Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH CÀ MAU


Bản án số: 42/2025/HNGĐ-PT

Ngày 03 - 12 - 2025

V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con

và chia tài sản khi ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Anh Tuấn

Các Thẩm phán: Bà Đinh Cẩm Đào

Bà Tiêu Hồng Phượng

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phái - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Điện - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau, xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình phúc thẩm thụ lý số 41/2025/TLPT-HNGĐ ngày 14/10/2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con và chia tài sản khi ly hôn”.

Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 65/2025/HNGĐ-ST ngày 09/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2, tỉnh Cà Mau bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2025/QĐ-PT ngày 27/10/2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Ngọc T, sinh ngày 25/4/1997 (có mặt)
  2. CCCD [...], cấp ngày 10/10/2021, nơi cấp: Bộ C

    Địa chỉ: Ấp B, xã N, tỉnh Cà Mau.

  3. Bị đơn: Anh Nguyễn Linh T1, sinh ngày 04/02/1992 (có mặt)
  4. Địa chỉ: Ấp B, xã T, tỉnh Cà Mau.

Người kháng cáo: Chị Lê Thị Ngọc T, sinh ngày 25/4/1997

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 26/12/2024 của chị Lê Thị Ngọc T và đơn yêu cầu ngày 14/3/2025 của anh Nguyễn Linh T1, lời khai trong quá trình tố tụng chị Lê Thị Ngọc T và anh Nguyễn Linh T1 thống nhất trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh, chị xây dựng hôn nhân trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện U, tỉnh Cà Mau, được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 22/12/2020. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hòa hợp, gia đình hai bên có hàn gắn nhiều lần nhưng không có kết quả, đến khoảng tháng 11/2024 chị T bồng con về nhà cha mẹ ruột tại ấp A, xã T, tỉnh Cà Mau ở đến nay. Nay chị T yêu cầu được ly hôn và anh T1 cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị T.

Về con chung: Anh chị xác định vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Bảo K, sinh ngày 16/10/2021 hiện chị T đang nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị T và anh T1 đều có yêu cầu được nuôi dưỡng con chung.

Về tài sản chung: A, chị thống nhất xác định tài sản chung gồm: Số tiền 20.000.000 đồng do vợ chồng tiết kiệm có được trong thời gian sống chung và 15 chỉ vàng 24k do cha mẹ cho trong ngày cưới.

Theo chị T xác định trong thời gian sống chung chị đã chuyển khoản giao lại cho anh T1 quản lý số tiền 17.860.000 đồng, chị còn giữ số tiền 2.140.000 đồng, nhưng chị đã sử dụng phục vụ cho gia đình hết hiện không còn và chị cũng bán 10 chỉ vàng 24k để nuôi con, phục vụ những nhu cầu thiết yếu trong thời gian sống chung, khi chị một mình nuôi con ở nhà cha mẹ ruột chị bán luôn 05 chỉ còn lại để nuôi con, hiện nay chị không còn quản lý tiền, vàng là tài sản chung vợ chồng, nên chị không đồng ý chia theo yêu cầu của anh T1.

Theo anh T1 xác định, anh có nhận số tiền 17.860.000 đồng do chị T chuyển khoản, nhưng số tiền chị T chuyển khoản cho anh không phải là số tiền 20.000.000 đồng tài sản chung vợ chồng, đối với 15 chỉ vàng 24k anh đồng ý cho chị T 01 chỉ vàng 24k là đôi bông tai và chỉ đồng ý cho chị T bán 02 chỉ vàng 24k khi chị T nuôi con ở nhà cha mẹ chị T. Anh yêu cầu chia 12 chỉ vàng 24k và số tiền 20.000.000 đồng.

Về nợ chung: Anh chị thống nhất xác định vợ chồng không có nợ chung.

Từ những nội dung trên, tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 65/2025/HNGĐ-ST ngày 09/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2, tỉnh Cà Mau đã quyết định:

  • - Về hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị Ngọc T được ly hôn với anh Nguyễn Linh T1.
  • - Về con chung: Giao cháu Nguyễn Bảo K, sinh ngày 16/10/2021 cho chị Lê Thị Ngọc T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
  • Chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên không xem xét giải quyết. Anh T1 có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung phù hợp với quy định pháp luật, không ai được cản trở.

  • - Về tài sản chung: Chấp nhận yêu cầu chia đôi tài sản chung của anh T1. Công nhận số tài sản chung của vợ chồng là 2.140.000 đồng và 12 chỉ vàng 24K.
  • Chị T được nhận 1.070.000 đồng và 06 chỉ vàng 24K. Anh T1 được nhận 1.070.000 đồng và 06 chỉ vàng 24K. Buộc chị T có nghĩa vụ giao lại cho anh T1 1.070.000 đồng và 06 chỉ vàng 24K.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, lãi suất trong giai đoạn thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 23/9/2025, chị Lê Thị Ngọc T kháng cáo không đồng ý chia tài sản chung đối với 15 chỉ vàng 24k và số tiền 20.000.000 đồng, do trong thời gian chung sống chị đã bán hết số vàng và sử dụng số tiền để nuôi con, hiện nay không còn.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án.

  • - Về thủ tục tố tụng: Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử thấy rằng Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, các Thẩm phán, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của chị T, giữ nguyên Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 65/2025/HNGĐ-ST ngày 09/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2, tỉnh Cà Mau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm; sau khi nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về hình thức, nội dung đơn kháng cáo, thời hạn kháng cáo được thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[1.2] Về sự có mặt của các đương sự: Tại phiên toà phúc thẩm chị T và anh T1 có mặt, căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự tiếp tục xét xử vụ án.

[2] Về quan hệ hôn nhân và con chung: Chị T, anh T1 không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị, nên cấp phúc thẩm không đặt ra xem xét.

[3] Xét kháng cáo của chị T không đồng ý chia số tiền 20.000.000 đồng và 15 chỉ vàng 24k. Hội đồng xét xử xét thấy, trong quá trình tố tụng chị T và anh T1 thống nhất xác định tài sản chung vợ chồng là số tiền 20.000.000 đồng và 15 chỉ vàng 24k được cha mẹ cho trong ngày cưới, đây là những tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trong quá trình tố tụng chị T xác định đã chuyển vào tài khoản của anh T1 số tiền 17.860.000 đồng, chị còn quản lý số tiền 2.140.000 đồng, căn cứ sao kê giao dịch thể hiện chị T có chuyển cho anh T1 số tiền 17.860.000 đồng, anh T1 thừa nhận có nhận số tiền do chị T chuyển, nhưng anh không đưa ra được chứng cứ chứng minh số tiền anh nhận không nằm trong số tiền 20.000.000 đồng tài sản chung vợ chồng. Do đó, có căn cứ chấp nhận lời trình bày của chị T số tiền 17.860.000 đồng chị chuyển cho anh T1 lấy từ nguồn 20.000.000 đồng là tài sản chung vợ chồng.

Đối với 15 chỉ vàng 24k chị T xác định chị quản lý, trong thời gian chung sống vợ chồng thống nhất bán 10 chỉ, khi về nhà cha mẹ ruột chị mang theo 05 chỉ nhưng đã bán để nuôi con. Anh T1 xác định việc chị T bán vàng chung của vợ chồng khi không được sự đồng ý của anh, nay anh chỉ thống nhất cho chị T 01 chỉ vàng 24k là nữ trang đôi bông tai cho trong ngày cưới và đồng ý cho chị T bán 02 chỉ vàng 24k trong thời gian chị T nuôi con một mình ở nhà cha mẹ ruột. Hội đồng xét xử xét thấy, khoản 2 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình quy định “Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng” và Điều 218 Bộ luật Dân sự quy định định đoạt tài sản chung “Việc định đoạt tài sản chung hợp nhất được thực hiện theo thoả thuận của các chủ sở hữu chung hoặc theo quy định của pháp luật”. Theo đó, khi chị T bán 10 chỉ vàng 24k là tài sản chung vợ chồng nhưng không được sự đồng ý của anh T1, mặc dù chị T xác định bán tài sản để phục vụ cho việc nuôi con là nhu cầu thiết yếu nhưng không được sự đồng ý của anh T1 và chị không chứng minh được việc sử dụng tiền bán vàng sử dụng vào mục đích chung, nhu cầu thiết yếu, nên chị T phải tự chịu, nên cấp sơ thẩm không chấp nhận là có căn cứ, đối với 05 chỉ vàng 24k chị T bán trong thời gian sống tại nhà cha mẹ ruột, anh T1 chỉ đồng ý bán 02 chỉ và đồng ý cho chị T 01 chỉ là đôi bông tai được tặng cho riêng cô dâu trong ngày cưới theo phong tục tập quán, nên còn 02 chỉ chị T bán không được sự đồng ý của anh T1 chị T tự chịu.

Như vậy tài sản chung vợ chồng là 20.000.000 đồng và 12 chỉ vàng 24K, anh T1 quản lý 17.860.000 đồng, chị T quản lý 2.140.000 đồng và 12 chỉ vàng 24k. Khi ly hôn anh T1 yêu cầu chia đôi tài sản chung, nhưng cấp sơ thẩm xác định tài sản chung đối với số tiền 2.140.000 đồng chị T quản lý để chia là chưa phù hợp, nên cấp phúc thẩm có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của chị T, không chấp nhận kháng cáo của chị T đối với 12 chỉ vàng 24k do chị bán nhưng không được sự đồng ý của anh T1.

[4] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét thấy như đã phân tích, đề nghị của Kiểm sát viên chưa phù hợp, nên không được chấp nhận.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Lê Thị Ngọc T không phải chịu.

[6] Các phần quyết định khác của Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 65/2025/HNGĐ-ST ngày 09/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 2, tỉnh Cà Mau không có kháng cáo, kháng nghị, không liên quan đến kháng cáo đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận một phần kháng cáo của chị Lê Thị Ngọc T, sửa một phần Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 65/2025/HNGĐ-ST ngày 09/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2, tỉnh Cà Mau.

Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 33, 43, 51, 53, 56, 81, 82 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Ngọc T đối với anh Nguyễn Linh T1.
  2. Xử cho chị Lê Thị Ngọc T, sinh ngày 25/4/1997 được ly hôn với anh Nguyễn Linh T1, sinh ngày 04/02/1992.

  3. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Bảo K, sinh ngày 16/10/2021 cho chị Lê Thị Ngọc T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
  4. Anh Nguyễn Linh T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp anh T1 lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con.

  5. Về tài sản chung: Chấp nhận yêu cầu chia tài sản chung của anh Nguyễn Linh T1 đối với chị Lê Thị Ngọc T
    1. Chia cho chị Lê Thị Ngọc T số tiền 10.000.000 đồng và 06 chỉ vàng 24k (loại vàng 98%).
    2. Buộc anh Nguyễn Linh T1 có trách nhiệm giao trả cho chị Lê Thị Ngọc T số tiền 7.860.000 đồng (Bảy triệu, tám trăm sáu mươi nghìn đồng).

    3. Chia cho anh Nguyễn Linh T1 số tiền 10.000.000 đồng và 06 chỉ vàng 24k (loại vàng 98%).
    4. Buộc chị Lê Thị Ngọc T có trách nhiệm giao trả cho anh Nguyễn Linh T1 06 chỉ vàng 24k (loại vàng 98%).

    5. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng anh T1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
  6. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, án phí chia tài sản và án phí dân sự phúc thẩm
    1. Án phí hôn nhân và gia đình: Chị Lê Thị Ngọc T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), chị Lê Thị Ngọc T đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng, theo biên lai thu số 0018809 ngày 10/02/2025, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 2, tỉnh Cà Mau được chuyển thu án phí.
    2. Án phí chia tài sản:
      • - Buộc chị Lê Thị Ngọc T phải nộp số tiền 1.377.500 đồng (Một triệu, ba trăm bảy mươi bảy nghìn năm trăm đồng).
      • - Buộc anh Nguyễn Linh T1 phải nộp số tiền 1.377.500 đồng (Một triệu, ba trăm bảy mươi bảy nghìn năm trăm đồng). Anh Nguyễn Linh T1 đã nộp tạm ứng số tiền 2.128.000 đồng (Hai triệu, một trăm hai mươi tám nghìn đồng), theo biên lai thu tạm ứng số 0022270 ngày 28/3/2025, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 2 được đối trừ. Hoàn trả lại cho anh Nguyễn Linh T1 số tiền 750.500 đồng (Bảy trăm năm mươi nghìn, năm trăm đồng).
    3. Án phí dân sự phúc thẩm: Chị Lê Thị Ngọc T không phải chịu, chị Lê Thị Ngọc T đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000450 ngày 23/9/2025, tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 2, tỉnh Cà Mau được hoàn lại đủ.
  7. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Toà PT TANDTC tại Tp. HCM;
  • - VKSND tỉnh Cà Mau;
  • - TAND Khu vực 2;
  • - Phòng THADS Khu vực 2;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, Tổ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Bùi Anh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2025/HNGĐ-PT ngày 03/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp ly hôn, nuôi con và chia tài sản khi ly hôn

  • Số bản án: 42/2025/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con và chia tài sản khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 03/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: do mâu thuẫn vợ chồng nên chị T khởi kiện xin ly hôn anh T1, yêu cầu nuôi con chung và chia tài sản chung vợ chồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger