Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ GIÁ RAI

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 42/2025/HSST

Ngày 27 tháng 6 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang Khang

Các Hội thẩm nhân dân:Bà Cao Thị Mỹ Phượng

Ông Nguyễn Thành Nhạn

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Đèo - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Mộng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 43/2025/TLST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2025, đối với bị cáo:

- Họ và tên: TRẦN THỊ H, sinh ngày 01/01/1961; tại tỉnh Bạc Liêu;

Nơi cư trú: Khóm B, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; Nghề nghiệp: Nội trợ; Trình độ văn hóa (học vấn): 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T (chết) và bà Nguyễn Thị L (chết); Bị cáo có chồng tên Mai Hữu T1, sinh năm 1963; Tiền án, tiền sự: Chưa có; Bị cáo tại ngoại (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 16 giờ 00 phút ngày 14/6/2024, Phòng C Công an tỉnh B phối hợp với Đội Hình sự Công an thị xã G bắt quả tang bị cáo Trần Thị H do có hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi bán số đề tại nhà thuộc Khóm B, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. Tại hiện trường Cơ quan Công an thu giữ 04 tờ giấy tập học sinh có ghi nhiều chữ số. Qua làm việc Trần Thị H khai nhận có hành vi ghi bán số đề khoảng một tháng thì bị bắt quả tang.

Quá trình điều tra chứng minh được, Trần Thị H ghi bán số đề rồi giữ lại tự tính thắng, thua với người mua số, hàng ngày bị cáo H ghi bán số đề rồi căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết của các tỉnh miền N và đài miền B để tính thắng thua với người mua số, cụ thể:

Hình thức tính thắng, thua với người mua số đề như sau:

- Đối với đài miền N: Người chơi mua số đầu, đuôi 1.000 đồng (thì trúng được 60.000 đồng, trả tiền mua mỗi con số cho bị cáo là 500 đồng; người chơi mua số lô (02 con và 03 con) 1.000 đồng thì trúng được 70.000 đồng, trả tiền mua mỗi con số cho bị cáo là 13.500 đồng; người chơi mua số đá hai con 1.000 đồng thì trúng được 600.000 đồng, trả tiền mua mỗi con số cho bị cáo là 27.000 đồng.

- Đối với đài miền B: Người chơi mua số đầu 1.000 đồng thì trúng được 80.000 đồng, trả tiền mua số cho bị cáo là 32.000 đồng (vì số đầu có bốn lô); người chơi mua số đuôi 1.000 đồng thì trúng được 80.000 đồng, trả tiền mua mỗi con số cho bị cáo là 8.000 đồng; người chơi mua số lô 1.000 đồng thì trúng được 70.000 đồng, trả tiền mua mỗi con số cho bị cáo là 19.000 đồng; người chơi mua số đá hai con 1.000 đồng thì trúng được 600.000 đồng, trả tiền mua mỗi con số cho bị cáo là 38.000 đồng.

Qua kiểm tra 04 tờ phơi số đề thu giữ của bị cáo Trần Thị H đối chiếu với kết quả xổ số, xác định được số tiền bị cáo H dùng vào việc đánh bạc như sau:

Ngày 13 tháng 6 năm 2024, đài An Giang:

Phơi số 02:

Bị cáo bán số lô 02 con gồm: 73, 82, 54, 64, 74 mỗi con bán số tiền 3000 đồng, tổng số tiền bị cáo nhận của người mua là 202.500 đồng; số lô 23 bán số tiền 4.000 đồng, bị cáo nhận của người mua là 54.000 đồng.

Số 01, bán số đầu 50.000 đồng, số đuôi 50.000 đồng, bị cáo nhận của người mua là 50.000 đồng; số 33 bị cáo bán số đầu 80.000 đồng, số đuôi 80.000 đồng, bị cáo nhận của người mua là 80.000 đồng.

Phơi số 03

Bị cáo bán số lô 02 con gồm: 85, 73, 82, 07, 70, 16 mỗi con bán số tiền 3000 đồng, tổng số tiền bị cáo nhận của người mua là 243.000 đồng; số lô 64 bị cáo bán 30.000 đồng, bị cáo nhận của người mua là 405.000 đồng; số lô 38 bị cáo bán 5.000 đồng, bị cáo nhận của người mua là 67.500 đồng; số lô 46 bị cáo bán 40.000 đồng, nhận của người mua là 540.000 đồng;

Số 01 bị cáo bán số đầu 50.000 đồng, số đuôi 50.000 đồng, bị cáo nhận của người mua là 50.000 đồng; số 45 bị cáo bán số đầu 50.000 đồng, số đuôi 50.000 đồng, bị cáo nhận của người mua là 50.000 đồng; số 10 bị cáo bán số đầu 10.000 đồng, số đuôi 20.000 đồng, bị cáo nhận của người mua là 15.000 đồng; số 55 bị cáo bán số đầu 10.000 đồng, số đuôi 20.000 đồng, bị cáo nhận của người mua là 15.000 đồng; số 33 bị cáo bán số đầu 80.000 đồng, số đuôi 80.000 đồng, bị cáo nhận của người mua là 80.000 đồng; số 46 bị cáo bán số đầu 200.000 đồng, số đuôi 200.000 đồng, bị cáo nhận của người mua là 200.000 đồng.

Số lô (lô ba con) 416 bị cáo bán 2.000 đồng, bị cáo nhận của người mua là 27.000 đồng.

Ngày 13 tháng 6 năm 2024, đài An Giang bị cáo bán số đầu là 265.000 đồng, số đuôi là 275.000 đồng, số lô 02 con là 1.512.000 đồng, số lô 03 con là 27.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo nhận của người mua số đề trong ngày 13 tháng 6 năm 2024 là 2.079.000 đồng.

Đối chiếu kết quả sổ số tỉnh An Giang ngày 13 tháng 6 năm 2024 người mua trúng số lô 64 với số tiền mua là 33.000 đồng (33.000 đồng x 70.000 đồng) bị cáo phải trả cho người mua là 2.310.000 đồng; Người mua trúng số lô 46 với số tiền trúng là 40.000 đồng (40.000 đồng x 70.000 đồng) bị cáo phải trả cho người mua là 2.800.000 đồng. Tổng cộng số tiền trúng là 5.110.000 đồng.

Như vậy, tổng số tiền bị cáo dùng vào việc đánh bạc ngày 13/6/2024, đài An Giang là 7.189.000 đồng.

Vào ngày 14 tháng 6 năm 2024, đài Trà Vinh gồm các con số:

Phơi số 01:

Bị cáo bán số lô gồm: Số I, 90, 01, 10, 89, 98, 97,79, 50, 05, mỗi con bị cáo bán số tiền 5.000 đồng, bị cáo nhận của người mua là 675.000 đồng; số lô 11 bán 25.000 đồng, bị cáo nhận của người mua là 337.500 đồng.

Bị cáo bán số đá 79-97-50 với số tiền 1.000 đồng, bị cáo nhận của người mua là 81.000 đồng.

Phơi số 02:

Số lô 46 bán 40.000 đồng, bị cáo nhận của người mua là 540.000 đồng; số lô 10 bán 5.000 đồng, bị cáo nhận của người mua là 67.500 đồng; số lô 25 bán 3.000 đồng, bị cáo nhận của người mua là 40.500 đồng; số lô 38 bán 3.000 đồng, bị cáo nhận của người mua là 40.500 đồng.

Số 10 bán số đầu 20.000 đồng, số đuôi 50.000 đồng, bị cáo nhận của người mua là 35.000 đồng; số 46 bán số đầu 200.000 đồng, số đuôi 200.000 đồng, bị cáo nhận của người mua là 200.000 đồng.

Ngày 14 tháng 6 năm 2024, bị cáo bán số đầu là 110.000 đồng, bán số đuôi là 125.000 đồng, bán số lô 02 con là 1.701.000 đồng, bán số đá là 81.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo nhận được của người mua trong ngày 14 tháng 6 năm 2024 đài Trà Vinh là 2.017.000 đồng. Do hành vi đánh bạc của bị cáo bị phát hiện trước khi có kết quả sổ xố nên chưa có kết quả thắng thua.

Vào ngày 12 tháng 6 năm 2024, đài miền B:

Phơi số 04:

Bị cáo bán số lô 16, 25, 68, 14, 41, mỗi con bán 3000 đồng, bị cáo nhận của người mua là 285.000 đồng; số lô 38, 83, 48, 84, mỗi con bán 5000 đồng, bị cáo nhận của người mua là 380.000 đồng; số lô 34 bán số tiền 150.000 đồng, bị cáo nhận của người mua là 2.800.000 đồng.

Bán số đá 16 – 25 - 68 với số tiền 2.000 đồng, bị cáo nhận của người mua là 228.000 đồng; số đá 14-41 với số tiền 3.000 đồng, bị cáo nhận của người mua là 114.000 đồng.

Ngày 13 tháng 6 năm 2024 bị cáo bán số đề đài miền B tổng cộng tiền số lô 02 con là 3.515.000 đồng, tiền số đá là 342.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo nhận của người mua đề trong ngày 13 tháng 6 năm 2024 là 3.857.000 đồng.

Đối chiếu kết quả sổ số đài miền B ngày 13 tháng 6 năm 2024, người mua trúng số lô 16 với số tiền trúng là 3.000 đồng (3.000 đồng x 70.000 đồng) bị cáo phải trả cho người mua là 210.000 đồng; Người mua trúng số lô 38 với số tiền trúng là 5.000 đồng (5.000 đồng x 70.000 đồng) bị cáo phải trả cho người mua là 350.000 đồng; Người mua trúng số lô 48 với số tiền trúng là 5.000 đồng (5.000 đồng x 70.000 đồng) bị cáo phải trả cho người mua là 350.000 đồng. Tổng cộng số tiền trúng là 910.000 đồng.

Như vậy, tổng số tiền bị cáo dùng vào việc đánh bạc ngày 12 tháng 6 năm 2024 đài miền B là 4.767.000 đồng.

Vào ngày 12 tháng 6 năm 2024, đài miền B:

Phơi số 04:

Bị cáo bán số lô 54 với số tiền 60.000 đồng, bị cáo nhận của người mua là 1.140.000 đồng; số lô 46 bán với số tiền 40.000 đồng, bị cáo nhận của người mua là 760.000 đồng; số lô 38 bán với số tiền 5.000 đồng, bị cáo nhận của người mua là 95.000 đồng.

Số 38 bán số đầu 10.000 đồng, số đuôi 10.000 đồng, bị cáo nhận của người mua là 40.000 đồng.

Ngày 12 tháng 6 năm 2024 bị cáo bán số đề đài miền B được tổng số tiền là 2.035.000 đồng.

Đối chiếu với kết quả xổ số Miền bắc ngày 12/6/2024, người mua trúng số 54 (02 lô) với số tiền mua 60.000 đồng (60.000 đồng x 70.000 đồng x 02 lô) bị cáo phải trả cho người mua là 8.400.000 đồng; Số lô 46 trúng với số tiền mua là 40.000 đồng (40.000 đồng x 70.000 đồng) bị cáo phải trả cho người mua là 2.800.000 đồng.

Như vậy, tổng số tiền bị cáo Trần Thị H dùng vào việc đánh bạc ngày 12/6/2024 là 13.235.000 đồng.

Tại kết luận giám định số 76 ngày 31/8/2024, Phòng C Công an tỉnh B kết luận:

Chữ viết, chữ số trên các tài liệu cần giám định ký hiệu từ A2 đến A4 (trừ các chữ bị sữa chữa, tô đồ và các chữ có nội dung: “1620 960 150 ... 6400 2760 3640" từ dòng 4 đến dòng 25 trang 1, “lời tuấn 1760 ... 7950 3640 4300” từ dòng 10 đến dòng 21 trang 2 trên tài liệu A3; “4510 3380” từ dòng 3 đến dòng 5, “203 218 ... 1040 3380” từ dòng 16 đến dòng 25 trang 1, “315 21 3..6...4910 400 4510” từ dòng 7 đến dòng 25 trang 2 trên tài liệu A4) so với chữ viết, chữ số của Trần Thị H trên tài liệu mẫu so sánh kí hiệu M1, M2 do cùng một người viết ra.

Không đủ cơ sở kết luận chữ viết, chữ số trên tài liệu A1; “1620 960 150 ... 6400 2760 3640” từ dòng 4 đến dòng 25 trang 1, “lời tuấn 1760 ... 7950 3640 4300” từ dòng 10 đến dòng 21 trang 2 trên tài liệu A3; “4510”, “3380”, “203 218 ... 1040 3380” từ dòng 16 đến dòng 25 trang 1, “315 21 3..6...4910 400 4510” từ dòng 7 đến dòng 25 trang 2 trên tài liệu A4 so với chữ viết, chữ số của Trần Thị H trên tài liệu mẫu so sánh kí hiệu M1, M2 có phải do cùng một người viết ra hay không.

Cáo trạng số 45/CT-VKS-HS ngày 02 tháng 6 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu truy tố bị cáo Trần Thị H, về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Trần Thị H và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trần Thị H, phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Trần Thị H từ 06 đến 09 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không khiếu nại hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Trần Thị H thừa nhận: Tại nhà bị cáo thuộc Khóm B, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu, bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi bán số đề cho nhiều người rồi căn cứ kết quả xổ số các tỉnh Miền Nam và xổ số Miền B để tính thắng, thua với người mua số đề.

[3] Căn cứ vào lời khai bị cáo Trần Thị H, biên bản bắt người phạm tội quả tang, đối chiếu phơi số bị cáo ghi bán với kết quả xổ số thì có 02 lần số tiền bị cáo dùng vào việc đánh bạc có giá trị từ đủ 5.000.000 đồng trở lên, cụ thể: Ngày 12 tháng 6 năm 2024 số tiền bị cáo dùng vào việc đánh bạc là 13.235.000 đồng; ngày 13 tháng 6 năm 2024 số tiền bị cáo dùng vào việc đánh bạc là 7.189.000 đồng.

[4] Xét thấy, vì mục đích vụ lợi bị cáo Trần Thị H đã bất chấp pháp luật, nhiều lần thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi bán số đề để thắng, thua bằng tiền với người khác. Số tiền bị cáo dùng vào việc đánh bạc phải chịu trách nhiệm hình sự thấp nhất là 7.189.000 đồng, cao nhất là 13.235.000 đồng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai truy tố bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Cần phải được xử phạt nghiêm để răn đe, giáo dục bị cáo cũng như để đảm bảo công tác đấu tranh, phòng, chống tội phạm.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo đã 02 lần thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự để áp dụng mức án phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

[6] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Thị H, phạm tội “Đánh bạc”.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Thị H 06 (sáu) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Thị H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhân :

  • - TAND tỉnh Bạc Liêu
  • - VKSND tỉnh Bạc Liêu;
  • - VKSND thị xã Giá Rai;
  • - CCTHADS thị xã Giá Rai;
  • - CQCSĐT CA thị xã Giá Rai;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Quang Khang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2025/HSST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI TỈNH BẠC LIÊU về hình sự về tội đánh bạc

  • Số bản án: 42/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trần Mỹ H có hành vi ghi bán số đề, số tiền dùng vào việc đánh bạc cao nhất là 13.235.000 đồng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger