|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 42/2024/DS-ST
Ngày: 04 – 6 – 2024
V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Hiệp.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Túy Phượng;
Bà Trần Kim Thoa.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Hà Giang - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An tham gia phiên toà: Bà Bùi Thanh Thủy – Kiểm sát viên.
Trong ngày 04 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 58/2023/TLST-DS ngày 09 tháng 3 năm 2023, về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2024/QĐST - DS ngày 16 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Oai H, sinh năm 1961; nơi cư trú: 5/2, đường L, khu phố Đ, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1954; nơi cư trú: 488, khu phố B, thị trấn G, huyện G, tỉnh Bến Tre; tạm trú: C313C khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn xin giải quyết vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1954; nơi cư trú: 488, khu phố B, thị trấn G, huyện G, tỉnh Bến Tre; tạm trú: C313C khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn xin giải quyết vắng mặt.
- Ông Nguyễn Trường V, sinh năm 1976; nơi cư trú: C313C khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; chỗ ở hiện nay: Thửa đất số D, khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
- Bà Nguyễn Kim P, sinh năm 1970; nơi cư trú: 115A khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương; chỗ ở hiện nay: Thửa đất số D, khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa, đơn ông Nguyễn Oai H trình bày:
Ngày 04/4/2022 ông Nguyễn Oai H và ông Nguyễn Văn T có ký “Hợp đồng đặt cọc quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” có nội dung ông Nguyễn Văn T chuyển nhượng cho ông Nguyễn Oai H phần đất diện tích 1.141,1m² thuộc thửa đất 2264, tờ bản đồ số 3 tọa lạc tại tại khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất số CR 286713 (số vào sổ CS03461) do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp cho ông Nguyễn Văn T ngày 23/8/2019; giá chuyển nhượng là 6.000.000.000 đồng (sáu tỷ đồng), ông H đặc cọc số tiền 2.000.000.000 đồng (hai tỷ đồng) cho ông T hẹn đến ngày 04/6/2022 ông H sẽ đưa số tiền còn lại là 4.000.000.000 đồng (bốn tỷ đồng) sau khi ông T ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông H theo quy định của pháp luật; hai bên có lập “Hợp đồng đặt cọc quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất”, có chữ ký, lăn tay của ông Nguyễn Văn T, vợ ông T là bà Nguyễn Thị N cũng có mặt nhưng không ký tên; con ông T là ông Nguyễn Trường V và con dâu là Nguyễn Kim P cũng ký tên làm chứng trong hợp đồng. Hai bên thỏa thuận ngày 04/6/2022 sẽ ra phòng công chứng ký hợp đồng công chứng nhưng hết thời hạn nêu trên ông Nguyễn Văn T không thực hiện dù ông H nhiều lần nhắc nhở. Do đó, ông H yêu cầu hủy “Hợp đồng đặt cọc quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” ngày 04/04/2022 giữa ông Nguyễn Văn T và ông Nguyễn Oai H và buộc ông Nguyễn Văn T trả lại số tiền đặt cọc là 2.000.000.000 đồng (hai tỷ đồng).
* Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định.
Chứng cứ nguyên đơn cung cấp gồm: “Hợp đồng đặt cọc quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” ngày 04/04/2022.
- Tại biên bản lấy lời khai ngày 22/5/2024 bị đơn ông Nguyễn Văn T trình bày:
Thống nhất với phần trình bày của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T có ký “Hợp đồng đặt cọc quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” ngày 04/04/2022 có nội dung ông Nguyễn Văn T chuyển nhượng cho ông Nguyễn Oai H phần đất diện tích 1.141,1m² thuộc thửa đất 2264, tờ bản đồ số 3 tọa lạc tại khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất số CR 286713 (số vào sổ CS03461) do sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp cho ông Nguyễn Văn T ngày 23/8/2019; giá chuyển nhượng là 6.000.000.000 đồng (sáu tỷ đồng), đặt cọc số tiền 2.000.000.000 đồng (hai tỷ đồng); hai bên có lập “Hợp đồng đặt cọc quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất”, chữ ký, lăn tay trong hợp đồng là của ông Nguyễn Văn T. Tuy nhiên số tiền đặt cọc 2.000.000.000 đồng (hai tỷ đồng) ông T không nhận mà con ông T là ông Nguyễn Trường V nhận và sử dụng, ông T chỉ ký hợp đồng để cho ông V có vốn làm ăn. Nay ông H yêu cầu hủy “Hợp đồng đặt cọc quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” ngày 04/04/2022 giữa ông Nguyễn Văn T và ông Nguyễn Oai H thì ông T đồng ý, đối với yêu cầu buộc ông Nguyễn Văn T trả lại số tiền đặt cọc là 2.000.000.000 đồng (hai tỷ đồng) thì ông T không đồng ý vì ông không nhận và sử dụng số tiền này.
Bị đơn không có yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, yêu cầu độc lập với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- Tại biên bản lấy lời khai ngày 22/5/2024 bị người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N trình bày:
Bà N là vợ ông Nguyễn Văn T, “Hợp đồng đặt cọc quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” ngày 04/04/2022 giữa ông Nguyễn Văn T và ông Nguyễn Oai H bà N không ký tên, việc ông T ký tên là do con bà N và ông T là ông Nguyễn Trường V đưa hợp đồng cho ông T ký, ông T, bà N không nhận tiền và không sử dụng số tiền 2.000.000.000 đồng (hai tỷ đồng). Nay ông H yêu cầu hủy “Hợp đồng đặt cọc quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” ngày 04/04/2022 giữa ông Nguyễn Văn T và ông Nguyễn Oai H thì bà N không có ý kiến gì, đối với yêu cầu buộc ông Nguyễn Văn T trả lại số tiền đặt cọc là 2.000.000.000 đồng (hai tỷ đồng) thì bà N không đồng ý vì ông T không nhận và sử dụng số tiền này.
- Tại biên bản lấy lời khai ngày 31/7/2023 và biên bản đối chất người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Trường V trình bày:
Ông Nguyễn Trường V là con của ông Nguyễn Văn T, “Hợp đồng đặt cọc quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” ngày 04/04/2022 giữa ông Nguyễn Văn T và ông Nguyễn Oai H ông V ký tên, tuy nhiên hợp đồng nêu trên thực tế là hợp đồng vay tài sản, ông T vay của ông H số tiền 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng), lãi suất là 3%/tháng, mỗi tháng ông V trả lãi cho ông H số tiền 30.000.000 đồng nhưng ông H không cho ký giấy giao nhận tiền lãi suất. Nay ông H yêu cầu hủy “Hợp đồng đặt cọc quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” ngày 04/04/2022 giữa ông Nguyễn Văn T và ông Nguyễn Oai H thì ông V đồng ý và không có ý kiến gì, đối với yêu cầu buộc ông Nguyễn Văn T trả lại số tiền đặt cọc là 2.000.000.000 đồng (hai tỷ đồng) thì ông V không đồng ý vì đây là hợp đồng vay tài sản, ông V đồng ý trả cho ông H số tiền vay 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng).
Ông Nguyễn Trường V vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng làm việc, hòa giải và tại phiên tòa, không có đơn yêu cầu độc lập trong vụ án.
Quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Kim P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, bà Nguyễn Kim P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa án làm việc để cung cấp tài liệu, chứng cứ, lời khai, hòa giải và vắng mặt tại phiên tòa.
Tại phiên tòa nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện hủy “Hợp đồng đặt cọc quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” ngày 04/04/2022 giữa ông Nguyễn Văn T và ông Nguyễn Oai H và buộc ông Nguyễn Văn T trả lại số tiền đặt cọc là 2.000.000.000 đồng (hai tỷ đồng).
- Đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
+ Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án: Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 về xét xử sơ thẩm.
+ Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Trường V và bà Nguyễn Kim P không chấp hành đúng pháp luật.
+ Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử như sau: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm về tố tụng: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn ông Nguyễn Oai H yêu cầu hủy “Hợp đồng đặt cọc quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” ngày 04/04/2022 giữa ông Nguyễn Văn T và ông Nguyễn Oai H và buộc bị đơn ông Nguyễn Văn T trả lại số tiền đặt cọc là 2.000.000.000 đồng (hai tỷ đồng). Xét đây là vụ án tranh chấp Hợp đồng đặt cọc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An theo quy định tại Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; đối tượng của tranh chấp là bất động sản tọa lạc tại khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An theo Điểm c Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Trường V và bà Nguyễn Kim P đã được tống đạt đúng quy định pháp luật nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Bị đơn ông Nguyễn Văn T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N có đơn xin giải quyết vắng mặt. Do vậy, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự nêu trên theo quy định tại khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung vụ án: Nguyên đơn ông Nguyễn Oai H trình bày ngày 04/4/2022 ông Nguyễn Oai H và ông Nguyễn Văn T có ký “Hợp đồng đặt cọc quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” có nội dung ông Nguyễn Văn T chuyển nhượng cho ông Nguyễn Oai H phần đất diện tích 1.141,1m² thuộc thửa đất 2264, tờ bản đồ số 3 tọa lạc tại tại khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất số CR 286713 (số vào sổ CS03461) do sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp cho ông Nguyễn Văn T ngày 23/8/2019; giá chuyển nhượng là 6.000.000.000 đồng (sáu tỷ đồng), đặt cọc số tiền 2.000.000.000 đồng (hai tỷ đồng); hai bên có lập “Hợp đồng đặt cọc quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất”, có chữ ký, lăn tay của ông Nguyễn Văn T, ông Nguyễn Trường V và bà Nguyễn Kim P. Hai bên thỏa thuận ngày 04/6/2022 sẽ ra phòng công chứng ký hợp đồng công chứng nhưng hết thời hạn nêu trên ông Nguyễn Văn T không thực hiện. Do đó, ông H yêu cầu hủy “Hợp đồng đặt cọc quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” ngày 04/04/2022 giữa ông Nguyễn Văn T và ông Nguyễn Oai H; bị đơn ông Nguyễn Văn T thống nhất về nội dung hợp đồng và xác định có ký tên, lăn tay trong hợp đồng nêu trên, xét thấy những nội dung trên nguyên đơn trình bày và được bị đơn thừa nhận nên đây là sự thật không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015. Nguyên đơn yêu cầu hủy “Hợp đồng đặt cọc quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” ngày 04/04/2022 và bị đơn đồng ý với yêu cầu này của nguyên đơn do đó có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc ông Nguyễn Văn T trả lại số tiền đặt cọc là 2.000.000.000 đồng (hai tỷ đồng) và không yêu cầu bị đơn trả tiền lãi suất. Bị đơn thừa nhận có ký tên trong hợp đồng mục “Bên nhận cọc”, có việc ông H giao số tiền 2.000.000.000 đồng (hai tỷ đồng) nhưng ông T không nhận số tiền đặt cọc 2.000.000.000 đồng (hai tỷ đồng) mà con ông T là ông Nguyễn Trường V nhận nhưng không đưa ra được chứng cứ chứng minh; ông V cho rằng hợp đồng đặt cọc trên là hợp đồng vay tài sản, ông V vay của ông H số tiền 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng) nhưng cũng không đưa ra được chứng cứ chứng minh. Xét thỏa thuận của các bên trong “Hợp đồng đặt cọc quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” ngày 04/04/2022 có nội dung đến ngày 04/6/2022 các bên ký hợp đồng công chứng và ông H giao đủ số tiền còn lại là 4.000.000.000 đồng (bốn tỷ đồng), tuy nhiên hết thời hạn nêu trên các bên không thực hiện theo thỏa thuận, bị đơn xác định thửa đất nêu trên đã được thế chấp tại Ngân hàng TMCP C – Chi nhánh K nên không thể thực hiện được việc chuyển nhượng cho ông H theo thỏa thuận. Như vậy việc các bên không tiếp tục thực huyện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo “Hợp đồng đặt cọc quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” là do lỗi của bị đơn. Do hợp đồng không thể thực hiện được nên các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải hoàn trả số tiền đặt cọc là 2.000.000.000 đồng (hai tỷ đồng) là có cơ sở.
Nguyên đơn không yêu cầu bị đơn phải trả tiền lãi suất và phạt cọc số tiền 2.000.000.000 đồng (hai tỷ đồng) là sự tự nguyên của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[4] Từ phân tích nêu trên, có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc hủy “Hợp đồng đặt cọc quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” ngày 04/04/2022 và yêu cầu buộc bị đơn phải hoàn trả số tiền đặt cọc là 2.000.000.000 đồng (hai tỷ đồng) và không yêu cầu tiền lãi.
[5] Về quan điểm của Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về án phí: Bị đơn phải chịu theo quy định pháp luật, trả lại tiền tạm ứng án cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 3 Điều 26; Điều 35; Điều 36; Điểm c Khoản 1 Điều 39; Khoản 2 Điều 92; Điều 147; Khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
- - Điều 422, 423, 424 và 427 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Oai H đối với bị đơn ông Nguyễn Văn T.
Tuyên hủy “Hợp đồng đặt cọc quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” ngày 04 tháng 4 năm 2022 giữa và ông Nguyễn Oai H và ông Nguyễn Văn T.
Buộc ông Nguyễn Văn T phải trả cho ông Nguyễn Oai H số tiền đã nhận đặt cọc là 2.000.000.000 đồng (hai tỷ đồng)
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án không thi hành án, thì hàng tháng còn chịu tiền lãi đối với số tiền chậm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Ông Nguyễn Văn T phải chịu 72.300.000 đồng (Bảy mươi hai triệu ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- - Ông Nguyễn Oai H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án,
Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
4. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Nguyễn Đình H1 |
6
Bản án số 42/2024/DS-ST ngày 04/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 42/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
