Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BỐ TRẠCH

TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2024/HSST

Ngày 02 - 7 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phú Quảng.

  • - Các hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Tuyết và bà Nguyễn Thị Hải.

  • - Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.

  • - Đại diện VKSND huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Phan Mạnh Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 21/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QĐXXST – HS ngày 03/6/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị H; giới tính: nữ; sinh ngày 07/8/1975 tại huyện C, tỉnh Quảng Trị; nơi đăng ký cư trú: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Quảng Trị; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: không đi học (không biết đọc và không biết viết); con ông Nguyễn Văn H và bà Trần Thị C (đã chết); chồng: chưa có; con: có 01 con, sinh 1994.

Tiền sự: không; tiền án: không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Bình từ ngày 04/8/2023 cho đến nay, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 13 giờ 45 phút ngày 03/08/2023, Lực lượng tuần tra Đồn Biên phòng Lý Hòa phối hợp với Phòng phòng chống ma túy và tội phạm, Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Bình tuần tra, kiểm soát địa bàn. Lực lượng tuần tra tới khu vực Km 638 + 417m, trên Quốc lộ 1A thuộc thôn Tân Lý, xã Hải Phú, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình thì phát hiện một người phụ nữ mặc áo khoác màu tím than, đang đi bộ theo hướng Nam - Bắc có dấu hiệu nghị vấn. Lực lượng tuần tra tiến hành kiểm tra đối với Nguyễn Thị H sinh năm 1975, trú tại thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Quảng Trị, phát hiện bên trong túi xách có một vỏ bao thuốc lá hiệu “JET”, màu trắng chứa hai gói nilon màu xanh; tiếp tục kiểm tra hai túi nilon màu xanh, bên trong chứa tổng cộng 301 viên nén hình tròn, màu hồng, trên một mặt mỗi viên có in chữ “WY” và 03 viên nén hình tròn, màu xanh, trên một mặt mỗi viên có in chữ “A”, mặt còn lại in chữ “Y1” (trong đó một gói nilon chứa 202 viên nén màu hồng và hai viên nén màu xanh; túi còn lại chứa 99 viên nén màu hồng và một viên nén màu xanh). Lực lượng tuần tra Bội đội Biên phòng lập biên bản phạm tội quả tang đối với Nguyễn Thị H và H đã khai nhận số viên nén nêu trên là ma túy tổng hợp nhận vận chuyển cho đối tượng tên “H1” (không rõ danh tính và địa chỉ) từ thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị ra khu vực “Đá nhảy” thuộc thôn Tân Lý, xã Hải Phú, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.

Tại bản kết luận giám định số 811/KL - KTHS ngày 05/8/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình, kết luận: 301 viên nén hình tròn, màu hồng, trên một mặt mỗi viên có in chữ “WY” là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 28,826g. Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, Số thứ tự: 247, Danh mục IIC, NĐ số 57/2022/NĐ - CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ; 03 viên nén hình tròn, màu xanh, trên một mặt mỗi viên có in chữ “A”, mặt còn lại in chữ “Y1” không phải là chất ma túy, khối lượng 0,256g.

Sau khi bị khởi tố bị cáo, Nguyễn Thị H thay đổi lời khai và khai nhận: có đối tượng tên “H1” (không rõ danh tính và địa chỉ) có nhờ H đưa một gói hàng từ một người bạn ở thành phố Đồng Hà gửi ra, bị cáo đồng ý. Trong lúc, bị cáo đang điện thoại nói chuyện với “H1” thì có một người đàn ông lạ mặt (không rõ danh tính và địa chỉ) tới gặp bị cáo và nhét vào túi xách của bị cáo một gói đồ, rồi nói “gửi ốc vít ra cho H1”, thì bị cáo đồng ý (Bị cáo không biết trong đó có ma túy). Đến 13 giờ 45 phút, cùng ngày Bị cáo ra đến khu vực “Đá nhảy” thì bị Lực lượng Biên phòng kiểm tra, phát hiện và thu giữ số ma túy trên (bút lục số: 06 - 09; 59 - 63; 69 - 77; 80 - 84; 87 - 105).

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Quá trình bắt quả tang đã thu: 01 túi xách có một vỏ bao thuốc lá hiệu “JET”, màu trắng chứa hai gói nilon màu xanh, bên trong chứa tổng cộng 301 viên nén hình tròn, màu hồng, trên một mặt mỗi viên có in chữ “WY” và 03 viên nén hình tròn, màu xanh, trên một mặt mỗi viên có in chữ “A”, mặt còn lại in chữ “Y1” (trong đó một gói nilon chứa 202 viên nén màu hồng và hai viên nén màu xanh; túi còn lại chứa 99 viên nén màu hồng và một viên nén màu xanh); 01 điện thoại di động hiệu OPPO A16K, gắn sim có số 0353.883.727; 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Thị H, số [...]; Thu giữ nơi ở của Nguyễn Thị H, 01 viên nén hình tròn, màu hồng có khối lượng 0,093 gam là chất ma túy loại Methamphetamine (đã giám định hết). Đã xử lý, trả lại cho Nguyễn Thị H 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Thị H, số [...], các vật chứng còn lại hiện chưa xử lý (bút lục số: 61- 68; 106 - 109).

Tại bản Cáo trạng số 25/CT - VKSBT ngày 25/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình truy tố bị cáo Nguyễn Thị H, về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 250 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo tội danh và điều khoản của Bộ luật hình sự đã nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự; Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội 14 quy định về án phí, lệ phí tòa án đối với bị cáo Nguyễn Thị H.

Đề nghị xử phạt:

Nguyễn Thị H từ 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ sau đó tạm giam từ ngày 04/8/2023.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

Vật chứng vụ án:

Số vật chứng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bố Trạch đã xử lý đúng pháp luật, nên miễn xét.

Số vật chứng còn lại đề nghị xử lý như sau:

Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì thư dán kín, có số 811/KL KTHS, được niêm phong có chữ ký của những người tham gia niêm phong và có hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình (Theo kết luận giám định số 811/KL – KTHS ngày 05/8/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình, bên trong chứa toàn bộ võ bao gói và 28,58g mẫu ký hiệu A1, hoàn trả sau giám định); một phong bì thư dán kín, có số 811/KL KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình (bên trong chứa võ bao gói hoàn trả sau giám định) là vật nhà nước cấm lưu hành; tịch thu tiêu huỷ 01 túi xách vãi màu đen (không có nhãn hiệu), 01 võ bao thuốc lá nhãn hiệu ZET màu trắng không có giá trị sử dụng; tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu OPPO A16K, võ màu xanh dương, bên góc phía bên phải mặt sau bị vỡ, bên ngoài có ốp võ màu hồng, có số seri ONIRQWLZMZY9UJ7, IME 1 SỐ 861063055178715, IME 2 số 861063055178707, gắn sim có số 0353.883.727 là công cụ dùng vào việc phạm tội.

Số vật chứng nói trên hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.

Quá trình điều tra tiến hành xác minh số thuê bao 0333546145 (có số đuôi 145 theo lời khai của H là số của đối tượng H1 đã liên lạc với H), do nhà mạng Viettel cung cấp thuộc chủ thuê bao mang tên Trần Văn H3 sinh ngày 22/02/1990, trú tại xã G, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Tiến hành làm việc với H3 thì H3 khẳng định H3 không đăng ký, không sử dụng số thuê bao trên và không biết Nguyễn Thị H là ai; Tiến hành tổ chức nhận dạng qua ảnh (trong đó có ảnh của Trần Văn H3), thì Nguyễn Thị H không biết H3 là ai và không có người tên “H2” trong các ảnh đưa ra nhận dạng. Nên không có căn cứ để xử lý đối với đối tượng tên “Hòa”.

Đối với 01 viên nén hình tròn, màu hồng, trên bề mặt có nhiều vết xước được thu giữ tại nơi ở của Nguyễn Thị H tại Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Quảng Trị là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,093gam. H không thừa nhận là của H nên không có căn cứ để xử lý.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà, bị cáo nói lời sau cùng là đã thấy được hành vi của mình thực hiện là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét, cân nhắc cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ để có điều kiện cải tạo tốt, trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bố Trạch, Điều tra viên Công an huyện Bố Trạch, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội và tội danh của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, không gian, thời gian, địa điểm các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội bị phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và khám xét thu giữ tang vật hoàn toàn phù hợp nhau. Do đó Hội đồng xét xử có cơ sở xác định:

Methamphetamine là chất ma túy bị pháp luật Việt Nam nghiêm cấm vận chuyển trái phép dưới mọi hình thức, nhưng vào lúc 13 giờ 45 phút, ngày 03/8/2023 tại Km 638 + 417m, trên Quốc lộ 1A thuộc thôn Tân Lý, xã Hải Phú, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Nguyễn Thị H đang có hành vi vận chuyển trái phép 28,826gam ma túy loại Methamphetamine cho một đối tượng tên “H1” không rõ danh tính và địa chỉ, thì bị Lực lượng Bộ đội Biên phòng Lý Hòa và Phòng phòng chống ma túy và tội phạm, Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Bình phát hiện và bắt giữ quả tang.

Tại phiên toà sơ thẩm hôm nay một lần nữa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình là do xuất phát tình cảm giữa bị cáo và đối tượng tên H1, nên khi được H1 nhờ bị cáo vận chuẩn ma tuý từ Thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị ra xã Hải Phú, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình để giao cho H1 nên bị cáo nhận lời và thực hiện, đồng thời xác định nội dung vụ án như trình bày tại lời khai ở thời điểm bị lực lượng Bộ đội Biên phòng bắt người phạm tội quả tang và tại phiên toà ngày hôm nay là hoàn toàn đúng. Hành vi của Nguyễn Thị H là nguy hiểm cho xã hội, nên H phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” quy định tại điểm h khoản 2 Điều 250 Bộ luật hình sự. Đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch đã truy tố và phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên toà.

[3] Xét tính chất hành vi, mức độ hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra trong vụ án, thấy rằng:

Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thị H là rất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi có ý trực tiếp, hành vi đó không những xâm phạm trực tiếp đến các quy định của Nhà nước trong việc quản lý, kiểm soát các chất kích thích, chất gây nghiện mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an, an toàn xã hội nói chung, gây nên những hậu quả lâu dài về nhiều mặt cho xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội khác và bị xã hội lên án. Bị cáo biết rõ như vậy nhưng do ý thức không chấp hành pháp luật nên đã phạm tội, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch đã truy tố đối với bị cáo về tội danh theo điều khoản của điều luật nêu trên và kết luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Do đó đối với bị cáo cần đánh giá quá trình nhân thân, cân nhắc tình tiết giảm nhẹ để xử phạt mức án tương xứng với tính chất, mức độ hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và cần áp dụng mức hình phạt tù đối với bị cáo nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung về loại tội phạm này.

[4] Về nhân thân bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt.

[5] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Thị H không có tình tiết tăng nặng.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ:

Sau khi bị khởi tố bị cáo, Nguyễn Thị H thay đổi lời khai và khai nhận: có nhận lời với đối tượng tên “H1” (không rõ danh tính và địa chỉ) để vận chuyển một gói hàng từ một người bạn ở thành phố Đồng Hà gửi ra cho Hoà, nhưng không biết trong gói hàng đó là ma tuý.

Tuy nhiên tại phiên toà bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và khẳng định việc bắt giữ quả tang hành vi phạm tội của lực lượng Biên phòng, việc khởi tố, điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bố Trạch, việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch đối với bị cáo về tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý” là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập tại hồ sơ vụ án, nên cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là đúng quy định. Ngoài ra cũng cần xem xét đến hoàn cảnh nhân thân, gia đình của bị cáo, đó là bị cáo là người không được đi học (không biết đọc, biết viết, chỉ ký được tên của bị cáo), bản thân không có chồng, nhưng có một người con, không có nghề nghiệp ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn...để xem xét khi lượng hình là phù hợp.

[7] Về hình phạt chính: Trên cơ sở những tình tiết của vụ án, Hội đồng xét xử cân nhắc, đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ nhiệm hình sự, nguyên nhân khách quan, yếu tố chủ quan, tính nhân đạo của pháp luật để quyết định hình phạt đảm bảo tính giáo dục và trừng trị mang tính thuyết phục đối với bị cáo.

Theo đó, Nguyễn Thị H phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý” với khối lượng lớn theo tang số của khung hình phạt điều luật quy định (28,826 gam ma túy loại Methamphetamine) nên cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian khá dài đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

[8] Về hình phạt bổ sung: Hiện nay bị cáo chưa có công việc làm thường xuyên, thất thường, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.

[9] Về vật chứng vụ án:

Số vật chứng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bố Trạch đã xử lý đúng pháp luật, nên miễn xét.

Số vật chứng còn lại xử lý như sau:

Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì thư dán kín, có số 811/KL KTHS, được niêm phong có chữ ký của những người tham gia niêm phong và có hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình (Theo kết luận giám định số 811/KL – KTHS ngày 05/8/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình, bên trong chứa toàn bộ võ bao gói và 28,58g mẫu ký hiệu A1, hoàn trả sau giám định); một phong bì thư dán kín, có số 811/KL KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình (bên trong chứa võ bao gói hoàn trả sau giám định) là vật nhà nước cấm lưu hành; tịch thu tiêu huỷ 01 túi xách vãi màu đen (không có nhãn hiệu), 01 võ bao thuốc lá nhãn hiệu ZET màu trắng không có giá trị sử dụng; tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu OPPO A16K, võ màu xanh dương, bên góc phía bên phải mặt sau bị vỡ, bên ngoài có ốp võ màu hồng, có số seri ONIRQWLZMZY9UJ7, IME 1 SỐ 861063055178715, IME 2 số 861063055178707, gắn sim có số 0353.883.727 là công cụ dùng vào việc phạm tội.

Số vật chứng nói trên hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự; Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội 14 quy định về án phí, lệ phí tòa án đối với bị cáo Nguyễn Thị H.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

  2. Về hình phạt: Xử phạt:

    Nguyễn Thị H 09 (chín) năn 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ sau đó tạm giam từ ngày 04/8/2023.

    Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án (02/7/2024) theo Quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử.

  3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

  4. Về xử lý vật chứng vụ án:

    Số vật chứng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bố Trạch đã xử lý đúng pháp luật, nên miễn xét.

    Số vật chứng còn lại xử lý như sau:

    Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì thư dán kín, có số 811/KL KTHS, được niêm phong có chữ ký của những người tham gia niêm phong và có hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình (Theo kết luận giám định số 811/KL – KTHS ngày 05/8/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình, bên trong chứa toàn bộ võ bao gói và 28,58g mẫu ký hiệu A1, hoàn trả sau giám định); một phong bì thư dán kín, có số 811/KL KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình (bên trong chứa võ bao gói hoàn trả sau giám định) là vật nhà nước cấm lưu hành; tịch thu tiêu huỷ 01 túi xách vãi màu đen (không có nhãn hiệu), 01 võ bao thuốc lá nhãn hiệu ZET màu trắng không có giá trị sử dụng; tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu OPPO A16K, võ màu xanh dương, bên góc phía bên phải mặt sau bị vỡ, bên ngoài có ốp võ màu hồng, có số seri ONIRQWLZMZY9UJ7, IME 1 SỐ 861063055178715, IME 2 số 861063055178707, gắn sim có số 0353.883.727 là công cụ dùng vào việc phạm tội.

    Số vật chứng nói trên hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/4/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bố Trạch và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bố Trạch.

  5. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

  6. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (02/7/2024) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử phúc thẩm vụ án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh QB;
  • - Sở TP tỉnh QB;
  • - VKSND tỉnh QB;
  • - PV 06 (Phòng Hồ sơ nghiệp vụ CAQB);
  • - VKSND huyện BT;
  • - Công an huyện BT;
  • - Cơ quan THAHS Bố Trạch;
  • - Chi cục THABT;
  • - UBND TT Hoàn Lão, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình;
  • - UBND xã C, huyện C, tỉnh Quảng Trị;
  • - Thi hành án hình sự TA;
  • - Bị cáo................................;
  • - Lưu HSVA;
  • - Lưu AV;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Phú Quảng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/HSST ngày 02/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH về vận chuyển trái phép chất ma túy (criminal case)

  • Số bản án: 42/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vận chuyển trái phép chất ma túy (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự; Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội 14 quy định về án phí, lệ phí tòa án đối với bị cáo Nguyễn Thị H. [1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. [2] Về hình phạt: Xử phạt: Nguyễn Thị H 09 (chín) năn 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ sau đó tạm giam từ ngày 04/8/2023. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án (02/7/2024) theo Quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử. [3] Về hình phạt bồ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. [4] Về xử lý vật chứng vụ án: Số vật chứng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bố Trạch đã xử lý đúng pháp luật, nên miễn xét. Số vật chứng còn lại xử lý như sau: Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì thư dán kín, có số 811/KL KTHS, được niêm phong có chữ ký của những người tham gia niêm phong và có hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình (Theo kết luận giám định số 811/KL – KTHS ngày 05/8/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình, bên trong chứa toàn bộ võ bao gói và 28,58g mẫu ký hiệu A1, hoàn trả sau giám định); một phong bì thư dán kín, có số 811/KL KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình (bên trong chứa võ bao gói hoàn trả sau giám định) là vật nhà nước cấm lưu hành; tịch thu tiêu huỷ 01 túi xách vãi màu đen (không có nhãn hiệu), 01 võ bao thuốc lá nhãn hiệu ZET màu trắng không có giá trị sử dụng; tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu OPPO A16K, võ màu xanh dương, bên góc phía bên phải mặt sau bị vỡ, bên ngoài có ốp võ màu hồng, có số seri ONIRQWLZMZY9UJ7, IME 1 SỐ 861063055178715, IME 2 số 861063055178707, gắn sim có số 0353.883.727 là công cụ dùng vào việc phạm tội. Số vật chứng nói trên hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/4/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bố Trạch và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bố Trạch. [5] Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước. [6] Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (02/7/2024) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử phúc thẩm vụ án.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger