|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI TỈNH BẠC LIÊU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 42/2024/HS-ST Ngày 01 – 08 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI, TỈNH BẠC LIÊU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Trung
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Nhạn
- Bà Cao Thị Mỹ Phượng
- - Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trần Công Minh – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Mộng - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 08 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 32/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 05 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 06 năm 2024, đối với bị cáo:
Trịnh Hoàng N, sinh ngày 05/12/1996, tại Bạc Liêu; nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Khóm A, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Văn H, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị Hồng V, sinh năm 1966; vợ là Vũ Hải B (đã ly hôn); con: 01 người sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị khởi tố ngày 24/01/2024 và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Phan Ngọc T, là Luật sư của Văn phòng L và Cộng S, Chi nhánh thị xã G (có mặt).
- Bị hại:
- Anh Trương Tiến T1, sinh năm 2000 (vắng mặt)
- Địa chỉ: Khóm A, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.
- Chị Hồ Thanh T2, sinh năm 2005 (vắng mặt)
- Địa chỉ: Khóm A, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 14/4/2023, bị cáo Trịnh Hoàng Nguyễn n thấy anh Trương Tiến T1 điều khiển xe mô tô màu xanh – đen – trắng, nhãn hiệu Honda Vario, loại 150 phân khối, mang biển kiểm soát 94D1 – 584.78 đi ngang nhà Nguyễn thuộc khóm A, phường H, thị xã G, nghĩ anh T1 cố ý tăng ga xe gây tiếng ồn lớn nên N điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 94D1 – 420.64 do bà Nguyễn Thị Hồng V (mẹ ruột N) là chủ sở hữu đuổi theo sau, khi đi Nguyễn mang theo một dao tự chế, một can nhựa chứa chất cồn, một hột quẹt gas. Khi Nguyễn n thấy anh T1 dừng và đậu xe trên lề đường thuộc khu vực bến xe Hộ P, khóm A, phường H, thị xã G để đi vào nhà người thân thì N dừng xe lại, đi đến nơi xe anh T1, Nguyễn d chân đạp, dùng dao chém, dùng cồn đổ lên xe và dùng hột quẹt gas đốt cháy hoàn toàn xe mô tô nêu trên và số tiền 2.000.000 đồng của chị Hồ Thanh T2 (vợ ông T1) để bên trong cốp xe. Sự việc được anh T1 trình báo Công an phường H, tại hiện trường lực lượng Công an thu giữ một con dao, một can có chứa cồn, một hột quẹt gas là công cụ thực hiện hành vi phạm tội. Quá trình điều tra, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 50 ngày 11/5/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thị xã G, kết luận: 01 (một) chiếc xe mô tô màu xanh, đen, trắng; nhãn hiệu Honda Vario, loại 150 phân khối, mang biển số 94D1-584.78, có giá trị còn lại tại thời điểm yêu cầu định giá là 47.850.000 đồng.
Tại Kết luận giám định số: 3739 ngày 06/7/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Dung dịch trong suốt trong can nhựa được niêm phong gửi giám định tìm thấy thành phần F. Fluoroethane là dẫn xuất dễ bay hơi của ethane, xuất hiện dưới dạng khí dễ cháy, không màu, không mùi.
Tại Kết luận Giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số: 337 ngày 12/09/2023 của Trung tâm P, kết luận: Về y học: Trước, trong, sau ngày 14/04/2023 và hiện tại: Rối loạn nhân cách, hành vi do sử dụng nhiều loại ma túy và các chất tác động tâm thần khác (F19.71 – ICD10). Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Tại thời điểm ngày 14/04/2023 và hiện tại: Đương sự hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Bị hại Trương Tiến T1 đã được bị cáo bồi thường xong và không có yêu cầu gì khác; bị hại Hồ Thanh T2 không yêu cầu bị cáo bồi thường về trách nhiệm dân sự. Các bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại bản Cáo trạng số: 31/CT-VKS-HS ngày 08/05/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu truy tố bị cáo Trịnh Hoàng N về tội “Hủy hoại tài sản”, theo điểm d khoản 2 Điều 178 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Kiểm sát viên giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Trịnh Hoàng N phạm tội “ “Hủy hoại tài sản”.
Về hình phạt:
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 178; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trịnh Hoàng N từ 02 năm đến 03 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy: 01 hột quẹt gas, 01 cây dao và 01 can nhựa màu trắng đục.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại không yêu cầu, nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
- Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Về tội danh Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng quy định pháp luật, nên không tranh luận về tội danh. Về hình phạt: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, đồng thời theo kết luận giám định tâm thần bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi do sử dụng nhiều ma túy và các chất kích thích khác, mặc dù không được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định, nhưng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo. Thống nhất áp dụng tình tiết tăng năng trách nhiệm hình sự “có tính chất côn đồ” đối với bị cáo. Do bị cáo có 2 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 1 và 1 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, quyết định hình phạt dưới khung liền kề khung hình phạt Viện kiểm sát truy tố với mức hình phạt thấp nhất.
- Bị cáo Trịnh Hoàng Nguyễn thành k khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Các bị hại đã được Toà án triệu tập hợp lệ và có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử xét thấy các bị hại đã có lời khai tại Cơ quan điều tra, không có yêu cầu về trách nhiệm dân sự, sự vắng mặt của các bị hại không trở ngại gì cho việc xét xử, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các bị hại theo khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo trong vụ án:
[3.1] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát nêu trên. Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các lời khai của bị cáo, bị hại, trong quá trình điều tra; phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận định giá, kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ căn cứ xác định: Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 14/4/2023 tại khóm A, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu, vì nguyên cớ nhỏ nhặt bị cáo có hành vi dùng dao chém và dùng cồn đổ lên một xe mô tô màu xanh – đen – trắng, nhãn hiệu Honda Vario, loại 150 phân khối, biển kiểm soát 94D1 – 584.78 của anh T1 và dùng hột quẹt gas bật lửa đốt làm hư hỏng toàn bộ chiếc xe, qua định giá tài sản bị hủy hoại là 47.850.000 đồng và số tiền Việt Nam 2.000.0000 đồng của chị T2 cất giữ bên trong cốp xe bị cháy hoàn toàn. Thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Với hành vi nêu trên, bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai truy tố về tội “Hủy hoại tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 178 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.
[3.2] Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ. Chỉ vì bực tức, khó chịu khi nghe tiếng pô xe nổ lớn của anh T1, bị cáo không kiềm chế được bản thân nên đã thực hiện hành vi phạm tội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương; cần có mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, nhằm giáo dục, răn đe và cải tạo ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo và để phòng ngừa chung trong xã hội.
[3.3] Tuy nhiên, trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị hại bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo phạm tội có tính chất côn đồ, nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại không yêu cầu về trách nhiệm dân sự, nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
[5] Về xử lý vật chứng: 01 hột quẹt gas, 01 cây dao và 01 can nhựa màu trắng đục là công cụ phạm tội, nên tịch thu, tiêu hủy.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[7] Như đã phân tích nêu trên, có căn cứ chấp nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa và chấp nhận một phần đề nghị của người bào chữa cho bị cáo.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trịnh Hoàng N phạm tội “Hủy hoại tài sản”.
Về hình phạt:
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 178; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trịnh Hoàng Nguyễn 0 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) hột quẹt gas màu trắng xanh, bên trong hột quẹt có 02 viên xí ngầu màu vàng, đỏ; 01 (một) cây dao dài 28,2cm, phần cán dao bằng gỗ dài 11cm, phần lưỡi dao màu trắng dài 17,2cm và 01 (một) can nhựa màu trắng đục, loại can 4,5 lít, bên ngoài can có ghi chữ “Cồn 90°”.
(Vật chứng nêu trên đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản được lập ngày 03/06/2024).
Về án phí: Căn cứ các Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Trịnh Hoàng N phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; những người tham gia tố tụng khác vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quốc Trung |
Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 01/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI, TỈNH BẠC LIÊU về hình sự - hủy hoại tài sản
- Số bản án: 42/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Hủy hoại tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI, TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hủy hoại tài sản
