xe môtô BKS: 36K5323.89 do H2 điều khiển chở anh V1 đi thứ hai, xe môtô BKS 36B3-285.31 do B điều khiển chở anh Nguyễn Minh T2 đi thứ ba, do có 01 xe ôtô đang đi ở phía trước, cùng chiều với hướng chạy đuổi của N, B và H2, thì N điều khiển xe môtô rẽ trái vượt lên xe ôtô phía trước, nhưng không được nên N đã giảm tốc độ xe và đi vào phần đường bên phải theo hướng di chuyển của mình. Ngay lúc này, H2 đang đi sau cách xe của Nhuận khoảng 02 (hai) mét, H2 tăng ga xe và sang trái vượt xe của N, trong lúc xe của H2 đang vượt xe của N thì gặp xe máy (không có biển số xe) do anh Lê Minh Q1, sinh năm 2007 ở khu phố N, thị trấn N, huyện N điều khiển chở anh Bùi Tuấn M, sinh năm 2007 ở thôn M, xã M, huyện N đang đi ngược chiều với H2 và xe của H2 đã xảy ra va chạm với xe của anh Q1, sau va chạm với xe của H2, xe anh Q1 tiếp tục va chạm với xe của N và B đang đi bên phải đường, dẫn đến tai nạn giao thông.

Hậu quả: Lê Minh Q1 chết tại hiện trường, anh Bùi Tuấn M bị thương phải cấp cứu tại bệnh viện Đ1, sau đó chuyển đến bệnh viện đa khoa tỉnh T điều trị. Đến ngày 25/7/2022 anh Bùi Tuấn M chết. Còn N, X, B, T2, V1 bị thương được đưa đi điều trị tại Bệnh viện Đ1.

*Tại bản kết luận giám định số: HP 212/2022/TTPY ngày 18/8/2022 của Trung tâm P kết luận.

“Dấu hiệu chính qua giám định:

  • + Không có E, M1.
  • + Amphetamin, M2: Dương tính.

Kết luận:

+ Mẫu máu của Lê Văn N gửi giám định pháp y về hóa pháp: Không có cồn E, M1; Có ma túy tổng hợp A1, M2”.

* Kết quả trưng cầu pháp y về thương tích:

- Ngày 19/9/2022, Cơ quan điều tra đã ra các Quyết định trưng cầu giám định pháp y về thương tích đối với Lê Văn X, Phạm Văn B, Nguyễn Minh T2, Phạm Anh H2, Nguyễn Văn Anh V1 tuy nhiên X, B, Nguyễn Minh T2, H2, V1 kiên quyết từ chối đi giám định pháp y về thương tích, cam đoan không có thắc mắc hay khiếu kiện gì thêm.

- Tại Bản kết luận giám định số 1002/2022/TTPY ngày 17/10/2022 của Trung tâm P kết luận: “Tại thời điểm giám định pháp y về thương tích: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Lê Văn N được tính theo phương pháp xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể (Cộng theo phương pháp xác định tỷ lệ % TTCT quy định tại Điều 4 - Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y) là 45%,

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

Các xe môtô BKS: 36K5 - 323.89; môtô BKS: 36H1 - 108.24; môtô BKS: 36B3 - 285.31 và xe mô tô không biển kiểm soát cùng các giấy tờ có liên quan trong quá trình điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp không biết H2, Q1, N, B sử dụng xe để tham gia giao thông và xe mô tô không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp theo quy định pháp luật.

Hai gậy sắt ông Lê Anh Q2 trú tại khu phố T, thị trấn N, huyện N ngày 19/7/2022 đi bộ thể dục trên đường A lấy về nhà, ông Q2 đã giao nộp lại cho Cơ quan CSĐT Công an huyện N đang tạm giữ tại kho vật chứng chờ chuyển Chi cục Thi hành án dân sự để giải quyết theo quy định pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra đến nay các bên đã thỏa thuận xong về phần dân sự đồng thời cam kết không thắc mắc, khiếu kiện gì thêm.

Bản cáo trạng số 47/CT-VKS - NL ngày 28/6/2024 của VKSND huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Lê Văn N về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Ngọc Lặc giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Văn N phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”; Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1, Điều 51, Điều 90, 91, 101và Điều 65 BLHS. Đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Lê Văn N từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 (mười tám) đến 24 (hai mươi tư) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Lê Văn N cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã tự thỏa thuận bồi thường xong đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX tịch thu tiêu hủy 02 ống tuýt bằng kim loại, có 2 đầu hình vuông cạnh 2 cm, có cùng chiều dài là 89cm, màu trắng bạc.

Đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

* Quan điểm của ông Lê Ngọc H1, trợ giúp viên pháp lý, người bào chữa cho bị cáo như sau:

Thống nhất với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh cũng như điều luật áp dụng, mức hình phạt của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hành vi phạm tội của bị cáo, để lên cho bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội của mình đã gây ra, bị cáo còn trẻ tuổi nhân thân không có tiền án, tiền sự, tính đến thời điểm phạm tội bị cáo là người chưa thành niên nên đề nghị HĐXX áp dụng các quy định pháp luật cho người chưa thành niên. Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại phiên tòa quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo nên đề nghị hội đồng xét xử áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xem xét giảm nhẹ cho cho bị cáo một phần hình phạt, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, sau khi phạm tội luôn chấp hành chủ chương chính sách pháp luật của Nhà nước, do đó đề nghị HĐXX xem xét mức án phù hợp, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát giáo dục để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi làm thành người công dân có ích cho xã hội, để bị cáo thấy được tính khoan hồng của pháp luật. Bị cáo thuộc hộ gia đình nghèo, cận nghèo có giấy chứng nhận đề nghị miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Về các nội dung khác của vụ án người bào chữa hoàn toàn thống nhất và không có ý kiến gì. Đề nghị hội đồng xét xử xem xét.

Bị cáo thống nhất với bản luận tội, thống nhất với lời bào chữa không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, trong lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội:

Khoảng 21 ngày 18/7/2022, Lê Văn N, Phạm Anh H2 và Phạm Văn B có hành vi dùng xe môtô lạng lách, đánh võng, lùa đuổi nhau trên đường Q thuộc khu phố T, thị trấn N, huyện N dẫn đến tai nạn giao thông làm anh Lê Minh Q1 bị tử vong, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng”, quy định tại khoản 1 Điều 318 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo có đủ dấu hiệu cấu thành tội "Gây rối trật tự công cộng" theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự.

Vì vậy VKSND huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo Lê Văn N về tội "Gây rối trật tự công cộng" theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy rằng; chỉ vì mâu thuẫn nhỏ mà bị cáo đã có hành vi dùng xe mô tô lùa đuổi nhau trên đường, lạng lách đánh võng khi tham gia giao thông, uy hiếp sự an toàn của người khác tại nơi công cộng, làm ảnh hưởng đến những người tham gia giao thông, tuy hành vi của bị cáo không gây ra cái chết trực tiếp cho anh Lê Minh Q1 và anh Bùi Tuấn M nhưng về mối quan hệ nhân quả hành vi của bị cáo cũng là một phần gây ra hậu quả trên. Hành vi của bị cáo xâm phạm an toàn công cộng, làm mất an ninh trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng đến các quy tắc sinh hoạt ở nơi công cộng, vi phạm nếp sống văn minh, quy tắc ứng xử trong cuộc sống, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của người dân, gây hoang mang lo sợ cho mọi người nơi xảy ra tội phạm. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Vì vậy, cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Đánh giá về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt:

Từ những phân tích, đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử, xét thấy: Bị cáo Lê Văn N có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng và có khả năng tự cải tạo, tính đến thời điểm phạm tội bị cáo mới 16 tuổi 11 tháng 21 ngày do đó khi xem xét hình phạt đối với bị cáo HĐXX cần căn cứ vào các Điều 90, 91 và 101 của Bộ luật hình sự để lên cho bị cáo một hình phạt tương xứng, xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, xử cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ điều kiện để giáo dục, răn đe bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội, đồng thời thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

[6] Đối với hành vi điều khiển xe môtô gây tai nạn giao thông.

[6.1] Phạm A H2 là người điều khiển xe môtô BKS: 36K5 - 323.89 không có giấy phép lái xe, đi lấn sang phần đường ngược chiều đã xảy ra va chạm với xe máy không gắn biển kiểm soát do anh Lê Minh Q1 điều khiển đang đi ở phần đường bên phải theo chiều di chuyển của mình. Ngay sau va chạm, xe máy không biển kiểm soát do Lê Minh Q1 điều khiển bị mất lái nên tiếp tục va chạm với xe môtô BKS 36H1 - 108.24 do Lê Văn N điều khiển và xe môtô BKS 36B3 - 285.31 do Phạm Văn B điều khiển, đều đang đi ở phần đường bên phải hướng di chuyển của mình xảy ra tai nạn giao thông. Vì vậy, lỗi trong vụ tai nạn giao thông nêu trên thuộc về Phạm Anh H, còn anh Q1, N và B không có lỗi. Khi điều khiển xe tham gia giao thông H2 chưa đủ độ tuổi để lái xe mô tô theo quy định. Hành vi điều khiển xe môtô tham gia giao thông nêu trên của Phạm Anh H2, đã vi phạm khoản 1 Điều 58 và khoản 1 Điều 9; khoản Điều 60 Luật giao thông đường bộ.

[6.2] Khi tai nạn xảy ra, hậu quả anh Lê Minh Q1 tử vong tại hiện trường và anh Bùi Tuấn M tử vong trong quá trình điều trị tại Bệnh viện, Lê Văn N tổn thương cơ thể là 45%, thiệt hai tài sản tổng giá trị 13.410.000đồng. Do đó, hành vi của Phạm Anh H2 đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, tại thời điểm xảy ra vụ tai nạn, Phạm A H2 mới 15 tuổi 10 tháng 24 ngày (Hiếu sinh ngày 24/8/2006), chưa đủ 16 tuổi, căn cứ khoản 2 Điều 12 Bộ luật hình sự H2 chưa đủ tuổi để truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng cần xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng đối với H2 theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Luật xử lý vi phạm hành chính. Tuy nhiên, đến nay đã hết thời hiệu xử lý vi phạm hành chính được quy định tại khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính nên không xem xét xử lý H2 là phù hợp với quy định của pháp luật.

[7] Đối với hành vi điều khiển xe môtô đuổi nhau trên đường:

[7.1] Đối với hành vi của Phạm Minh T1: Không có lời nói hay hành động xúi giục B và H2 đuổi đánh nhóm của N. Trong quá trình B, H2 điều khiển xe mô tô lùa đuổi Nhuận thì Phạm Minh T1 không tham gia cùng cũng như không lôi kéo, xúi giục B, H2 đuổi theo N. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an huyện N không đủ căn cứ để khởi tố Phạm Minh T1 đồng phạm trong vụ án trên.

[7.2] Đối với hành vi của Nguyễn Văn Anh V1: Không biết H5 rủ H2 đi đánh nhau và không biết mâu thuẫn của Phạm Văn T3 và N, hơn nữa trong quá trình V1 ngồi sau xe nói H2 đi chậm dừng lại cho anh V1 xuống, nhưng H2 không nghe vẫn tiếp tục đuổi theo N, cũng như khi H2, B và N đuổi nhau trên đường, V1 không có hành động hay lời nói giúp sức H2 đuổi theo N. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an huyện N không đủ căn cứ khởi tố Nguyễn Văn Anh V1 đồng phạm trong vụ án trên.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Về xử lý vật chứng: 02 ống tuýt bằng kim loại, có 2 đầu hình vuông cạnh 2 cm, có cùng chiều dài là 89cm, màu trắng bạc. Là vật chứng có liên quan đến vụ án hiện tại không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[10] Về án phí: Do bị cáo thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo nên miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 318, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 90, 91 101 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố: Lê Văn N phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Xử phạt bị cáo Lê Văn N 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Lê Văn N cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách của án treo nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về trách nhiện dân sư: Không xem xét.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu huỷ 02 ống tuýt bằng kim loại, có 2 đầu hình vuông cạnh 2 cm, có cùng chiều dài là 89cm, màu trắng bạc.

Hiện vật chứng, tài sản đang được nhập kho Chi cục thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa theo phiếu nhập kho và lệnh nhập kho số : NK 2024/048 ngày 28/6/2024.

4. Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 136; 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Về án phí: Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lê Văn N.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - VKSND huyện Ngọc Lặc;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Ngọc Lặc;
  • - Cơ quan THAHS huyện Ngọc Lặc;
  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - Chi cục THADS huyện Ngọc Lặc;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Xuân Thành

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Đăng Thảnh

Hà Thị Hòa

Phạm Xuân Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HÓA về hình sự: gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 42/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án Hình sự gây rồi trật tự công cộng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger