Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2024/HS-ST

Ngày 03/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Phạm Thúy Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hoàng Sỹ Quang.
  2. Bà Ngô Thị Thơm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Hải Long - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mạnh - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 03 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 20/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Phạm Văn K, sinh ngày 06/09/1988 tại tỉnh Bắc Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xóm C, thôn Đ, xã H, huyện V, tỉnh Bắc Giang; nơi ở hiện tại: Khu dân cư S, phường P, thành phố C, tỉnh Hải Dương; Giới tính: Nam; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Phạm Văn V và con bà Thân Thị D; gia đình có ba anh em, bị cáo là con thứ hai; Bị cáo có vợ là Phạm Thị Nhị L và có 03 con, sinh các năm 2016, 2017 và 2021; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

2. Trần Nam L1, sinh ngày 25/07/1976 tại tỉnh Nghệ An; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu dân cư S, phường P, thành phố C, tỉnh Hải Dương; chỗ ở hiện tại: Khu dân cư S, phường P, thành phố C, tỉnh Hải Dương; Giới tính: Nam; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Nam P (đã chết) và con bà Vũ Thị Lan H (đã chết); gia đình có ba anh em, bị cáo là con thứ ba; Bị cáo có vợ là Trần Thị H1 và 03 con, lớn sinh các năm 2001, 2010 và 2016; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú;có mặt.

* Bị hại: Công ty cổ phần N1; địa chỉ: phường P, thành phố C, tỉnh Hải Dương; người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hoàng H2, chức vụ: Tổng giám đốc công ty. Vắng mặt.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Ông Lương Tuấn T – Luật sư Công ty L2; địa chỉ: số A ngõ B phố L, phường K, quận T, thành phố Hà Nội. Có mặt.

* Người làm chứng:

  1. Ông Nguyễn Hoài N, sinh năm 1966;
  2. Ông Nguyễn Đình M, sinh năm 1961;
  3. Anh Kiều Văn T1, sinh năm 1979;

Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Công ty Cổ phần N1, địa chỉ thuộc phường P, thành phố C, tỉnh Hải Dương (Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 0403000380 do Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh H cấp ngày 26/01/2006, với vốn điều lệ 3.262.350.000.000 đồng, vốn góp chi phối Nhà nước là 51,2%. Công ty hoạt động với quy mô 02 dây chuyền (nhà máy): Dây chuyền 1 có công xuất thiết kế 440 MW với 04 tổ máy S1, S2, S3, S4, được vận hành từ năm 1983- 1986; dây chuyền 2 có công suất 600 MW với 02 tổ máy S5, S6, vận hành năm 2002.

Thực hiện Kế hoạch tách thanh cái C21 để sửa chữa, ngày 06/3/2021, Phân xưởng Vận hành 1 Công ty Cổ phần N1 đăng ký phương thức, gửi Phòng Kỹ thuật nội dung tách thanh cái C21, mục đích: vệ sinh bảo dưỡng Dao cách ly 274-1 lên thanh cái C21, kiểm tra chống sét thanh cái C21, thời gian dự kiến thực hiện từ 05 giờ 00 ngày 16/3/2021 đến 16 giờ 00 ngày 17/3/2021. Ngày 11/3/2021, Công ty Cổ phần N1 có Phiếu đăng ký công tác số PL-3/2021-04 với Trung tâm Đ1 (A1) đề nghị tách thanh cái C21 (ngày 15/3/2021, Trung tâm A1 có Phiếu giải quyết duyệt đồng ý). Thực hiện nhiệm vụ này, ca trực Trung tâm Dây chuyền 1 ngày 16/3/2021 (thời gian từ 0 giờ 00' đến 8 giờ 00') có 04 người gồm: Nguyễn Hoài N (Trưởng ca); Nguyễn Đình M, (Trưởng kíp điện); Trần Nam L1 (Trực chính Trung tâm) và Phạm Văn K (Trực phụ Trung tâm), được giao tiến hành thực hiện thao tác “Đưa thanh cái C21 từ trạng thái vận hành ra sửa chữa”. Trần Nam L1 đã viết Phiếu thao tác số 07/3/21 nội dung “Đưa thanh cái C21 từ vận hành ra sửa chữa” và đưa cho các thành viên trong ca trực xem tham gia (Phiếu được 04 người trong ca trực cùng ký, trong đó T2 ca là người có quyền duyệt để thực hiện). Đến khoảng 07 giờ 06 phút ngày 16/3/2021, sau khi nhận lệnh của anh Chu Văn V1 là Điều độ điện Miền B (trực ca), ca trực Trung tâm Dây chuyền 1 bắt đầu thực hiện thao tác theo Phiếu thao tác số 07/3/21. Tại phòng điều khiển Trung tâm có 03 bộ đàm, trong đó có 01 bộ đàm thường xuyên sạc ở bàn làm việc của anh N, anh M trực; 02 bộ đàm còn lại giao cho L1 và K mỗi người 01 chiếc để sử dụng phục vụ công tác. Cụ thể thực hiện các bước trong Phiếu thao tác 07/3/21 như sau:

- Bước 1: Nhận lệnh Trưởng ca + Trưởng kíp: Lúc này cả 04 người (N, M, L1, K) đều trong Phòng điều khiển Trung tâm D1. Anh N ra lệnh cho anh M, L1, K thực hiện các bước trong Phiếu thao tác 07/3/21. K kiểm tra Phiếu thao tác, sau đó đi xuống sân trạm 220 KV Dây chuyền 1 để thực hiện thao tác trực tiếp tại sân trạm; còn anh N, anh M và L1 đều ở Phòng điều khiển Trung tâm; Phiếu thao tác do L1 quản lý.

- Bước 2: Kiểm tra máy cắt 212 đang đóng: Lúc này K ở dưới trạm 220KV Dây chuyền 1 tại vị trí máy cắt 212. L1 ở Phòng điều khiển Trung tâm. K kiểm tra thực tế trạng thái máy cắt 212 đang đóng tốt, báo lại qua bộ đàm cho L1 biết. Lâm kiểm tra đèn tín hiệu của máy cắt 212 ở trạng thái đóng tốt thì báo lại qua bộ đàm cho K biết. Sau đó, L1 đọc nội dung bước 3 để K chuẩn bị thực hiện.

- Bước 3: Kiểm tra vị trí đóng DCL 212 – (1,2): Tương tự như bước 2, L1 ở Phòng điều khiển Trung tâm kiểm tra hệ thống đèn tín hiệu của 02 Dao cách ly 212-1 và 212-2 ở trạng thái đóng tốt và báo qua bộ đàm cho K biết. K ở sân trạm nơi đặt máy cắt 212-1 và 212-2, kiểm tra trạng thái máy cắt 212 – 1,2 đóng tốt thì báo lại qua bộ đàm cho L1 biết. Sau đó, L1 đọc lệnh thực hiện bước 4 qua bộ đàm để anh N, anh M và K biết.

- Bước 4: B1+ Dây chuyền 2 (DC2) cắt máy cắt MC 215 và dao cách ly DCL 215- (1,5)- xác định đã cắt tốt: Tại Phòng điều khiển Trung tâm, anh N sử dụng điện thoại bàn kết nối với Trung tâm điều độ A1, đề nghị anh Chu Văn V1, là Điều độ viên (ca trực) lệnh cho T2 ca Dây chuyền 2 cắt máy cắt 215 và Dao cách ly 215 -1, 215-5; đồng thời anh N cũng điện thoại cho anh Phạm Cao T3, (Trưởng ca trực Dây chuyền B2) biết để chuẩn bị thực hiện. Sau khi thực hiện xong, anh T3 và A1 (V1) báo qua máy điện thoại bàn cho anh N biết. Anh N thấy trên bảng tín hiệu báo trạng thái máy cắt 215 hiện đèn màu xanh tức là đã cắt xong nên lệnh cho thực hiện các bước tiếp theo. L1 báo qua bộ đàm nội dung bước 5 để K biết.

- Bước 5: Cắt AB điều khiển máy cắt MC212: Tại Phòng điều khiển Trung tâm, L1 thực hiện thao tác đóng attomat điều khiển của máy cắt 212 tại tủ điện ở phòng rơ le (phía trong phòng điều khiển Trung tâm). Quá trình thực hiện có anh M giám sát; thực hiện xong, L1 báo qua bộ đàm để K biết và chuyển sang bước tiếp theo.

Khi đến bước 6 là Đóng dao cách ly DCL271-2 abc: Lúc này trong phòng rơ le phía trong phòng điều khiển Trung tâm chỉ có anh M và L1, còn anh N ngồi ở bàn làm việc bên ngoài. Lâm kiểm tra thấy dòng điện qua lộ 231 đang cao hơn lộ 271, theo kinh nghiệm nên ngắt lộ có phụ tải cao trước, phụ tải thấp sau sẽ đảm bảo an toàn điện hơn nên L1 đã trao đổi trực tiếp với M về việc ngắt lộ 231 trước rồi thực hiện ngắt lộ 271 sau (thời điểm viết Phiếu thao tác lúc 3 giờ 00 sáng ngày 16/3/2021 thì dòng điện qua lộ 231 chưa cao). Anh M thấy việc này không ảnh hưởng đến an toàn điện nên đồng ý để L1 thực hiện. Anh M và L1 không báo cho anh N biết. Sau đó, anh M, L1 và K đã thay đổi thứ tự thực hiện các bước trong Phiếu thao tác 07/3/21, cụ thể: “Thực hiện việc đóng dao cách ly DCL231-2 (a,b,c) và cắt dao cách ly DCL 231-1 (bước 8, bước 9) trước, sau đó mới thực hiện đóng dao cách ly DCL 271- 2(a,b,c) và cắt dao cách ly DCL 271-1 (bước 6, bước 7)”; việc thực hiện các bước trên xảy ra sự cố gì.

Sau khi thực hiện hết bước 11 tại phòng điều khiển Trung tâm, chuyển sang bước 12 là: “Đóng DCL275-2 (a,b,c)”. Bước này thao tác được thực hiện tại sân trạm 220 KV (dây chuyền 1). Theo quy trình thì L1 phải cầm Phiếu thao tác đọc kiểm tra, giám sát K thực hiện thao tác tại vị trí thiết bị được thao tác đồng thời sử dụng bộ đàm trao đổi để anh M theo dõi kết quả tại Bảng điều khiển Trung tâm, chỉ đạo thao tác của L1 và K. Tuy nhiên, khi xuống sân trạm 220KV, L1 không cầm theo bộ đàm và P1 thao tác mà cùng K đi đến L, tiến về vị trí “DCL275-1” (vị trí thực hiện bước 13 theo Phiếu thao tác), tại vị trí này L1 không có Phiếu thao tác để kiểm tra và không thực hiện việc giám sát theo quy trình an toàn điện, để Khánh tự thực hiện thao tác. Thời điểm 07 giờ 21 phút, K thực hiện sai bước thao tác, thực hiện bước 13 trước bước 12, tức là thực hiện bước 13 “Cắt DCL275-1”, bỏ qua bước 12 là “Đóng DCL275-2 (a,b,c)” nên khi thao tác cắt (mở) dao cách ly DCL275-1 thì xảy ra hiện tượng phóng điện từ (phóng hồ quang điện) các má lưỡi dao cách ly (DCL) pha B, pha C với nhau và phóng điện xuống đất qua thanh giằng trên dao cách ly gây ngắn mạch hai pha B, pha C chạm đất gây hư hỏng các DCL 275-1 và DCL212-1 tại trạm 220KV Dây chuyền 1, gây mất điện toàn bộ Dây chuyền 1.

Trong quá trình thực hiện các thao tác theo phiếu tháo tác 07/03/21, anh N ở vị trí bàn làm việc phía bên ngoài trước bảng đèn tín hiệu taplo, không vào khu vực phòng rơ le nơi L1 thao tác. Đối với các thao tác từ xa tại phòng điều khiển Trung tâm, anh M và L1 thực hiện ở phòng rơ le phía bên trong, anh M giám sát tại vị trí Lâm thực hiện, có thời điểm anh M đi ra bên ngoài nơi anh N ngồi để kiểm tra tín hiệu đèn taplo cảnh báo sự cố ở bảng tín hiệu Trung tâm. Khi L1 xuống sân trạm 220KV Dây chuyền 1 để cùng K thực hiện thao tác tại sân trạm thì anh M ra vị trí bàn làm việc bên ngoài lấy bộ đàm đi ra vị trí rơ le báo tín hiệu dao cách ly DCL 275 ở phòng rơ le để giám sát L1, K thực hiện thao tác và theo dõi tín hiệu sau khi thực hiện thao tác.

Thời điểm L1 và K thực hiện bước thao tác tại sân trạm 220KV, giữa dây chuyền 1 và dây chuyền 2 kết nối qua máy cắt MC 224 (giữa thanh cái C22 dây chuyền 1 và thanh cái C24 dây chuyền 2), theo thiết kế khi xảy ra sự cố tại dây chuyền 1, máy cắt MC224 sẽ ngắt dòng điện kết nối giữa dây chuyền 1 và dây chuyền 2 nhưng đối với sự cố này, máy cắt MC 224 đã không ngắt kết nối dẫn đến sự cố lan sang Dây chuyền 2, các rơ le bảo vệ khối máy phát-máy biến áp tổ máy phát điện số 5, số F và máy biến áp lấy điện lưới về làm điện tự dùng cho dây chuyền 2 tác động cắt toàn bộ điện tự dùng xoay chiều của các Tổ máy S5, S6 (ngừng sự cố lúc 07 giờ 21 phút). Hậu quả: Tổ máy S2 (lò 2B) dây chuyền 1 ngừng sự cố an toàn; Tuabin S6 dây chuyền 2 đã hư hỏng các gối đỡ tuabin, hư hỏng toàn bộ các bộ chèn tuabin và máy phát khiến tổ máy phải dừng hoạt động, phải khắc phục sửa chữa; Tổ máy S5 dây chuyền 2 ngừng sự cố an toàn.

Hậu quả: Các dao cách ly DCL 275-1 và DCL212-1 tại trạm 220KV Dây chuyền 1 trị giá 118.824.000đồng bị hư hỏng phải thay mới.

* Biên bản xác định hiện trường ngày 13/6/2023, tại Công ty Cổ phần N1 thể hiện:

Hiện trường chung:

- Công ty Cổ phần N1 có 02 phân xưởng vận hành 1 và 2. Phân xưởng vận hành 1 có 04 Tổ máy phát điện S1, S2, S3, S4 và Phân xưởng vận hành 2 có 02 Tổ máy phát điện S5, S6.

- Xác định hiện trường sự cố tại phân xưởng vận hành 1 xảy ra tại Khu vực Trạm phân phối 220KV. Phía Bắc giáp kênh thoát nước tuần hoàn dây chuyền 1, Phía Nam giáp khu dân cư phía đường Quốc lộ 18, Phía Đông giáp trạm 220KV dây chuyền 2, Phía Tây giáp sân phân phối trạm 110KV Dây chuyền 1. Khu vực Trạm 220 KV dây chuyền 1 được kết nối với Trạm 220KV dây chuyền 2 qua 02 máy cắt MC215 và MC224.

- Phòng Điều khiển trung tâm D1 nằm trong khu vực Trạm phân phối 220KV. Từ cầu thang lên tầng 2 theo hướng cửa chính vào Phòng, tại khu vực phía trước chính giữa P2 là Bàn làm việc của 04 vị trí ca trực, từ phải qua trái là vị trí của T2 ca, T4 phụ trung tâm, T2 kíp điện và trực chính trung tâm. Tại vị trí làm việc của Tưởng ca có 06 máy điện thoại bàn, trong đó có 01 máy điện thoại để liên lạc với A1, 01 máy điện thoại để liên lạc A0, các máy còn lại để liên lạc nội bộ công ty; phía bên phải có máy FAX. Trên bàn làm việc có một số bộ đàm để ca trực sử dụng liên lạc.

+ Phía trước mặt bàn điều hành là hệ thống bảng tín hiệu điều khiển trạm 110 KV, 220KV dây chuyền 1. Theo hướng từ trái qua phải là bảng tín hiệu điều khiển Trạm 220KV; tín hiệu điều khiển AT1, AT2 110KV và 220kV; tín hiệu điều khiển Trạm OPY 110kV; tín hiệu điều khiển Trung tâm H3; tín hiệu điều khiển TD10 dự phòng; tín hiệu điều khiển kích thích dự phòng; điều khiển tín hiệu tự động báo cháy; bảng tín hiệu cháy. Các tín hiệu trên Bảng thể hiện tình trạng đang vận hành của các thiết bị tại Trạm điện 220kV, 110kV dây chuyền 1.

+ Phía sau bảng tín hiệu điều khiển là buồng chứa hệ thống thiết bị thao tác từ xa được kết nối với các hệ thống thiết bị tại sân trạm 220kV, 110kV như Dao Cách ly, Máy cắt, các Tủ điều khiển...Đối với các trường hợp thao tác điều khiển từ xa thì 01 người sẽ thực hiện thao tác tại buồng này, còn 01 người sẽ đồng thời có mặt tại sân trạm phân phối để xác nhận tình trạng thiết bị sau khi thực hiện thao tác điều khiển từ xa.

+ Phía cuối phòng có cầu thang phụ đi xuống sân trạm 220kV.

Hiện trường cụ thể:

Tiến hành kiểm tra hiện trường tại sân trạm phân phối 220kV dây chuyển 1 xác định:

- Vị trí bước 12 là dao cách ly 275 -2a,b,c: Tại vị trí này có 03 Dao cách ly là DCL 275 – 2a, DCL 275-2b và DCL 275-2c, mỗi Dao cách ly có bộ phận chính gồm tay quay để thực hiện thao tác và 02 lưỡi dao; bố trí vị trí cách nhau khoảng 5-6m.

- Vị trí bước 13 là dao cách ly 275-1: cách vị trí Dao cách ly 275-2a gần nhất là khoảng 15m, gồm bộ phận chính là hộp điều khiển và 03 bộ lưỡi dao, trong hộp điều khiển có tay quay để thực hiện thao tác bằng tay. Từ vị trí Dao cách ly 275-1 cách chân cầu thang phụ của Nhà điều hành trạm khoảng 65m.

Mở rộng hiện trường về phía Đông là Phân xưởng vận hành 2 xác định: Tuabin 5 đang hoạt động, T hiện đang đưa đi sửa chữa. Kiểm tra phòng ắc quy xác định hệ thống ắc quy của Tuabin 5 được bố trí tại Phòng ắc quy 1A mỗi phòng có 02 dãy bố trí song song, mỗi dãy 02 tầng có tổng cộng 110 ắc quy. Hệ thống ắc quy của T5 6 bố trí tại Phòng ắc quy 2A cũng có 02 dãy bố trí song song, mỗi dãy 02 tầng có tổng cộng 110 ắc quy.

* Kết quả định giá tài sản số 3663/KL-HĐĐG ngày 21/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản, UBND tỉnh H, xác định:

- Giá trị còn lại Dao cách ly 271-1: Loại DCL 3 DN1 CB245EB-1600 (tức dao cách ly 03 pha, điện áp định mức 245kV, dòng điện định mức 1600A, của hãng S, xuất xứ CHLB Đ) tại thời điểm xảy ra sự cố ngày 16/3/2021 là 425.879.494 đồng/bộ x 20% = 85.175.899 đồng làm tròn 85.176.000 đồng.

- Dao cách ly 212-1: loại dao cách ly 03 pha tiếp địa 01 phía (1CMM+1CML), xuất xứ AREVA T&D S.p.a (Italya); loại S2DAT, 245kV, 1600a-31,5Ka-1s tại thời điểm xảy ra sự cố điện ngày 15/3/2021 là: 168.241.500 đồng/bộ x 20% = 33.648.300 đồng làm tròn 33.648.000 đồng/bộ.

+ Tổng trị giá 02 Dao cách ly 275-1 và Dao cách ly 212-1 tại thời điểm xảy ra sự cố ngày 16/3/2021 là: 85.176.000đồng/bộ + 33.648.000đồng/bộ = 118.824.000đồng.

Tại Kết luận giám định số 6706/KL-KTHS, ngày 21/9/2023 của V2 - Bộ C xác định:

- Việc thực hiện các bước thao tác theo trình tự như trong dữ liệu trích xuất tại rơ le so lệch thanh cái phòng điều khiển trung tâm D1 gây ra sự cố phóng điện từ (P3) dẫn đến sự cố mất điện tại sân phân phối 220kV dây chuyền 1. Nguyên nhân do lỗi vận hành bỏ qua bước 12 đóng DCL275-2(a,b,c) mà thực hiện luôn bước 13 mở DCL275-1 nên đã gây ra sự cố trên.

- Điểm xuất phát cháy nằm ở vị trí tiếp điểm dao cách ly DCL275-1 thuộc lộ 275, tại trạm phân phối 220kV thuộc dây chuyền 1, Công ty Cổ phần N1, phường P, TP ., tỉnh Hải Dương.

- Nguyên nhân cháy: Do phóng điện tại tiếp điểm của dao cách ly DCL275-1 thuộc lộ 275, sau đó lan truyền ra lộ 212 gây ra sự cố cháy, nổ nói trên.

Tại Kết luận giám định số 176/KL-KTHS, ngày 01/3/2024 của V2 - Bộ C xác định:

- Việc bỏ qua bước 12 đóng DCL275-2(a,b,c), thực hiện bước 13 mở DCL275-1 gây ra phóng điện tại tiếp điểm của dao cách ly DCL275-1, thuộc lộ 275, sau đó lan truyền ra lộ 212 gây ra sự cố cháy, nổ tại sân phân phối 220kV dây chuyền 1 là nguyên nhân dẫn đến việc mất điện tại dây chuyền 2. Lý do máy cắt 224 không ngắt mạch giữa 2 thanh cái C22 và C24 là do nằm trong vùng xung điện nên từ thông của máy cắt bị ảnh hưởng dẫn đến máy cắt không hoạt động (không ngắt mạch để tách 2 thanh cái C22 và C24 khi bị sự cố xẩy ra).

- Tại thời điểm giám định hệ thống ắc quy của khối 5, khối 6 đã tháo rời và thay thế mới bằng hệ thống bình ắc quy khác và đã được tập kết ở kho hiện hết điện và trên nắp của một số bình ắc quy có nhiều vết nứt vỡ nên không đủ điều kiện để xác định có đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật, vận hành an toàn, duy trì cho Tuabin S5, S6 hoạt động trong trường hợp xảy ra mất điện lưới hay không. Do vậy không đủ điều kiện để xác định thời gian duy trì thực tế của từng hệ thống ắc quy, máy phát một chiều này khi không có điện lưới, cũng như việc duy trì này có đảm bảo cho Tuabin S5, S6 hoạt động hay không, có gây ra thiệt hại hay không.

- Không đủ điều kiện để xác định nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thiệt hại xảy ra đối với Tuabin S6 dây chuyền 2 tại sự cố ngày 16/3/2021, do tại thời điểm giám định toàn bộ các hệ thống linh kiện liên quan đến Tuabin S6 đã được thay thế sửa chữa, các linh kiện được thay thế tập kết tại kho hiện đã bị mất dấu vết ban đầu (oxy hóa, cong vênh biến dạng...).

Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã bồi thường toàn bộ số tiền 118.824.000đồng cho Công ty cổ phần N1.

Tại Cáo trạng số 24/CT-VKS-P2 ngày 09/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Phạm Văn K và Trần Nam L1 về tội Vi phạm quy định về an toàn lao động theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 295 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi như đã trình bày tại cơ quan điều tra và đã được nêu trong bản cáo trạng truy tố các bị cáo. Các bị cáo được đào tạo đúng chuyên môn, phù hợp công việc được giao. Thường xuyên được đơn vị cho tập huấn về an toàn trong lao động. Đã thực hiện công việc, thao tác đưa thanh cái từ trạng thái vận hành ra sửa chữa, bảo dưỡng nhiều lần nên biết rõ cần phải nghiêm ngặt thực hiện các bước quy định trong Phiếu thao tác thì mới bảo đảm an toàn lao động, không xảy ra sự cố cháy nổ... Sau khi thực hiện các bước thao tác từ 1 đến 11 quy định trong Phiếu thao tác 07/03/21 an toàn, bị cáo L1 đã chủ quan, thiếu trách nhiệm khi giám sát K thực hiện các bước thao tác tại sân trạm 220kV, không cầm theo Phiếu thao tác 07/03/21 nên không đọc được bước thao tác thứ 12 để K thực hiện. K thấy trời mưa nên vội vàng, chủ quan, tự tin vào công việc làm thường xuyên, đã đến nhầm vị trí, không kiểm tra ký hiệu trên thiết bị, chưa nhận được lệnh của L1 đã thực hiện thao tác thứ 13 mà không phải là thao tác thứ 12 theo quy định dẫn đến sự cố phóng điện từ (phóng hồ quang điện) gây ra sự cố mất điện tại sân phân phối 220kV dây chuyền 1 của công ty, làm hư hỏng hai dao cách ly. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm về an toàn lao động, gây hậu quả nghiêm trọng. Các bị cáo bị truy tố, xét xử là đúng, không bị oan.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Phạm Văn K và Trần Nam L1, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn K và Trần Nam L1 phạm tội Vi phạm quy định về an toàn lao động. Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 295, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn K từ 50.000.000đồng đến 60.000.000đồng; Xử phạt bị cáo Trần Nam L1 từ 30.000.000đồng đến 40.000.000đồng để sung quỹ Nhà nước. Về hình phạt bổ sung: không áp dụng. Về trách nhiệm dân sự: không xem xét, giải quyết. Về vật chứng: Trả lại cho Công ty Cổ phần N1 02 Dao cách ly 275-1 và 212-1; 220 bình ắc quy NCX-23 1680Ah gồm: 110 bình ắc quy điện 1 chiều của Tuabin 5 và 110 bình ắc quy điện 1 chiều của Tua bin 6 được thay thế sau sự cố ngày 16/03/2021 (bảo quản tại kho của Công ty cổ phần N1); 220 bình ắc quy NCX-23 1680 Ah (hiện đang được đặt tại phòng Ắc quy Tua bin 6, Công ty cổ phần N1). Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan điều tra, truy tố trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với dữ liệu điện tử đã thu giữ đã được các bị cáo xác nhận và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 06 giờ 55 phút ngày 16/3/2021, tại ca trực Phòng điều khiển trung tâm D1, Công ty Cổ phần N1 thuộc phường P, thành phố C, tỉnh Hải Dương, theo sự phân công nhiệm vụ, Trần Nam L1 là trực chính Trung tâm và Phạm Văn K là trực phụ Trung tâm thực hiện các bước thao tác theo Phiếu thao tác 07/03/21 “Đưa thanh cái C21 từ vận hành ra sửa chữa”. Quá trình thực hiện các bước thao tác, Trần Nam L1 đã chủ quan, không giám sát chặt chẽ, không tuân thủ việc đọc các bước thao tác theo quy định; Phạm Văn K chưa nghe Lâm đọc bước thao tác cần thực hiện đã chủ quan, vộ vàng thực hiện sai thứ tự các bước thao tác trong Phiếu thao tác 07/03/21, thực hiện bước 13 “Cắt DCL275-1” trước khi thực hiện bước 12 “Đóng DCL275-2 (a,b,c)”, dẫn đến đến hiện tượng phóng hồ quang điện, gây cháy, chập điện, làm hư hỏng, thiệt hại về tài sản đối với các dao cách ly DCL 275-1 và DCL212-1, trị giá thiệt hại là 118.824.000đồng.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm các quy định của pháp luật về an toàn lao động, làm thiệt hại số tiền 118.824.000 đồng của Công ty Cổ phần N1, gây nguy cơ mất an toàn về tính mạng, sức khỏe cho người lao động, ảnh hưởng đến việc vận hành bình thường của các dây chuyền của công ty. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã làm việc tại công ty nhiều năm, được đào tạo bài bản, nhận thức rõ về các quy định vận hành, sửa chữa, bảo dưỡng máy móc, an toàn lao động nói chung và công việc “Đưa thanh cái C21 từ vận hành ra sửa chữa” nói riêng cần phải tuân thủ nghiêm ngặt từng bước theo quy định, theo phiếu thao tác cũng như mệnh lệnh của người có thẩm quyền nhưng vì ý thức chủ quan, vội vàng, các bị cáo L1 và K đã thực hiện hành vi vi phạm quy định an toàn trong lao động. Do đó, hành vi của các bị cáo Phạm Văn K và Trần Nam L1 đã đủ yếu tố cấu thành tội Vi phạm quy định về an toàn lao động theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 295 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.

[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; đã thành khẩn khai báo, tỏ thái độ thực sự ăn năn hối cải; sau khi thực hiện hành vi phạm tội, mỗi bị cáo đã nộp 59.412.000đồng để khắc phục toàn bộ hậu quả cho bị hại. Bị cáo L1 có bố, mẹ đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến, quá trình công tác bị cáo được tặng thưởng giấy khen do có thành tích xuất sắc, được tặng kỷ niệm chương, có nhiều đóng góp cho các quỹ ủng hộ tại đơn vị; Bị cáo K được tặng thưởng danh hiệu chiến sĩ thi đua cơ sở và nhiều giấy khen của đơn vị và Chi bộ Đảng, có sáng kiến kỹ thuật đóng góp cho sự phát triển của đơn vị; có nhiều đóng góp cho các quỹ ủng hộ tại đơn vị. Do đó, các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4]. Về nhân thân: Các bị cáo đều không có tiền án, tiền sự, trước khi phạm tội đều chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước, nội quy, quy chế của Công ty, có nhiều đóng góp cho đơn vị công tác.

[5]. Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo K và L1 đều là người thực hành, trong đó L1 là người giám sát, K là người thực hiện. Tại khoản 1 điều 13 thông tư số 44/2014/TT-BCT ngày 28 tháng 11 năm 2014 của Bộ C1 quy định: “02 người đều chịu trách nhiệm như nhau về thao tác”. Tuy nhiên, trong vụ án này, bị cáo K phải chịu trách nhiệm cao hơn vì là người trực tiếp thực hiện sai thao tác khi bị cáo L1 chưa kịp ra lệnh theo quy định.

[6] Về hình phạt chính: Xét thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, sau khi có hành vi vi phạm đã tự nguyện bồi thường cho bị hại toàn bộ hậu quả xảy ra nên Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với các bị cáo cũng đủ răn đe, giáo dục các bị cáo đồng thời thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.

[7]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo là công nhân lao động, là trụ cột trong gia đình. Bản thân các bị cáo đã bị kỷ luật với hình thức đình chỉ công tác, kéo dài thời hạn nâng lương 6 tháng, cắt thưởng, buộc phải nghiêm chỉnh học lại quy trình, quy phạm cũng như các quy định về an toàn lao động trong Công ty. Do đó, không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[8]. Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại đã gây ra cho bị hại. Bị hại không yêu cầu bồi thường khoản nào khác đối với các bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[9]. Về xử lý vật chứng: Đối với 02 Dao cách ly 275-1 và 212-1; 220 bình ắc quy NCX-23 1680 Ah gồm: 110 bình ắc quy điện 1 chiều của Tuabin 5 và 110 bình ắc quy điện 1 chiều của Tua bin 6 được thay thế sau sự cố ngày 16/03/2021 (bảo quản tại kho của Công ty cổ phần N1); 220 bình ắc quy NCX-23 1680 Ah (hiện đang được đặt tại phòng Ắc quy Tua bin 6, Công ty cổ phần N1) là tài sản của Công ty Cổ phần N1 cần trả lại Công ty cổ phần N1 theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[10]. Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[11]. Về các vấn đề khác:

[11.1]. Đối với ông Nguyễn Hoài N là trưởng ca và ông Nguyễn Đình M trưởng kíp điện, thực hiện nhiệm vụ và luôn có mặt tại phòng điều khiển Trung tâm để theo dõi, giám sát các thiết bị trong quá trình thực hiện phiếu thao tác, theo dõi qua bộ đàm, theo dõi tín hiệu thiết bị tại bảng điều khiển Trung tâm, trước khi thực hiện bước thao tác thứ 13 trước bước thao tác thứ 12, các bị cáo L1, K đã không đọc, không nhắc lại nội dung bước thao tác, mặt khác thực hiện bước thao tác nhanh nên ông N và ông M không thể phát hiện nên không kịp thời ngăn chặn, không có lỗi trong sự việc trên nên không có căn cứ xử lý.

[11.2]. Đối với hành vi của các bị cáo K, L1 và ông M tự ý thao tác các bước 8, 9 trước bước 6, 7 mà không báo ông Nguyễn Hoài N là cần thiết do phụ tải cao và không gây hậu quả nên không xem xét, xử lý trong vụ án này là phù hợp.

[11.3]. Về hậu quả thiệt hại khác: Sau khi xảy ra cháy, hư hỏng các dao cách ly DCL 275-1 và DCL 212-1 đã gây ra sự cố mất điện tại Dây chuyền 1 và tiếp tục lan sang Dây chuyền 2 làm hư hỏng hệ thống Tuabin, máy phát S6, dây chuyền 2, dẫn đến Công ty CP N1 phải tổ chức đấu thầu, thay thế, sửa chữa, giá trị gói thầu là: 145.132.455.401đồng. Việc thiệt hại là do thiết kế kỹ thuật của Máy cắt MC224 không có trang bị bảo vệ rơ le phù hợp nên sự cố không được bảo vệ bằng loại trừ chính. Thiệt hại này không phải là hậu quả do hành vi của bị cáo L1, K gây ra nên các bị cáo L1 và K1 không phải chịu trách nhiệm hình sự về thiệt hại này.

[11.4]. Đối với công tác theo dõi, vận hành, sửa chữa thiết bị của Công ty Cổ phần N1 đối với hệ thống tự dùng 1 chiều khối 5 và 6. Căn cứ tình trạng kỹ thuật của hệ thống accu (ắc quy), khuyến cáo về thời gian vận hành sử dụng của nhà sản xuất đối với các bộ ắc quy tự dùng một chiều của các Tổ máy S5, S6; kết quả việc tiểu tu, kiểm tra, bảo dưỡng trong quá trình vận hành Tổ máy S6 trước khi xảy ra sự cố; kết luận giám định của V2 Bộ C: Không có cơ cở xác định được nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thiệt hại xảy ra đối với Tuabin S6 dây chuyền 2. Việc sửa chữa hệ thống tự dùng đã được công ty triển khai, lên kế hoạch sửa chữa tuy nhiên còn chưa có quy định cụ thể trong việc sửa chữa trang thiết bị nên việc sửa chữa chưa được kịp thời. Do vậy, không có căn cứ xem xét về hành vi thiếu trách nhiệm hay hành vi vi phạm khác của lãnh đạo, cán bộ, nhân viên Công ty cũng như cá nhân trực tiếp dẫn đến thiệt hại xảy ra đối với Tuabin S6 dây chuyền 2 nhưng cần kiến nghị đến Công ty cổ phần N1 để xem xét hoàn thiện quy trình về sửa chữa, vận hành trang thiết bị của Công ty đảm bảo an toàn trong lao động.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn K và Trần Nam L1 phạm tội Vi phạm quy định về an toàn lao động.

2. Về điều luật áp dụng: Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 295; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQG14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

3. Về hình phạt chính

3.1. Xử phạt bị cáo Phạm Văn K 60.000.000đồng (sáu mươi triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.

3.2. Xử phạt bị cáo Trần Nam L1 50.000.000đồng (năm mươi triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.

4. Về xử lý vật chứng: Trả lại cho Công ty Cổ phần N1 02 Dao cách ly 275-1 và 212-1; 220 bình ắc quy NCX-23 1680 Ah gồm: 110 bình ắc quy điện 1 chiều của Tuabin 5 và 110 bình ắc quy điện 1 chiều của Tua bin 6 được thay thế sau sự cố ngày 16/03/2021 (bảo quản tại kho của Công ty cổ phần N1); 220 bình ắc quy NCX-23 1680 Ah (hiện đang được đặt tại phòng Ắc quy Tua bin 6, Công ty cổ phần N1)

(Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H và Công ty Cổ phần N1 ngày 04/07/2023).

5. Về án phí: Buộc các bị cáo Phạm Văn K và Trần Nam L1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bán án hoặc bản án được niêm yết.

7. Kiến nghị Công ty Cổ phần N1 hoàn thiện quy trình về sửa chữa, vận hành trang thiết bị của Công ty đảm bảo an toàn trong lao động.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Hải Dương;
  • - Cơ quan CSĐT - CA tỉnh Hải Dương;
  • - Phòng HSNV- CA tỉnh Hải Dương;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - Sở TP tỉnh Hải Dương;
  • - Vụ Giám đốc kiểm tra I - TANDTC;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Lưu: HSVA, THS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thúy Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 03/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về vi phạm quy định về an toàn lao động

  • Số bản án: 42/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về an toàn lao động
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn K +ĐP
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger