Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẠI LỘC

TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 42 /2024/HSST.

Ngày: 30/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI LỘC, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

+ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng P

+ Các Hội thẩm nhân dân:

Tào Thị Bích T

Bùi Thị H

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Nguyệt S - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Trung T1- Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 25/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024; đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Võ Đức K - Giới tính: nam; Tên gọi khác: không; Ngày sinh: 20 tháng 10 năm 1972 tại huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: thôn V, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: nông; Con ông: Võ Minh Q (sinh năm: 1948) và bà Nguyễn Thị B (sinh năm: 1952) đều làm nông và cùng trú tại thôn V, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; Bị cáo là con thứ hai trong gia đình có 03 anh em; Vợ: Trần Thị N (sinh năm:1979) hiện làm nông và trú tại thôn V, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; Bị cáo có 2 người con sinh năm 2006 và năm 2013;

Tiền án, tiền sự: chưa.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt tại phiên toà.

2. Họ và tên: Trần Văn T2 - Giới tính: nam;

Tên gọi khác: không;

Ngày sinh: 01 tháng 01 năm 1975 tại huyện Đ, tỉnh Quảng Nam;

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: thôn L, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không;

Trình độ học vấn: 07/12;

Nghề nghiệp: nông;

Con ông: Trần Văn P1 (sinh năm: 1944) và bà Hồ Thị S1 (sinh năm: 1947) đều làm nông và cùng trú tại thôn L, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam;

Bị cáo là con út trong gia đình có 06 anh em;

Vợ: Võ Thị Hải V (sinh năm 1980) làm nông và trú tại thôn L, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam;

Bị cáo có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2002;

Tiền án, tiền sự: chưa.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt tại phiên toà.

2. Những người tham gia tố tụng:

* Các bị cáo:

Những người tham gia tố tụng:

- Các bị cáo:

1/ Họ và tên: Võ Đức K; Sinh ngày 20 tháng 10 năm 1972

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn V, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam.

2/ Họ và tên: Trần Văn T2; sinh ngày 01 tháng 01 năm 1975

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn L, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Đồng Quang K1, sinh năm 1985 (vắng mặt);

Nơi làm việc: Phòng C Công an tỉnh Q.

Nơi thường trú: K Mỹ T, H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam.

2/ Nguyễn Văn Q1, sinh năm 1985; (có mặt).

Nơi làm việc: Phòng C Công an tỉnh Q.

Nơi thường trú: Khối phố 2, A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam.

3/ Rô Man T3, sinh năm 1973; (có mặt).

Nơi làm việc: Đội cảnh sát giao thông số B2 phòng C Công an tỉnh Q.

Nơi thường trú: Tổ dân phố số 2, K, P, tỉnh Quảng Nam.

4/ Nguyễn Thắng T4, sinh năm 2004, vắng mặt

Nơi làm việc: Đội cảnh sát giao thông số B2 phòng C Công an tỉnh Q.

Nơi thường trú: Thôn T, xã T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam.

Nơi ở hiện tại: Đội cảnh sát giao thông đường bộ số B2 phòng cảnh sát giao thông thị trấn C, huyện N, tỉnh Quảng Nam.

5/ Võ Q2, sinh năm 1978; có mặt

Nơi làm việc: Phòng C Công an tỉnh Q

Nơi thường trú: Kp P, H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam.

- Người làm chứng:

1/ Ông Bùi Quốc V1, sinh năm 1981; vắng mặt

Trú tại: thôn N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam.

2/ Bà Nguyễn Thị B1, sinh năm 1955; vắng mặt

Trú tại: thôn N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 07/10/2023, sau khi uống rượu thì Võ Đức K điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 74F3-1414 chở Trần Văn T2 đi từ thôn V, xã Đ đến xã Đ, huyện Đ theo đường Q nhưng cả hai không đội mũ bảo hiểm. Khi đến thôn N, xã Đ, huyện Đ thì gặp Tổ tuần tra thuộc Phòng CSGT Công an tỉnh Q do ông Võ Q2 (sinh năm: 1978, trú khối phố P, phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam) làm Tổ trưởng cùng các ông Nguyễn Văn Q1 (sinh năm: 1985, trú Khối phố B, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam), Đồng Quang K1 (sinh năm: 1985, trú khối phố M, phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam), Rô Man T3 (sinh năm: 1973, trú Tổ dân phố B, thị trấn K, huyện P, tỉnh Quảng Nam), Nguyễn Thắng T4 (sinh năm: 2004, trú thôn T, xã T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam) đang tuần tra kiểm soát xử lý vi phạm về nồng độ cồn theo Kế hoạch số 66/KH-TTKS ngày 01/10/2023 của Phòng CSGT Công an tỉnh Q và Kế hoạch tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ ngày 07/10/2023 của Đội CSGT đường bộ số 02 thuộc Phòng C Công an tỉnh Q. Lúc này, ông Võ Q2 ra hiệu lệnh dừng xe thì K chấp hành và dắt xe vào kiểm tra. Trong lúc kiểm tra, KT2 xin Tổ tuần tra bỏ qua lỗi vi phạm của mình nhưng không được nên bực tức, K dùng lời nói xúc phạm ông Võ Q2 (là người đang trực tiếp xử lý vụ việc), T2 dùng tay chỉ vào Tổ tuần tra và hăm dọa: “xe ta để đó thằng mô đụng vô ta chặt”. Đồng thời, T2 tự ý dắt xe ra khỏi khu vực đang kiểm tra thì bị ông Võ Quang n lại, T2 nói tục, thách thức và giằng co xe mô tô 74F3-1414 với ông Võ Q2. Cùng lúc đó, K thấy tại khu vực hàng rào nhà bà Nguyễn Thị B1 (sinh năm: 1955, trú thôn N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam) có một cái xẻng (lưỡi bằng sắt, cán bằng gỗ tre dài khoảng 1,5m) nên chạy đến nhặt rồi đánh một cái theo hướng từ trên xuống dưới trúng vào đầu ông Võ Q2 gây thương tích và làm rơi máy đo nồng độ cồn ông Q2 đang cầm xuống đất hư hỏng. Thấy K có hành vi dùng cái xẻng đánh vào đầu mình và hành vi của K có khả năng uy hiếp đến tính mạng của những người trong tổ tuần tra nên ông Q2 rút khẩu súng K59 được trang bị trong người ra bắn 03 phát chỉ thiên để K dừng lại. Sau đó, súng cướp cò và đạn trúng vào vùng nách sau của K gây thương tích. K và ông Q2 được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Đa khoa khu vực miền núi phía Bắc Quảng Nam, ngày 09/10/2023 ông Q2 xuất viện, ngày 18/10/2023 K xuất viện.

Vật chứng của vụ án và xử lý vật chứng:

- 01 lưỡi xẻng bằng kim loại có kích thước 22cm x 40cm; 01 đoạn cây bằng tre dài 1,28m; 03 vỏ đạn bằng kim loại; 01 máy đo nồng độ cồn hiệu Antatech màu đen đã bị bể vỡ,

hư hỏng hoàn toàn. (Các vật chứng đã được niêm phong và hiện do Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ quản lý).

- 01 xe mô tô Honda, loại xe Dream biển kiểm soát 74F3-1414; 01 khẩu súng K59, số hiệu: BA341101; 01 hộp tiếp đạn súng K59; 01 viên đạn bằng kim loại màu vàng đồng (Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã trao trả cho chủ sở hữu bảo quản và sử dụng).

Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 854/KLTTCT-TTPY ngày 02/11/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Q đối với Võ Đức K như sau:

“ - 01 sẹo kích thước nhỏ mặt trước trong đoạn 1/3 trên cánh tay trái;

- 01 sẹo kích thước nhỏ vùng ngực, tương ứng khoang gian sướng IV, V trên đường nách sau bên trái;

- 01 sẹo kích thước nhỏ vùng lưng, sát phía trong góc dưới xương bả vai trái;

- 01 sẹo mổ kích thước nhỏ vùng lưng, sát phía ngoài góc dưới xương bả vai trái; cách vết một này về bên trái 2.8cm có 01 sẹo mổ kích thước nhỏ.

Kết luận phần trăm tổn thương cơ thể của Võ Đức K tại thời điểm giám định là 05%”

Tại Kết luận giám định thương tích số 857/KLTTCT-TTPY ngày 01/11/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Q đối với ông Võ Q2 như sau:

“ - Chấn động não đã được điều trị ổn định;

- Dấu sưng nề vùng đỉnh trái hiện đã khỏi, kiểm tra không thấy dấu vết gì.

Kết luận phần trăm tổn thương cơ thể của ông Võ Q2 tại thời điểm giám định là 01%”.

Tại Kết luận định giá tài sản số 13/KL-HĐĐGTS ngày 25/03/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ đã kết luận: máy đo nồng độ cồn hiệu Antatech, kiểu máy PRODIGY 2 có giá trị là 15.333.000 đồng.

Ngày 21/11/2023 và ngày 23/11/2023, ông Võ Q2, Võ Đức K có đơn yêu cầu không khởi tố vụ án hình sự về hành vi “Chống người thi hành công vụ”.

Về dân sự: sau khi vụ án xảy ra, ông Võ Q2Võ Đức K không yêu cầu bồi thường về dân sự. Ông Đồng Quang K1 là đại diện theo ủy quyền của Phòng C Công an tỉnh Q không yêu cầu bồi thường về thiệt hại đối với máy đo nồng độ cồn.

Tại cáo trạng số 21/CT-VKSĐL ngày 22/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Lộc truy tố bị cáo Võ Đức KhánhTrần Văn Thạnh về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự năm 2015. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam giữ nguyên quan điểm truy tố đồng thời đề nghị áp dụng: Khoản 1 Điều 330, điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 65. BLHS xử phạt bị cáo Võ Đức K từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xử phạt bị cáo Trần Văn T2 từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng khai báo phù hợp với bị cáo và nội dung bản cáo trạng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo không bị ép cung, mớm cung, dùng nhục hình mà đã được Điều tra viên, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phổ biến về quyền, nghĩa vụ của mình trong từng giai đoạn tố tụng và tự khai báo về hành vi phạm tội của mình. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên; Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1]. Về tội danh và khung hình phạt: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Võ Đức KTrần Văn T2 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Hội đồng xét xử có cơ sở xác định được: Khoảng 18 giờ ngày 07/10/2023, khi Võ Đức K điều khiển xe mô tô 74F3-1414 chở Trần Văn T2 đi từ thôn V, xã Đ đến xã Đ, huyện Đ theo đường Q, khi đến thôn N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam thì bị Tổ tuần tra thuộc Phòng CSGT Công an tỉnh Q dừng xe để kiểm tra theo chuyên đề. Trong lúc kiểm tra Trần Văn T2 có hành vi dùng lời nói, cử chỉ xúc phạm, giằng co chiếc xe mô tô 74F3-1414 với Tổ tuần tra và Võ Đức K có hành vi dùng chiếc xẻng đánh vào đầu ông Võ Q2 là Tổ trưởng Tổ tuần tra để cản trở việc thi hành nhiệm vụ của Tổ tuần tra thuộc Phòng CSGT Công an tỉnh Q.

Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Võ Đức KTrần Văn T2 phạm tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự 2015 như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Lộc truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2.2] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo thì thấy: Các bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, hiểu biết pháp luật nhng các bị cáo coi thường pháp luật, hành vi chống ngời thi hành công vụ của các bị cáo nhằm chống vào những người đang thi hành công vụ đó là lực lượng cảnh h sát giao thông công an tỉnh Q. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến các hoạt động đúng đắn của các cơ quan Nhà nước, làm giảm hiệu lực quản lý hành chính của cơ quan Nhà nớc tại địa phơng nói riêng và của huyện Đ nói chung. Hành vi trái pháp luật của các bị cáo nhằm thách thức pháp luật, gây bất bình trong quần chúng nhân dân tại địa phơng. Do vậy, cần phải đợc xử lý nghiêm minh để có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, xét thấy quá trình điều tra, Võ Đức KTrần Văn T2 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Bị cáo K có ông N1 là Liệt sĩ. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo là phù hợp với quy định pháp luật. HĐXX xét thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, có nhân thân tốt; có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, việc không bắt các bị cáo đi chấp hành hình phạt tù không gây ảnh hưởng xấu trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Do đó, HĐXX xét thấy chỉ cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và giao cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát và giáo dục cũng đủ cải tạo các bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội.

* Vật chứng vụ án:

- Cần tuyên tịch thu tiêu huỷ 01 lưỡi xẻng bằng kim loại có kích thước 22cm x 40cm; 01 đoạn cây bằng tre dài 1,28m; 03 vỏ đạn bằng kim loại;

Tuyên trả lại 01 máy đo nồng độ cồn hiệu Antatech màu đen đã bị bể vỡ, hư hỏng hoàn toàn cho Phòng C công an tỉnh Q.

(Các vật chứng đã được niêm phong và hiện do Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ quản lý).

- 01 xe mô tô Honda, loại xe Dream biển kiểm soát 74F3-1414; 01 khẩu súng K59, số hiệu: BA341101; 01 hộp tiếp đạn súng K59; 01 viên đạn bằng kim loại màu vàng đồng (Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã trao trả cho chủ sở hữu bảo quản và sử dụng) là phù hợp nên không xem xét.

* Các vấn đề khác trong vụ án:

Trong vụ án này, Võ Đức K có hành vi gây thương tích cho ông Võ Q2 với tỷ lệ thương tích 01%, ông Võ Q2 có đơn yêu cầu không khởi tố vụ án hình sự nên Công an huyện Đ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Võ Đức K là phù hợp.

Đối với ông Võ Q2 trong lúc thi hành nhiệm vụ thấy Võ Đức K dùng cái xẻng đánh vào đầu mình, đồng thời uy hiếp đến tính mạng của các đồng chí trong Tổ tuần tra nên rút súng K59 được trang bị ra bắn chỉ thiên để K dừng lại, đến phát thứ 4 thì súng bị cướp cò nên trúng vào vùng nách sau của K gây thương tích 05%. Hành vi nổ súng của ông Q2 thực hiện theo quy định của Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ là không trái quy định.

[4] Về án phí: Bị mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 01 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ: Khoản 1 Điều 330, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS.

- Tuyên bố: Các bị cáo Võ Đức KTrần Văn T2 phạm tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định Khoản 1 Điều 330 BLHS.

- Xử phạt:

+ Bị cáo Võ Đức K 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (30/7/2024).

Giao bị cáo Võ Đức K cho UBND xã Đ, Đ, tỉnh Quảng Nam giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

+ Bị cáo Trần Văn T2 09 (chín ) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (30/7/2024).

Giao bị cáo Võ Đức K cho UBND xã Đ, Đ, tỉnh Quảng Nam giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy và trả lại các tài sản sau:

+ Tuyên hủy 01 lưỡi xẻng bằng kim loại có kích thước 22cm x 40cm; 01 đoạn cây bằng tre dài 1,28m; 03 vỏ đạn bằng kim loại;

+ Trả lại 01 máy đo nồng độ cồn hiệu Antatech màu đen đã bị bể vỡ, hư hỏng hoàn toàn cho Phòng C Công an tỉnh Q

(Các vật chứng đã được niêm phong và hiện do Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ quản lý).

- Về án phí: Buộc bị cáo Võ Đức KTrần Văn T2 phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử phúc thẩm.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Hồng Phượng

Nơi nhận:

  • - TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
  • - TAND tỉnh Q.N; Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
  • - VKSND H. Đại Lộc;
  • - Công an H;
  • - Bị cáo, bị hại, người TGTT khác;
  • - Chi cục THADS H.Đại Lộc;
  • - Vụ GDDKT1 – TANDTC;
  • - Lưu hồ sơ;
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/HSST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI LỘC, TỈNH QUẢNG NAM về hình sự sơ thẩm (chống người thi hành công vụ)

  • Số bản án: 42/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Chống người thi hành công vụ)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI LỘC, TỈNH QUẢNG NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: KHANH- DINH
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger