Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN EA H'LEO

TỈNH ĐẮK LẮK

********

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

********

Bản án số: 42/2025/HSST

Ngày 19/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Hán

- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Ksơr Y Nai

2. Bà Trần Thị Thúy

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Phan Việt Tiệp

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H'Leo tham gia phiên tòa:

Ông Phan Đình Toàn – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ea H'Leo, xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 39/2025/HSST ngày 21 tháng 5 năm 2025, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Bùi Thị Mỹ D – Sinh năm 2001 tại Đắk Lắk.

Nơi đăng ký thường trú: Ấp E, xã T, huyện B, Long An; nơi ở hiện nay: Tổ dân phố A, thị trấn E, huyện E, Đắk Lắk; nghề nghiệp: nội trợ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; trình độ học vấn: 7/12. Con ông: Bùi Công D1; con bà: Mai Thị T; chồng là Phạm Thanh V, có 01 con sinh năm 2018. Tiền án, tiền sự: không có.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/10/2024, hiện đang tạm giam (có mặt).

2. Họ và tên: Bùi Văn Q – Sinh năm 2004 tại Đắk Lắk.

Nơi cư trú: Thôn G, xã E, huyện E, Đắk Lắk; nghề nghiệp: làm nông; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 6/12. Con ông: Bùi Công D1; con bà: Mai Thị T. Tiền án, tiền sự: không có.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/10/2024, hiện đang tạm giam (có mặt).

* Người bị hại: Anh Nguyễn Thanh P (sinh năm 1997) - có đơn xin vắng mặt.

Trú tại: Tổ dân phố G, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Trần Đình K (sinh năm 1984) – vắng mặt.

Trú tại: Tổ D, phường Đ, thị xã A, tỉnh Gia Lai.

2. Bà Phạm Thị Hồng H (sinh năm 1970) – có đơn xin vắng mặt.

Trú tại: Tổ D, phường Đ, thị xã A, tỉnh Gia Lai.

3. Bà Võ Thị Ngọc T1 (sinh năm 1978) – vắng mặt.

Trú tại: Tổ I, phường Đ, thị xã A, tỉnh Gia Lai.

4. Bà Mai Thị T (sinh năm 1981) – có mặt.

Trú tại: Ấp E, xã L, huyện B, Tp. Hồ Chí Minh.

5. Ông Bùi Công D1 (sinh năm 1983) - có mặt.

Trú tại: Thôn G, xã E, huyện E, Đắk Lắk.

6. Chị Nguyễn Thị Thu H1 (sinh năm 1994) – vắng mặt.

Trú tại: Tổ dân phố C, phường Y, Tp. P, tỉnh Gia Lai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có công việc ổn định, nợ tiền của nhiều người nên Bùi Thị Mỹ D nảy sinh ý định đi cướp giật tiệm vàng, bán lấy tiền tiêu xài và trả nợ. Khoảng 07 giờ ngày 28/9/2024, D gọi điện thoại cho Bùi Văn Q (là em ruột của D) rủ Q đi cướp tiệm vàng ở khu vực thị trấn E, huyện E thì Q đồng ý. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, biển số 47AS-021.61 chở D đi đến thị trấn E, huyện E. Trên đường đi Q dừng xe, dùng cờ-lê tháo biển số của xe mô tô cất giấu vào vườn cà phê của người dân rồi đi đến khu vực chợ H3 thuộc thị trấn E. Cả hai thống nhất khi đến tiệm vàng, Q sẽ để xe môtô nổ máy chờ sẵn bên ngoài còn D vào trong tiệm giả vờ hỏi mua vàng rồi nhanh chóng cướp giật chạy ra ngoài. Khi nào D cướp được vàng chạy ra thì Q nhanh chóng chở D tẩu thoát.

Khoảng 18 giờ cùng ngày, D và Q đi đến tiệm V1 của anh Nguyễn Thanh P ở Tổ dân phố G, thị trấn E, huyện E. Q dừng xe mô tô trước cửa tiệm vàng, nổ máy ngồi trên xe còn D một mình đi vào bên trong. Khi gặp anh P, D nói đang có số tiền 70.000.000 đồng muốn mua vàng cưới nên anh P tư vấn và mang ra cho D cầm xem các trang sức bằng vàng gồm: 01 nhẫn vàng trọng lượng 02 chỉ; 03 nhẫn vàng trọng lượng mỗi nhẫn 01 chỉ và 01 vòng tay bằng vàng trọng lượng 03 chỉ. D giả vờ xem vàng, ướm thử, một lúc sau thấy anh P mất cảnh giác nên D nhanh chóng cầm toàn bộ số vàng chạy ra ngoài ngồi lên xe mô tô Q đợi sẵn, Q tăng ga điều khiển xe chở D chạy lòng vòng quanh một số tuyến đường sau đó chạy về nhà tại thôn G, xã E. Trên đường đi, Q dừng xe lấy biển số 47AS-021.61 đã cất giấu trước đó lắp vào xe rồi về nhà đi ngủ còn D bỏ số vàng vừa cướp được vào cốp xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển số 47AS-021.70 rồi điều khiển xe đến nhà anh Nguyễn Đình P1 chơi và ngủ lại ở đây.

Khoảng 06 giờ ngày 29/9/2024, D gọi điện rủ Q đi bán vàng và hẹn gặp nhau trước cổng nhà P1. Sau đó, Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển số 47D1-512.40 còn D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision biển số 47AS-021.70 đi đến thị xã A, tỉnh Gia Lai. Khi đi đến một trạm xăng dầu (không nhớ địa chỉ) Q vào gửi lại xe mô tô biển số 47D1-512.40 rồi điều khiển xe mô tô biển số 47AS-021.70 chở D đến thị xã A, tỉnh Gia Lai. D và Q đến tiệm V2 của bà Võ Thị Ngọc T1 bán 01 nhẫn vàng trọng lượng 01 chỉ, với giá 7.800.000 đồng; đến tiệm V3 của bà Phạm Thị Hồng H bán 01 vòng vàng trọng lượng 03 chỉ, với giá 23.000.000 đồng; đến tiệm V4 của ông Trần Đình K bán 02 nhẫn vàng trọng lượng mỗi nhẫn 01 chỉ và 01 nhẫn vàng trọng lượng 02 chỉ, với giá 32.600.000 đồng. Tổng số tiền bán vàng được là 63.400.000 đồng.

Sau khi bán vàng xong, Q chở D quay về nhà. D đưa cho Q 10.000.000 đồng, nhờ Q trả nợ giúp D cho một người đàn ông tên L (không rõ nhân thân, lai lịch, D đã mượn trước đó) ở xã E, huyện E. D trả nợ số tiền 22.000.000 đồng cho người đàn ông tên H2 (không rõ nhân thân, lai lịch, D đã mượn trước đó); trả nợ số tiền 28.000.000 đồng cho người đàn ông tên M (không rõ nhân thân, lai lịch, D đã mượn trước đó). Số tiền còn lại 3.400.000 đồng, D tiêu xài cá nhân hết.

Tại kết quả giám định ngày 17/10/2024, của Công ty Cổ phần V5, Chi nhánh tỉnh Đ kết luận: 01 nhẫn bằng kim loại màu vàng, mặt bên trong có dòng chữ “THANH DUC 99.99 2 CHI EA HLEO” là kim loại vàng, hàm lượng vàng 99,98% (tương đương vàng 24K), trọng lượng thực tế là 02 chỉ; 03 nhẫn bằng kim loại màu vàng, mặt bên trong có dòng chữ “THANH DUC 99.99 1 CHI EA HLEO” là kim loại vàng, hàm lượng 99,99% (tương đương vàng 24K), trọng lượng thực tế 03 chỉ.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 132/KL-HĐĐGTS ngày 17/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện E, kết luận: 01 nhẫn vàng hàm lượng 99,98% mặt bên trong có dòng chữ “THANH DUC 99.99 2 CHI EA HLEO”, trọng lượng 02 chỉ, trị giá: 16.640.000 đồng; 03 nhẫn vàng hàm lượng 99,99% mặt bên trong có dòng chữ “THANH DUC 99.99 1 CHI EA HLEO”, trọng lượng 03 chỉ, trị giá: 24.960.000 đồng; 01 vòng tay bằng vàng, hàm lượng 98%, trọng lượng 03 chỉ, trị giá: 24.720.000 đồng. Tổng giá trị tài sản định giá: 66.320.000 đồng.

Tại Bản kết luận giám định số 1700/KL-KTHS ngày 05/11/2024, của Phòng K1, Công an tỉnh Đ, kết luận: Tập tin video (A1, A2, A3, A4, A5, A6, A7, A8, ghi lại quá trình các bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản): Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh.

Bản cáo trạng số 42/CT-VKS-HS ngày 19/5/2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H'Leo truy tố các bị cáo Bùi Thị Mỹ D và Bùi Văn Q về tội “Cướp giật tài sản” theo các điểm a, c khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Kết quả xét hỏi tại phiên tòa, các bị cáo Bùi Thị Mỹ D và Bùi Văn Q khai nhận về hành vi phạm tội phù hợp như nội dung bản kết luận điều tra và cáo trạng đã truy tố.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Xử phạt Bùi Thị Mỹ D từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù.

- Xử phạt Bùi Văn Q từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Công nhận các bị cáo và gia đình đã tự nguyện bồi thường cho anh Nguyễn Thanh P 24.800.000 đồng; hoàn trả cho bà Võ Thị Ngọc T1 7.800.000 đồng và hoàn trả cho ông Trần Đình K 32.600.000 đồng.

Về xử lý vật chứng:

+ Đề nghị công nhận cơ quan điều tra đã trả lại 01 nhẫn vàng trọng lượng 02 chỉ và 03 nhẫn vàng trọng lượng mỗi cái 01 chỉ cho anh Nguyễn Thanh P là chủ sở hữu.

+ Đề nghị trả chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển số 47AS-021.70 cho chị Nguyễn Thị Thu H1 là chủ sở hữu hợp pháp.

+ Đề nghị tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Plus màu hồng của Bùi Thị Mỹ D và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro màu xanh dương của Bùi Văn Q.

+ Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 khẩu trang màu trắng; 01 áo khoác vải dài tay màu tím; 01 đôi dép nhựa màu vàng; 01 cờ-lê 10 bằng kim loại; 01 quần vải dài màu đen; 01 áo thun trắng ngắn tay; 01 áo khoác vải dài tay màu đen không còn giá trị sử dụng.

Các bị cáo không tham gia tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H'Leo và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét lời khai nhận tội của các bị cáo Bùi Thị Mỹ D và Bùi Văn Q tại phiên tòa hôm nay về cơ bản là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Xét hành vi của các bị cáo công khai và nhanh chóng chiếm đoạt 01 chiếc lắc và 04 chiếc nhẫn bằng vàng, trị giá 66.320.000₫ của anh Nguyễn Thanh P là phạm tội “Cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 171 BLHS.

* Tại Điều 171 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.

a)...

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng.

[3] Xét tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo không những đã chiếm đoạt trái phép tài sản của người bị hại mà còn gây nên những ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo nhận thức được rằng tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật quan tâm bảo vệ, mọi hành vi chiếm đoạt trái pháp luật đều bị trừng trị nghiêm khắc. Nhưng do ý thức coi thường pháp luật và vì động cơ vụ lợi nên vào ngày 28/9/2024 lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu tài sản, Bùi Thị Mỹ D cùng với Bùi Văn Q đã giả vờ hỏi mua, xem hàng rồi nhanh chóng chiếm đoạt 01 chiếc lắc và 04 chiếc nhẫn bằng vàng, trị giá 66.320.000₫ của anh Nguyễn Thanh P rồi tẩu thoát. Cho nên đối với các bị cáo cần thiết phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, có như vậy mới phát huy được tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo và góp phần răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.

[4] Trong vụ án này có 02 bị cáo, đối với Bùi Thị Mỹ D, bị cáo là người khởi xướng, rủ bị cáo Q tham gia và trực tiếp thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Bị cáo cũng là người trực tiếp bán số tài sản chiếm đoạt được và sử dụng toàn bộ số tiền này. Cho nên đối với bị cáo cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc hơn. Đối với Bùi Văn Q, sau khi nghe bị cáo D rủ tham gia cướp giật tài sản, bị cáo đã đồng ý và dùng xe môtô làm phương tiện chở bị cáo D đến tiếp cận người bị hại để chiếm đoạt tài sản và tẩu thoát sau đó. Tuy nhiên, tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo hạn chế hơn nên áp dụng mức hình phạt thấp hơn so với bị cáo D.

[5] Tuy nhiên xét thấy các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Sau khi phạm tội, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải; đã tác động và cùng với gia đình bồi thường cho người bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Đây là những tình tiết giảm nhẹ theo quy định của Bộ luật hình sự nên cần xem xét trong quá trình lượng hình để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt nhằm thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi phạm tội, các bị cáo và gia đình đã tự nguyện bồi thường cho anh Nguyễn Thanh P 24.800.000 đồng là trị giá chiếc vòng tay bằng vàng, trọng lượng 03 chỉ; bồi thường cho bà Võ Thị Ngọc T1 7.800.000 đồng và bồi thường cho ông Trần Đình K 32.600.000 đồng. Anh P, bà T1 và ông K không yêu cầu gì thêm về vấn đề bồi thường. Xét thấy đây là sự tự nguyện thỏa thuận, không trái pháp luật nên chấp nhận.

[7] Về xử lý vật chứng:

[7.1] Công nhận cơ quan điều tra thu giữ và đã trả lại 01 nhẫn vàng trọng lượng 02 chỉ và 03 nhẫn vàng trọng lượng mỗi cái 01 chỉ cho anh Nguyễn Thanh P là chủ sở hữu nhận sử dụng.

[7.2] Đối với chiếc xe môtô hiệu Honda Vision, biển số 47AS-021.70 các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội. Chiếc xe này đứng tên chủ sở hữu là của bị cáo Bùi Văn Q, nhưng vào ngày 29/8/2024 bị cáo đã làm thủ tục bán cho chị Nguyễn Thị Thu H1 và chị H1 ký hợp đồng cho bị cáo thuê lại để sử dụng. Việc bị cáo Q sử dụng vào việc phạm tội chị H1 không biết nên trả lại chiếc xe môtô cho chị H1 là chủ sở hữu hợp pháp nhận sử dụng.

[7.3] Cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo D 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Plus màu hồng; thu giữ của bị cáo Q 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro màu xanh dương. Đây là phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

[7.4] Cơ quan điều tra thu giữ đồ vật của các bị cáo, gồm: 01 khẩu trang màu trắng; 01 áo khoác vải dài tay màu tím; 01 đôi dép nhựa màu vàng; 01 cờ-lê 10 bằng kim loại; 01 quần vải dài màu đen; 01 áo thun trắng ngắn tay; 01 áo khoác vải dài tay màu đen. Xét thấy không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[7.5] Đối với chiếc xe môtô biển số 47AS-021.61 và xe môtô biển số 47D1-512.40 các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội là tài sản của ông Bùi Công D1 và bà Mai Thị T (bố mẹ của các bị cáo). Xét thấy khi các bị cáo sử dụng xe môtô vào việc phạm tội, ông D1 và bà T không biết nên cơ quan điều tra không thu giữ là phù hợp.

[8] Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và khung hình phạt áp dụng đối với các bị cáo là có căn cứ chấp nhận. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo với tình tiết tăng nặng định khung là “Có tổ chức” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 171 BLHS, thấy rằng: sau khi nghe D rủ rê đi cướp giật tài sản, Q đồng ý tham gia và dùng xe môtô chở D đi. Trong vụ án này các bị cáo đều là người thực hành, cùng nhau thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Hành vi phạm tội của các bị cáo chỉ là đồng phạm giản đơn, không phải là sự câu kết, phân công vai trò chặt chẽ trong đồng phạm có tổ chức nên không áp dụng tình tiết tăng nặng định khung này.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Bùi Thị Mỹ D và Bùi Văn Q phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

1. Xử phạt Bùi Thị Mỹ D 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 01/10/2024.

2. Xử phạt Bùi Văn Q 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 01/10/2024.

* Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 586, Điều 589 Bộ luật dân sự.

Công nhận các bị cáo và gia đình đã tự nguyện bồi thường cho anh Nguyễn Thanh P 24.800.000 đồng; bồi thường cho bà Võ Thị Ngọc T1 7.800.000 đồng và bồi thường cho ông Trần Đình K 32.600.000 đồng.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Công nhận cơ quan điều tra đã trả lại 01 nhẫn vàng trọng lượng 02 chỉ và 03 nhẫn vàng trọng lượng mỗi cái 01 chỉ cho anh Nguyễn Thanh P nhận sở hữu.

- Trả chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển số 47AS-021.70 cho chị Nguyễn Thị Thu H1 là chủ sở hữu hợp pháp.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Plus màu hồng của Bùi Thị Mỹ D và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro màu xanh dương của Bùi Văn Q.

- Tịch thu tiêu hủy 01 khẩu trang màu trắng; 01 áo khoác vải dài tay màu tím; 01 đôi dép nhựa màu vàng; 01 cờ-lê 10 bằng kim loại; 01 quần vải dài màu đen; 01 áo thun trắng ngắn tay; 01 áo khoác vải dài tay màu đen không còn giá trị sử dụng.

(Đặc điểm, số lượng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/5/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Thi hành án dân sự huyện E).

* Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - Công an tỉnh Đắk Lắk (02 bản);
  • - VKSND huyện Ea H'Leo;
  • - Chi cục T.H.A.D.S huyện Ea H'Leo;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HS, VPCQ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Xuân Hán

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2025/HSST ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO TỈNH ĐẮK LẮK về cướp giật tài sản

  • Số bản án: 42/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Thị Mỹ D và Bùi Văn Q thực hiện hành vi cướp giất tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger