TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 42/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 06-8-2024
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Vũ Hòa Ân;
- Ông Trương Hữu Bình.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thọ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình– Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương. Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 170/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lý Thị Thu L, sinh năm 1992; địa chỉ thường trú: Ấp C, xã B, huyện D, tỉnh Tây Ninh.
- Bị đơn: Ông Đặng Ngọc Huy V, sinh năm 1988; địa chỉ thường trú: Ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương.
Nguyên đơn bà L vắng mặt tại phiên toà và đã có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn ông V được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện ngày 18/3/2024 và quá trình tiến hành tố tụng, nguyên đơn bà L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Lý Thị Thu L và ông Đặng Ngọc H V chung sống với nhau từ năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện D, tỉnh Tây Ninh theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 10, ngày 27 tháng 02 năm 2013. Trong quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên gây gổ, xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng trong quan điểm sống, giữa vợ chồng sống chung không còn tình cảm, không có hạnh phúc. Vì vậy, bà L yêu cầu được ly hôn với ông V.
Về con chung: Giữa bà L và ông V có 01 con chung tên Đặng Vũ Nhật H1, sinh ngày 04/8/2013. Bà L yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà L không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chứng cứ nguyên đơn bà L cung cấp: Đơn xin ly hôn ngày 18/3/2024; bản tự khai; bản gốc giấy chứng nhận kết hôn; bản sao căn cước công dân của bà L; xác nhận thông tin cư trú; bản sao giấy khai sinh Đặng Ngọc Huy V, đơn yêu cầu Tòa án hỗ trợ trong việc gửi tài liệu, chứng cứ; đơn yêu cầu không Hòa giải; bản photo hợp đồng lao động.
Quá trình tiến hành tố tụng, tại Biên bản lấy lời khai ngày 03/6/2024, bị đơn ông V trình bày:
Ông V và bà L có mối quan hệ là vợ chồng, chung sống với nhau từ năm 2013, có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện D, tỉnh Tây Ninh. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống cùng với mẹ là bà Phạm Thị S tại ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương; sau đó một thời gian thì vợ chồng về nhà cha mẹ vợ tên Nguyễn Thị K tại ấp C, xã B, huyện D, tỉnh Tây Ninh để sống. Vợ chồng thường xuyên sống tại 02 nơi, bên nội và bên ngoại. Ông V không biết lý do vì sao mà bà L lại làm đơn khởi kiện, yêu cầu được ly hôn. Trong cuộc sống hàng ngày, vợ chồng không có cãi lộn hay đánh lộn gì với nhau, cũng không có mâu thuẫn gì lớn. Trước đây, bà L có làm đơn ly hôn nộp tại Tòa án nhưng sau đó đã rút đơn ly hôn, lấy lại hồ sơ. Hiện nay, ông V và bà L không còn chung sống với nhau. Khoảng 02 tháng nay, bà L về nhà cha mẹ đẻ tại ấp C, xã B, huyện D,tỉnh Tây Ninh để sinh sống; ông V ở nhà mẹ tại ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương để sống. Vợ chồng cũng hay nói chuyện với nhau nhưng nói chuyện là gây lộn, cãi lộn với nhau. Riêng cháu Nhật H1 thì vẫn ở cả nhà nội và ngoại. Ông V không đồng ý ly hôn vì thấy rằng mình vẫn còn thương yêu bà L, mong muốn vợ chồng hàn gắn tình cảm để chung sống với nhau, cùng nhau nuôi dạy con.
Ông V và bà L có 01 con chung tên Đặng Vũ Nhật H1, sinh năm 2013. Do không đồng ý ly hôn nên về việc ai sẽ là người nuôi dưỡng con chung khi vợ chồng ly hôn và việc cấp dưỡng nuôi con thì ông V không có ý kiến.
Về tài sản chung, nợ chung, ông V không ý kiến, không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chứng cứ bị đơn ông V cung cấp: Không
Kết quả xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án:
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 03/6/2024 của TAND huyện Dầu Tiếng, bà Phạm Thị S là mẹ của ông Đặng Ngọc H V trình bày: Hiện nay bà L và ông V không còn sống chung với nhau.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng có ý kiến:
Quá trình tố tụng cũng như diễn biến tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đã thực hiện đầy đủ việc tống đạt các văn bản tố tụng cho các bên đương sự. Tại phiên tòa, nguyên đơn bà L vắng mặt tại phiên toà và đã có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn ông V được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ các Điều 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị xét xử vắng mặt đương sự theo quy định. Không kiến nghị khắc phục, bổ sung các thủ tục tố tụng. Quan hệ pháp luật là ly hôn, tranh chấp nuôi con chung. Đề nghị, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Từ những tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ. Sau khi nghe lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định,
- Về thẩm quyền giải quyết: Bà Lý Thị Thu L khởi kiện, yêu cầu được ly hôn, nuôi con chung với ông Đặng Ngọc Huy V. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án có quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; bị đơn ông Đặng Ngọc Huy V có nơi cư trú tại ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương nên căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
- Về sự có mặt của đương sự tại phiên tòa: Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, nguyên đơn bà L vắng mặt tại phiên toà và đã có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn ông V được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ quy định tại các Điều 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đương sự theo quy định của pháp luật.
- Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà L:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà L và ông V tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện D, tỉnh Tây Ninh vào ngày 27 tháng 02 năm 2013 nên quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận. Theo bà L, quá trình chung sống, vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn không thể hòa giải được với nhau, hiện nay bà L và ông V đã không còn chung sống cùng nhau, bà L kiên quyết ly hôn với ông V. Ông V không đồng ý ly hôn vì cho rằng vẫn còn thương yêu bà L, mong muốn vợ chồng hàn gắn tình cảm để chung sống với
nhau; đồng thời ông V cũng thừa nhận việc vợ chồng hiện nay không còn chung sống cùng nhau, vợ chồng cũng hay nói chuyện với nhau nhưng nói chuyện là gây lộn, cãi lộn với nhau. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa bà L và ông V đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà L được ly hôn với ông V theo quy định tại các Điều 19 và 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về con chung: Giữa bà L và ông V có 01 con chung tên Đặng Vũ Nhật H1, sinh ngày 04/8/2013. Xét thấy, cháu H1 đang do bà L nuôi dưỡng, cháu có nguyện vọng được ở với mẹ là bà L, đồng thời hiện nay bà L có công việc (Công nhân Công ty Cổ phần C), có thu nhập nên có điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Vì vậy, cần giao cho bà L nuôi dưỡng con chung Đặng Vũ Nhật H1, sinh ngày 04/8/2013. Bà L không yêu cầu ông V phải cấp dưỡng nuôi con chung, đây là sự tự nguyện của bà L nên ghi nhận.
- Về tài sản chung, nợ chung: Các bên đương sự đều xác định không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Các bên đương sự được quyền khởi kiện tại một vụ án khác nếu sau này có phát sinh tranh chấp.
- Ý kiến của bị đơn ông V về việc không đồng ý ly hôn, không có ý kiến về con chung là không phù hợp như đã nhận định ở trên nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng về quá trình tiến hành tố tụng, diễn biến tại phiên tòa cũng như nội dung giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Bà L phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 238, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Căn cứ vào các Điều 19, 51, 53, 56, 81, 82, 83, 84, 85, 107 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung” của bà Lý Thị Thu L đối với ông Đặng Ngọc Huy V, cụ thể như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lý Thị Thu L được ly hôn với ông Đặng Ngọc Huy V.
- Về con chung và cấp dưỡng nuôi con:
Giao con chung tên Đặng Vũ Nhật H1, sinh ngày 04/8/2013 cho bà Lý Thị Thu L chăm sóc, nuôi dưỡng.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà Lý Thị Thu L về việc không yêu cầu ông Đặng Ngọc Huy V phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Hai bên được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định pháp luật. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.
- Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không tranh chấp nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Bà Lý Thị Thu L phải chịu toàn bộ số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0004976 ngày 15/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương, bà Lý Thị Thu L đã nộp xong.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Tùng |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
Nguyễn Thị Kim Phi | Trần Thị Phương Trang | Trần Văn Tùng |
Bản án số 42/2024/HNGĐ-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung
- Số bản án: 42/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lý Thị Thu L-Đặng Ngọc Huy V ly hôn
