Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THẠNH TRỊ

TỈNH SÓC TRĂNG

Bản án số: 42/2024/DS-ST

Ngày: 04-7-2024

V/v tranh chấp hợp đồng cầm

cố tài sản

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Thành Nghiệp
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Ngô Văn Tân
Ông Nguyễn Thanh Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Thạch Sơn Hà, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Nguyệt Hân - Kiểm sát viên.

Trong ngày 04 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 90/2024/TLST-DS ngày 10 tháng 5 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2024/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn:Công ty cổ phần S.
Địa chỉ:Số A N, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
Người đại diện theo pháp luật:Ông K (người nước ngoài)– Chức vụ Giám đốc.
Người đại diện theo uỷ quyền:Ông Nguyễn Lam T, sinh năm 1997 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ:Số D L, phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
Theo văn bản uỷ quyền ngày 01/02/2024.
Bị đơn:Bà Trần Thị N, sinh năm 1969 (vắng mặt).
Địa chỉ:Ấp A, xã C, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 17/4/2024 của nguyên đơn Công ty cổ phần S và quá trình làm việc tại Tòa án người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Lam T có lời trình bày:

Ngày 03/01/2024 bà Trần Thị N có cầm cố tài sản với Công ty cổ phần S (gọi tắt công ty) theo Hợp đồng cầm cố và giấy mượn xe ký ngày 03/01/2024. Tài sản cầm cố là chiếc xe mô tô hiệu Honda Vario Indo 150CC, biển số 83T1-046.72, giấy chứng nhận đăng ký số 000515 do Công an huyện T, tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 28/01/2021 cho bà Trần Thị N đứng tên chủ xe. Số tiền cầm cố là 21.350.000 đồng, thời hạn 12 tháng, mục đích phục vụ tiêu dùng cá nhân và kinh doanh. Ngày giải ngân 03/01/2024. Lãi suất cầm cố 1,1%/tháng, phí quản lý hồ sơ 0,5%/tháng, lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn, phí mượn xe 1.067.500 đồng, phí phạt vi phạm nghĩa vụ thanh toán trên dư nợ thực tế chưa đến hạn. Do nhu cầu đi lại nên ngày 03/01/2024 bà N có đơn gửi công ty xin mượn lại chiếc xe, thời gian mượn một tháng từ ngày 03/01/2024 đến ngày 03/02/2024. Công ty đã đồng ý cho bà N mượn xe. Để đảm bảo cho hợp đồng cầm cố tài sản, khách hàng đã thế chấp tài sản là chiếc xe nêu trên và công ty đã đăng ký giao dịch bảo đảm trên hệ thống trực tuyến của cục Đ. Quá trình thực hiện hợp đồng bà N đã không thực hiện trả nợ theo cam kết, công ty đã nhiều lần nhắc nhở nhưng bà N vẫn không thực hiện. Tính đến ngày 11/4/2024 bà N nợ công ty vốn gốc 21.350.000 đồng, lãi trong hạn 705.000 đồng, lãi quá hạn 787.000 đồng, phí bảo dưỡng và hao mòn khi mượn xe 3.203.000 đồng, phí quản lý hồ sơ 320.000 đồng, thanh lý trước hạn 1.147.000 đồng. Tổng số tiền nợ là 27.512.000 đồng. Tại đơn khởi kiện nguyên đơn yêu cầu Toà án buộc bị đơn bà N trả lại chiếc xe trên. Trường hợp bà N không trả xe yêu cầu Toà án buộc bà N thanh toán cho nguyên đơn số tiền tổng cộng 27.512.000 đồng. Ngoài ra, bà N còn phải tiếp tục chịu lãi suất, chi phí phát sinh theo hợp đồng cầm cố và giấy mượn xe kể từ ngày 12/4/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ. Trường hợp bà N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ yêu cầu kê biên, xử lý tài sản đảm bảo để trả nợ cho công ty. Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt, đơn yêu cầu thay đổi một phần nội dung khởi kiện đề ngày 18/6/2024 người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Lam T chỉ yêu cầu bà N thanh toán cho nguyên đơn số tiền vốn gốc còn nợ 21.350.000 đồng và tiền lãi theo lãi suất thoả thuận 1,1% kể từ ngày 03/01/2024 đến ngày Toà án xét xử, các yêu cầu khác tại đơn khởi kiện nguyên đơn xin rút lại toàn bộ. Sau khi bà N thanh toán xong nợ nguyên đơn xe giao trả cho bà N giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy.

Tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 12/6/2024 bị đơn bà Trần Thị N có lời trình bày:

Bà đồng ý toàn bộ nội dung nguyên đơn Công ty cổ phần S khởi kiện là đúng, bà thừa nhận có nợ công ty số tiền 21.350.000 đồng, đồng ý trả mỗi tháng 5.000.000 đồng, trả vào ngày 10 hàng tháng. Bà yêu cầu công ty giảm mức lãi suất và các khoản lãi phát sinh xuống mức tối thiểu nhất, hiện nay bà cũng lớn tuổi và mới mổ mắt, gia đình còn khó khăn. Bà xác nhận có ký phiếu đăng ký cầm cố xe máy, hợp đồng cầm cố, giấy uỷ quyền và giấy mượn xe ngày 03/01/2024, bà xác nhận có nhận tiền gốc 21.350.000 đồng và đến nay chưa trả đồng nào cho công ty, chiếc xe cầm cố loại Vario Indo 150CC, biển số 83T1-046.72 do bà đứng tên và hiện đang quản lý xe.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa nêu quan điểm:

Tòa án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp; thu thập chứng cứ đầy đủ, đúng pháp luật; Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Buộc bị đơn bà Trần Thị N có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Công ty cổ phần S số tiền còn nợ vốn 21.350.000 đồng và tiền lãi theo mức lãi suất 1,1%/tháng tính từ ngày 03/01/2024 đến ngày 04/7/2024, sau khi bị đơn thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ buộc nguyên đơn có nghĩa vụ trả lại cho bị đơn giấy tờ xe, án phí buộc bị đơn phải chịu theo quy định pháp luật. Hoàn trả cho nguyên đơn tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạnh Trị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữa các đương sự phát sinh từ hợp đồng cầm cố tài sản. Bị đơn bà Trần Thị N đăng ký thường trú tại ấp A, xã C, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Căn cứ theo khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng. Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn xin rút lại một phần nội dung yêu cầu khởi kiện chỉ yêu cầu bị đơn trả vốn và lãi trong hạn theo mức lãi suất 1,1%/tháng, đối với các yêu cầu khác tại đơn khởi kiện nguyên đơn xin rút lại toàn bộ. Xét thấy, việc rút lại một phần nội dung khởi kiện là hoàn toàn tự nguyện, căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện mà nguyên đơn đã rút. Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn có đơn yêu cầu Toà án xét xử vắng mặt, bị đơn bà Trần Thị N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không rõ lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.

[2] Về nội dung vụ án: Quá trình giải quyết vụ án đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất số tiền bị đơn bà Trần Thị N còn nợ nguyên đơn Công ty cổ phần S vốn gốc 21.350.000 đồng theo hợp đồng cầm cố tài sản ngày 03/01/2024, đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ Hội đồng xét xử chấp nhận buộc bị đơn bà Trần Thị N có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Công ty cổ phần S vốn gốc 21.350.000 đồng.

[3] Về yêu cầu tính lãi: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lãi mức lãi suất 1,1%/tháng tính từ ngày 03/01/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm. Xét yêu cầu tính lãi nêu trên phù hợp quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Lãi được tính như sau 21.350.000 đồng x 1,1%/tháng x 06 tháng (từ ngày 03/01/2024 đến ngày 04/7/2024) = 1.409.100 đồng. Hội đồng xét xử buộc bà Trần Thị N có nghĩa vụ trả lãi cho nguyên đơn số tiền 1.409.100 đồng.

[4] Đối với yêu cầu của bị đơn về việc xin trả dần số tiền còn nợ, xét thấy yêu cầu của đương sự thuộc giai đoạn thi hành án dân sự, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[5] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn bà Trần Thị N có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Công ty cổ phần S tổng số tiền còn nợ 22.759.100 đồng, trong đó vốn gốc 21.350.000 đồng và lãi 1.409.100 đồng. Sau khi bà N thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ, buộc nguyên đơn có nghĩa vụ trả cho bà N 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 000515 do Công an huyện T, tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 28/01/2021 cho bà Trần Thị N và xoá đăng ký thế chấp tài sản là chiếc xe máy nêu trên.

[6] Về án phí sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Hoàn trả cho nguyên đơn tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[7] Qua phân tích như trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát huyện T là có cơ sở chấp nhận.

[8] Đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 92, khoản 2 Điều 244, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 309, 310, 314, 316, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần S. Buộc bị đơn bà Trần Thị N có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn công ty S tổng số tiền còn nợ 22.759.100 đồng, trong đó vốn gốc 21.350.000 đồng và lãi 1.409.100 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Ngay sau khi bị đơn bà Trần Thị N thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ, buộc nguyên đơn Công ty cổ phần S có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị N 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 000515 do Công an huyện T, tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 28/01/2021 cho bà Trần Thị N đứng tên chủ xe và xoá đăng ký giao dịch bảo đảm đối với bà Trần Thị N trên hệ thống trực tuyến của Cục Đ.

  1. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện do nguyên đơn đã rút đối với yêu cầu xử lý tài sản cầm cố, yêu cầu các khoản phí, phí theo dõi.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị đơn bà Trần Thị N có nghĩa nộp án phí số tiển 1.137.955 đồng. Hoàn trả cho nguyên đơn Công ty cổ phần S tiền tạm ứng án phí đã nộp 687.800 đồng theo biên lai thu số 0003906 ngày 09/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân nơi đương sự cư trú để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND huyện Thạnh Trị;
  • - Chi cục THADS huyện Thạnh Trị;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thành Nghiệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/DS-ST ngày 04/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản

  • Số bản án: 42/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt, đơn yêu cầu thay đổi một phần nội dung khởi kiện đề ngày 18/6/2024 người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Lam T chỉ yêu cầu bà N thanh toán cho nguyên đơn số tiền vốn gốc còn nợ 21.350.000 đồng và tiền lãi theo lãi suất thoả thuận 1,1% kể từ ngày 03/01/2024 đến ngày Toà án xét xử, các yêu cầu khác tại đơn khởi kiện nguyên đơn xin rút lại toàn bộ. Sau khi bà N thanh toán xong nợ nguyên đơn xe giao trả cho bà N giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger