TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 42/2024/HS-ST Ngày: 06-5-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Phong Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phan Văn Mẫn;
- Ông Đặng Thế Ứng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Nhàn - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Đặng Duy Thanh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Vương A (tên gọi khác: Không), sinh ngày 09 tháng 9 năm 1995, tại tỉnh Tiền Giang;
- Nơi cư trú: Ấp R, xã M, thị xã C, tỉnh Tiền Giang;
- Nghề nghiệp: Không;
- Trình độ văn hoá (học vấn): 07/12;
- Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
- Con ông Lê Văn L và bà Võ Thị T;
- Bị cáo chưa có vợ, con;
- Tiền án: Không có;
- Tiền sự: Ngày 11/11/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 15 tháng theo Quyết định số 983/2020/QĐ-TA. Chấp hành xong quyết định ngày 12/11/2021;
- Bị cáo bị tạm giữ ngày 10/5/2022, chuyển tạm giam từ ngày 13/5/2022. Đến ngày 07/07/2022, Viện kiểm sát nhân thị xã C ra Quyết định hủy bỏ biện pháp tạm giam đưa đi bắt buộc chữa bệnh đối với Lê Vương A.
- Bị cáo tiếp tục bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt bị cáo để tạm giam từ ngày 24/11/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thị xã C.
- Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại:
- Võ Thị N, sinh năm 1979; (có mặt)
- Phạm Thị T1, sinh năm 1972; (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp R, xã M, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
Địa chỉ: Ấp R, xã M, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Vương A, sinh ngày 09/9/1995, cư ngụ ấp R, xã M, thị xã C, tỉnh Tiền Giang là đối tượng nghiện ma túy. Tối ngày 08/5/2022, A một mình uống rượu tại nhà, đến khoảng 02 giờ 30 phút ngày 09/5/2022, do đã uống nhiều rượu nên A nảy sinh ảo giác cho rằng chị Võ Thị N, sinh năm 1979, cư ngụ ấp R, xã M, thị xã C, tỉnh Tiền Giang (chị họ của A) là ma quỷ, thường xuyên nhập vào A để quậy phá nên A đi đến khu vực bếp sau nhà lấy một cái dao loại dao Thái Lan, dài khoảng 40cm, dùng để thái thịt, A cầm dao trên tay, đi bộ đến nhà chị N. Khi đến nơi, A gõ cửa thì bà Phan Thị L1, sinh năm 1954, cùng nơi cư trú và là mẹ ruột của chị N ra mở cửa, A cầm theo dao đi đến vị trí giường ngủ của chị N rồi cầm dao chém về phía chị N nhiều cái, chị N giơ tay lên đỡ làm lưỡi dao trúng vào tay phải của chị N 01 cái gây thương tích.
Sau khi chém chị N xong, A cầm dao bỏ chạy ra ngoài hướng đi xã M, thị xã C, tỉnh Tiền Giang khi đến cầu bê tông nối ấp R, xã M, thị xã C, tỉnh Tiền Giang với ấp M, xã M, thị xã C, tỉnh Tiền Giang thì A nhìn thấy bà Phạm Thị T1, sinh năm 1972, cư ngụ ấp R, xã M, thị xã C, tỉnh Tiền Giang đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius biển số 63M2- 2070 chạy đến. A xông đến tay trái cầm dao chặn xe bà T1 lại, A nói lớn: “tao kiếm thằng Minh C và thằng D để tao chém”, bà T1 trả lời “tôi không biết”, An chửi và cầm dao đuổi chém, bà T1 hoảng sợ bỏ chạy về hướng ngược lại khoảng 10 mét, A quay trở lại lên xe của bà T1, khởi động xe chạy về đường H hướng đi vòng xoay huyện T, tỉnh Tiền Giang. Trên đường đi, A dừng xe lại, ném dao dùng chém chị N và dọa chém bà T1 xuống sông (không xác định được địa điểm, hiện không thu giữ được), đồng thời kiểm tra túi nhựa bà T1 treo trên xe thì phát hiện bên trong có một điện thoại di động hiệu OPPO A53, khoảng 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) tiền Việt Nam và một số giấy tờ khác. A lấy điện thoại di động và tiền bỏ vào túi quần, sau đó ném túi nhựa xuống sông. A tiếp tục điều khiển xe chạy đến khu vực vòng xoay huyện T thì xe hết xăng nên A bỏ xe lại trước cửa quán ăn của chị Nguyễn Thị Hồng T2, sinh năm 1995 cư ngụ ấp M, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang, sau đó A đi bộ về nhà.
Đến khoảng 05 giờ sáng cùng ngày, A về đến nhà tại ấp R, xã M, thị xã C, tỉnh Tiền Giang, A đem điện thoại di động và tiền đã cướp được của bà T1 giấu dưới tấm nệm trong phòng ngủ rồi lấy ma túy đá được đựng trong túi nylon mà A đã mua trước đó ra sử dụng nhưng chưa sử dụng thì lực lượng Công an xã M đến mời A lên làm việc, A bỏ chạy vào nhà, khóa trái cửa và cố thủ trong nhà. Sau nhiều giờ thuyết phục nhưng A không hợp tác. Đến 15 giờ cùng ngày Công an thị xã C phân công lực lượng cắt cửa vào nhà bắt giữ Lê Vương A.
* Vật chứng thu giữ
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại sirius màu đỏ đen gắn biển số 63M2-2070;
- 01 điện thoại Oppo A53 màu xanh đen;
- Tiền Việt Nam 3.160.000 đồng;
- 01 túi nylon được hàn kín hai đầu bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng, nghi là ma túy;
- 01 nỏ thủy tinh dùng sử dụng ma túy.
* Kết luận giám định pháp y về thương tích số 137 ngày 11/5/2022 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh T kết luận tỷ lệ thương tật của chị Võ Thị N là 2%.
* Kết luận giám định số 49 ngày 11/5/2022 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: các mẫu tinh thể trong gói nylon gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1249 gam, loại Methamphetamine.
* Kết luận định giá tài sản số 37 ngày 12/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã C kết luận tài sản bị chiếm đoạt gồm:
- 01 xe môtô nhãn hiệu Yamaha biển số 63M2-2070 trị giá 2.000.000 đồng.
- 01 điện thoại di động hiệu Oppo A53 màu xanh đen trị giá 2.400.000 đồng.
- 01 sim điện thoại số 0345.280.xxx trị giá 25.000 đồng.
- 01 ốp lưng điện thoại dạng trong suốt đã ngã màu trị giá 15.000 đồng.
- 01 túi nhựa hình vuông không rõ kích thước trị giá 15.000 đồng.
- 01 tờ tiền mệnh giá 2USD trị giá 45.000 đồng.
Tổng cộng: 4.500.000 đồng.
* Kết luận giám định pháp y tâm thần số 159 ngày 21/6/2022 của Trung tâm P, như sau:
- Về y học: trước, trong, sau các thời điểm phạm tội và hiện tại: Rối loạn loạn thần do sử dụng nhiều loại ma túy và các chất tác động tâm thần khác (F19.5-ICD10);
- Về năng lực: tại các thời điểm phạm tội và hiện tại: Đương sự mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
* Ngày 07/7/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C tiến hành đưa Lê Vương A đi điều trị bắt buộc chữa bệnh tại Viện pháp y tâm thần trung ương B. Đến ngày ngày 22/9/2023, Viện pháp y tâm thần trung ương B có kết luận giám định pháp y tâm thần sau thời gian điều trị bắt buộc số 693/KLBB-VPYTW ngày 22/9/2023 của Lê Vương A như sau: Hiện tại bệnh đã ổn định, không cần thiết điều trị bắt buộc nữa. Đương sự có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi để làm việc với cơ quan pháp luật”.
* Về xử lý vật chứng của cơ quan điều tra: Ngày 19/5/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C, tỉnh Tiền Giang đã tiến hành trả lại các tài sản gồm 01 xe mô tô loại sirius màu đỏ đen gắn biển số 63M2- 2070; 01 điện thoại Oppo A53 màu xanh đen (kèm theo sim điện thoại và ốp lưng) và tiền Việt Nam 3.160.000 đồng cho chủ sở hữu là bà Phạm Thị T1.
* Về trách nhiệm dân sự:
- Bị hại chị Võ Thị N đã được bà Võ Thị T, sinh năm 1969 là mẹ ruột của bị cáo Lê Vương A hỗ trợ số tiền 3.000.000 đồng, chị N đã nhận số tiền trên và yêu cầu giải quyết vấn đề dân sự khi vụ án được đưa ra xét xử.
- Bị hại bà Phạm Thị T1 đã nhận lại các tài sản do bị cáo A chiếm đoạt, đối với các tài sản khác bà T1 không yêu cầu bồi thường về dân sự.
* Cáo trạng số 27/CT-VKSTXCL ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Lê Vương A để xét xử về các tội “Cố ý gây thương tích”, “Cướp tài sản” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134, điểm d khoản 2 Điều 168 và điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
* Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang giữ quyền công tố, trình bày tranh luận và luận tội:
- Giữ nguyên cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Lê Vương A;
- Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thoả thuận giữa bị cáo Lê Vương A và bị hại chị Võ Thị N về việc bị cáo Lê Vương A đồng ý bồi thường cho chị Võ Thị N số tiền là 50.000.000 đồng.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy đối với 01 (một) bì thư được niêm phong có nội dung vụ số: 49 ghi ngày 11 tháng 5 năm 2022 và có dấu đỏ hình tròn với nội dung: PHÒNG K - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG và 01 (một) nỏ thuỷ tinh dùng sử dụng ma tuý.
- Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo đúng như Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang đã truy tố. Đồng thời, bị cáo không có ý kiến gì về các kết luận giám định, xử lý vật chứng của cơ quan điều tra cũng như đề nghị xử lý vật chứng, mức hình phạt của Viện kiểm sát.
- Ý kiến tranh luận của bị cáo: Không có ý kiến tranh luận và thống nhất đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
- Ý kiến tranh luận của bị hại chị Võ Thị N: Không.
- Lời nói sau cùng của các bị cáo: Bị cáo đã ăn năn, hối hận về hành vi của mình. Xin được hưởng hình phạt nhẹ nhất để sớm về đoàn tụ với gia đình và làm lại cuộc đời.
- Tuyên bố bị cáo Lê Vương A phạm các tội “Cố ý gây thương tích”, “Cướp tài sản” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng Điều 38; điểm b, q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 134, điểm d khoản 2 Điều 168 và điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Vương A từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; từ 07 năm đến 08 năm tù về tội “Cướp tài sản” và từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt chung, buộc bị cáo phải chấp hành từ 08 năm 06 tháng đến 10 năm 03 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử:
- Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên - Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thị xã C, tỉnh Tiền Giang; Kiểm sát viên - Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan Cảnh sát Điều tra và Viện kiểm sát thu thập là hợp pháp.
- Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Như vậy, hành vi và quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của những người được triệu tập tại phiên tòa:
- Bị hại bà Phạm Thị T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy, bà T1 đã nhận lại toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt, đã có đơn bãi nại trách nhiệm dân sự đối với bị cáo và không có yêu cầu gì khác. Vì vậy, việc vắng mặt của bà T1 tại phiên tòa không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại bà Phạm Thị T1 theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay cho thấy:
Vào khoảng 02 giờ 30 phút ngày 09/5/2022 tại ấp R, xã M, thị xã C, tỉnh Tiền Giang, bị cáo Lê Vương A đã có hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm chém trúng vào tay phải của chị Võ Thị N 01 cái gây thương tích với tỷ lệ thương tích là 02%. Sau đó, A tiếp tục chạy đến khu vực cầu M - Rạch T thuộc ấp M, xã M, thị xã C, tỉnh Tiền Giang dùng dao đe dọa bà Phạm Thị T1 bỏ chạy để chiếm đoạt tài sản của bà T1 với tổng giá trị là 7.660.000 đồng. Ngoài ra, khi lực lượng Công an đến nhà của Lê Vương A ở ấp R, xã M, thị xã C, tỉnh Tiền Giang thì phát hiện A có hành vi tàng trữ trái phép ma tuý loại Methamphetamine với tổng khối lượng là 0,1249 gam nhằm mục đích sử dụng.
[3.2] Tại phiên tòa, bị cáo Lê Vương A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp lời khai của những người liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Lê Vương A phạm các tội “Cố ý gây thương tích”, “Cướp tài sản” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134, điểm d khoản 2 Điều 168 và điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang đã truy tố bị cáo Lê Vương A với tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3.3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền kiểm soát, quản lý các chất ma tuý của nhà nước, quyền về sức khỏe và tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an, gây bất bình và tâm lý lo lắng trong nhân dân. Ma túy đang là mối hiểm họa cho mỗi gia đình và toàn bộ xã hội, Nhà nước đã có nhiều chính sách cương quyết tuyên truyền vận động đến chế tài xử lý nghiêm khắc mọi hành vi liên quan đến ma tuý. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại của hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý nhưng vì mục đích thoả mãn bản thân nên vẫn bất chấp thực hiện. Sau khi sử dụng ma tuý, bị cáo đã thực hiện các hành vi gây thương tích và cướp tài sản của người khác, điều này càng cho thấy tác hại của ma tuý là rất lớn và hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo trước pháp luật và có mức hình phạt tương xứng để giáo dục, cải tạo bị cáo và đồng thời mang tính răn đe, phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[3.4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê Vương A thành khẩn khai báo, khắc phục một phần hậu quả, tại thời điểm phạm tội bị cáo bị mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi do sử dụng ma túy nên xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm b, q, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Ngoài ra, bị cáo có bà ngoại là bà Trần Thị L2 là Mẹ Việt Nam anh hùng nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3.5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
[3.6] Về đặc điểm nhân thân:
- Về tiền án: Không có.
- Về tiền sự: Bị cáo Lê Vương A có 01 tiền sự. Ngày 11/11/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 15 tháng theo Quyết định số 983/2020/QĐ-TA. Bị cáo đã chấp hành xong quyết định vào ngày 12/11/2021.
[3.7] Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là hết sức nguy hiểm nên cần thiết phải cách ly bị cáo Lê Vương A ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội sau này.
[4] Về trách nhiệm dân sự:
- Bị hại chị Võ Thị N đã được bà Võ Thị T là mẹ ruột của bị cáo Lê Vương A hỗ trợ số tiền 3.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị hại chị Võ Thị N yêu cầu bị cáo Lê Vương A bồi thường thiệt hại đối với thương tích đã gây ra với số tiền là 50.000.000 đồng và bị cáo A đồng ý. Xét thấy, sự thỏa thuận của bị cáo A và chị N là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của Luật, không trái đạo đức xã hội và phù hợp theo quy định của pháp luật tại các Điều 584 và Điều 585 Bộ luật Dân sự năm 2015, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
- Bị hại bà Phạm Thị T1 đã nhận lại các tài sản mà bị cáo A chiếm đoạt và có đơn trình bày không yêu cầu bồi thường gì khác về dân sự. Tại phiên tòa, bà Phạm Thị T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết. Trường hợp, bà Phạm Thị T1 có tranh chấp về dân sự với bị cáo Lê Vương A thì có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện dân sự khác.
[5] Xử lý vật chứng:
- Đối với các vật chứng gồm: 01 (một) bì thư được niêm phong có nội dung vụ số: 49 ghi ngày 11 tháng 5 năm 2022 và có dấu đỏ hình tròn với nội dung: PHÒNG K - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG và 01 (một) nỏ thuỷ tinh dùng sử dụng ma tuý. Các vật chứng này là vật cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu và tiêu hủy.
- Các vật chứng hiện do cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 11/3/2024.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo không có việc làm ổn định và hiện nay lại phải chịu án phạt tù nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về các vấn đề khác trong vụ án:
- Đối với đối tượng bán ma túy cho Lê Vương A. Do không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể nên không tiến hành tố tụng được. Đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau.
- Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ.
- Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
- Bị cáo và các bị hại có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Lê Vương A phạm tội “Cố ý gây thương tích”, “Cướp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584, 586 và Điều 590 Bộ luật Dân sự:
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng các điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Về án phí: Áp dụng các Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng các tại các Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự được quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Áp dụng các Điều 32, 38; điểm b, q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 55; điểm a khoản 1 Điều 134, điểm d khoản 2 Điều 168 và điểm c khoản 1 Điều 24 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Lê Vương A 09 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, 07 năm tù về tội “Cướp tài sản” và 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung, buộc bị cáo Lê Vương A phải chấp hành hình phạt là 08 (tám) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 24 tháng 11 năm 2023 nhưng trừ đi khoản thời gian bị cáo đã bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/5/2022 đến ngày 07/7/2022.
- Ghi nhận việc bị cáo Lê Vương A phải bồi thường cho bị hại chị Võ Thị N số tiền là 50.000.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của chị Võ Thị N cho đến khi thi hành án xong, bị cáo Lê Vương A còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Tịch thu và tiêu hủy đối với các vật chứng gồm: 01 (một) bì thư được niêm phong có nội dung vụ số: 49 ghi ngày 11 tháng 5 năm 2022 và có dấu đỏ hình tròn với nội dung: PHÒNG K - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG và 01 (một) nỏ thuỷ tinh dùng sử dụng ma tuý.
- Các vật chứng hiện do cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 11/3/2024.
Bị cáo Lê Vương A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm với số tiền là 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 1.250.000 đồng.
- Bị cáo Lê Vương A và bị hại chị Võ Thị N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;
- Bị hại bà Phạm Thị T1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Phong Hiếu |
Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 06/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG về hình sự (cố ý gây thương tích, cướp tài sản, tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 42/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích, Cướp tài sản, Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lê Vương An phạm tội “Cố ý gây thương tích”, “Cướp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
