|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐỐP TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 42 /2025/HSST
Ngày: 10/6/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐỐP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Minh Nghĩa
Các Hội thẩm nhân dân: bà Thái Thị Huỳnh Trang
ông Lê Đình Cóong
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: ông Lý Văn Hơn
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đốp tham gia phiên tòa: bà Lê Thị Thanh Hiền - Kiểm sát viên
Vào ngày 10 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 31/2025/HSST ngày 24 tháng 3 năm 2025. Đối với bị cáo:
NGUYỄN ANH P; sinh năm 1997; Tại: tỉnh Bình Dương; giới tính: Nam; Nơi thường trú: ấp T, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; con ông Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1975 và bà Ngô Thị Thanh T, sinh năm 1977; bị cáo có vợ tên Ngân Thị Ngọc H và có 01(một) con chung sinh năm 2022; tiền án; tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/7/2024 đến nay (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Lương Văn T1, sinh năm 1988
- Lương Thị H1, sinh năm 1989
Nơi thường trú: khu phố D, phường T, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh. - Phan Anh T2, sinh năm 1984
Nơi thường trú: thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước. - Huỳnh Văn N, sinh năm 1992
- Phan Thị Anh T3, sinh năm 1993
Nơi thường trú: ấp Đ, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước. - Ngô Thị Thanh T, sinh năm 1977
Nơi thường trú: ấp T, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước.
- Người làm chứng: Diệp Thành T4, sinh năm 1986; nơi thường trú: khu phố T, thị trấn T, huyện B, huyện B, tỉnh Bình Phước.
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 05 giờ 30 phút ngày 30/07/2024, Công an huyện B phối hợp với Công an thị trấn T tiến hành tuần tra, kiểm soát tại khu vực khu phố T, thị trấn T, huyện B phát hiện Lương Văn T1 đang điều khiển xe ô tô loại Gentra (05 chỗ ngồi), nhãn hiệu Daewoo, màu trắng, biển số 60A-858.54 chở Nguyễn Anh P ngồi ghế phụ. Qua kiểm tra phát hiện tại hàng ghế sau và cốp xe ô tô có chở pháo nổ, Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ toàn bộ tang vật gồm: 100 khối hình hộp chữ nhật, có kích thước mỗi hộp 17cm x 17cm x 10cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, có ghi chữ KS4-4911 (nghi là pháo) có tổng khối lượng 172 kg; 01 giỏ xách màu xanh, kích thước 23cm x 43cm; 01 thùng giấy, kích thước 37cm x 37cm x 55cm; 02 thùng nhựa màu xanh, kích thước 40cm x 58cm x 64cm; 01 xe ô tô biển số 60A-858.54; 01 điện thoại màu xanh, hiệu OPPO (sim số 0971.702.497); 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 170459 mang tên Phạm Như M.
Quá trình điều tra xác định được: Nguyễn Anh P và Phan Anh T2 có mối quan hệ quen biết từ năm 2020. Vào ngày 20/7/2024, có 01 người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) đến gặp P và nói T2 nhắn P gọi điện thoại vào số 0366.407.xxx gặp T2 để trao đổi công việc. P mượn điện thoại di động của bà Ngô Thị Thanh T (mẹ của P) gọi vào số trên gặp T2, T2 thuê P mua 100 hộp pháo hoa nổ ở huyện B, vận chuyển đến bến xe Lam Hồng thuộc huyện D, tỉnh Bình Dương rồi gửi xe khách về xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An cho T2, tiền công là 5.000.000 đồng/ 01 chuyến, P đồng ý.
Khoảng 15 giờ ngày 25/7/2024, P mượn điện thoại di động của anh Huỳnh Văn N gọi cho T2, T2 nói P mua trái cây đóng vào thùng giấy dán kín rồi thuê xe dịch vụ chở P và các thùng trái cây đến ngã tư C thuộc TP ., tỉnh Bình Dương giao cho S (không rõ nhân thân lai lịch), quá trình vận chuyển nếu tài xế không mở các thùng giấy để kiểm tra thì chuyến sau P sẽ mua pháo nổ rồi tiếp tục thuê tài xế đó vận chuyển, P đồng ý. Sau đó, P mua trái cây đóng vào thùng giấy dán kín rồi thuê xe ô tô biển số 60A-858.54 của anh Lương Văn T1 điều khiển chở đến ngã tư C giao cho S, quá trình vận chuyển anh T1 không kiểm tra các thùng giấy. Khi về đến huyện B, P điều khiển xe mô tô biển số 93G1-280.75 đi đến khu vực Ngầm D thuộc ấp T, xã P, huyện B gặp một người đàn ông người Campuchia (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua 100 hộp pháo hoa nổ, loại 49 ống, với giá 35.000.000 đồng và hẹn đến khoảng 22 giờ ngày 28/7/2024 sẽ đến nhận pháo, người đàn ông này đồng ý. P gọi điện thông báo cho T2 biết và T2 nói P mua 01 điện thoại di động và mở 01 tài khoản ngân hàng để T2 chuyển tiền cho P, P đồng ý.
Đến khoảng 16 giờ ngày 27/7/2024, P đến nhà anh N trả điện thoại đã mượn trước đó và mượn chị Nguyễn Thị Anh T5 (vợ N) số tiền 35.000.000 đồng rồi đến cửa hàng D1 thuộc thôn B, xã T, huyện B mua 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Oppo, màu xanh (sim số 0971.702.497) để sử dụng liên lạc với T2. Sau đó, P đi đến Ngầm D gặp người đàn
2
ông Campuchia để lấy pháo. Tại đây, P thấy 100 hộp pháo hoa nổ, loại 49 ống đã được để sẵn trong 04 bịch nylong màu trắng, P kiểm tra pháo, trả số tiền 35.000.000 đồng cho người này rồi điều khiển xe mô tô chở toàn bộ số pháo đi đến cất giấu trong 01 bụi cỏ ở lô cao su thuộc ấp T, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước.
Khoảng 08 giờ ngày 29/7/2024, P mở tài khoản ngân hàng A1 chi nhánh huyện B Tây B thuộc khu phố T, thị trấn T, huyện B và thông báo số tài khoản (5612205274018) cho T2, T2 chuyển khoản cho P số tiền 45.600.000 đồng (gồm tiền mua pháo 35.000.000 đồng, tiền công vận chuyển 5.000.000 đồng và tiền thuê xe, mua vật dụng đóng pháo 5.600.000 đồng) bằng số tài khoản 042630999999 mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần L (L1). Sau đó, P trả chị T5 số tiền 35.000.000 đồng qua tài khoản ngân hàng TMCP Q (M1) của chị Nguyễn Thị Kim P1.
Khoảng 23 giờ ngày 29/7/2024, P điều khiển xe mô tô biển số 93G1-280.75 chở theo trái cây (20kg măng cụt, 27kg sầu riêng), 02 thùng nhựa màu xanh, 01 giỏ xách màu xanh, 01 số thùng giấy và 01 cuộn băng keo đi đến nơi cất giấu pháo. Tại đây, P cho toàn bộ pháo vào 01 thùng giấy, 02 thùng nhựa và 01 giỏ xách, để trái cây lên trên rồi dán băng keo kín lại. Sau đó, P điều khiển xe mô tô chở toàn bộ pháo đến lô cao su non thuộc ấp Đ, xã P, huyện B (cách ngã ba ấp Đ, xã P khoảng 500m) để cất giấu.
Đến khoảng 04 giờ ngày 30/7/2024, P nhờ anh N điều khiển xe mô tô chở P cùng toàn bộ các thùng giấy, giỏ xách có chứa pháo nói trên đến ngã ba ấp Đ, xã P, N đồng ý và điều khiển xe mô tô hiệu Wave, không biển số chở P đến lô cao su non. Sau đó, N chở P ngồi phía sau ôm 01 thùng giấy chứa pháo đến ngã ba ấp Đ, P đứng chờ xe của anh T1 đến đón nên nhờ Năm quay lại chở tiếp 02 thùng nhựa và 01 giỏ nhựa chứa pháo, khi Năm quay lại lô cao su thì nhìn thấy 02 người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch) đi cạo mủ cao su nên Năm nhờ 02 người này phụ chở các thùng pháo ra ngã ba ấp Đ cho P. Lúc này, anh T1 đã đến đón P, anh T1 mở cốp xe ô tô rồi cùng với P, N chất 02 thùng nhựa có chứa pháo lên hàng ghế phía sau, 01 thùng giấy và 01 giỏ nhựa có chứa pháo lên cốp sau xe ô tô, rồi N đi về. T1 điều khiển xe ô tô chở P đi Bình Dương, khi đi đến đoạn đường ĐT759B thuộc khu phố T, thị trấn T, huyện B thì bị Tổ tuần tra Công an huyện B bắt quả tang.
Quá trình điều tra, Phan Anh T2 khai không sử dụng số điện thoại 0366.407.xxx để thuê P vận chuyển pháo nổ; việc T2 sử dụng Ngân hàng Thương mại cổ phần L (L1), số tài khoản 042630999999 chuyển khoản số tiền 45.600.000 đồng đến Ngân hàng A1, số tài khoản là 5612205274018 của P là để cho P mượn và nhờ P mua giùm 02 bộ phản gỗ sao xanh. Từ khoảng tháng 11/2024, T2 đã bỏ đi khỏi địa phương [Bút lục số 173-175]. Chỉ căn cứ vào lời khai của P chưa đủ căn cứ để xác định vai trò của Phan Anh T2 trong vụ án. Mặt khác, CQCSĐT chưa xác minh được nhân thân lai lịch của S là người đã nhận 02 thùng trái cây giùm cho T2 và chưa có văn bản trả lời từ Cục B về thông tin của số điện thoại 0366.407.xxx nên CQCSĐT tách ra để tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
- Bản kết luận giám định số 825/KL-KTHS ngày 06/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: 100 khối hình hộp kích thước (17x17x10)cm, bên ngoài bọc giấy nhiều
3
màu sắc, ký hiệu M, được niêm phong gửi giám định đều là pháo nổ (pháo hoa nổ); có chứa thuốc pháo, khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng nhiều màu sắc. Tổng khối lượng là 172kg.
Cáo trạng số: 33/CT- VKSBĐ ngày 24/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Nguyễn Anh P về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm c khoản 3 Điều 191 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trong bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố và kết luận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đốp khẳng định bị cáo có hành vi như trong bản cáo trạng đã truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh P phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”; đề nghị áp dụng điểm c khoản 3 Điều 191, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự và đề xuất mức hình phạt đối với bị cáo từ 6 năm đến 7 năm tù.
Bị cáo không tham gia tranh luận, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện B, tỉnh Bình Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đốp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và những người làm chứng. Hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện theo đúng quy định pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án: Xét lời nhận tội của bị cáo tại hồ sơ vụ án và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, biên bản hiện trường, biên bản thu giữ vật chứng của vụ án cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ và đã được xem xét công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Ngày 30/7/2024, Nguyễn Anh P đã có hành vi thuê xe ô tô loại Gentra (05 chỗ ngồi), nhãn hiệu Daewoo, màu trắng, biển số 60A-858.54 vận chuyển trái phép hàng cấm là pháo nổ, có tổng trọng lượng là 172 kilôgam từ ấp Đ, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước đến tỉnh Bình Dương để nhận tiền công; khi đang vận chuyển trên đường Đ thuộc khu phố T, thị trấn T, huyện B thì bị bắt quả tang.
4
Bản kết luận giám định số 825/KL-KTHS ngày 06/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: 100 khối hình hộp kích thước (17x17x10)cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, ký hiệu M, được niêm phong gửi giám định đều là pháo nổ (pháo hoa nổ); có chứa thuốc pháo, khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng nhiều màu sắc. Tổng khối lượng là 172kg. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 191 Bộ luật hình sự năm 2015 như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đốp đã truy tố là có căn cứ, đúng hành vi, đúng pháp luật.
[3] Hành vi trên của bị cáo đã vi phạm vào việc quản lý của Nhà nước đối với pháo nổ là hàng hóa cấm lưu hành, cấm sử dụng, làm mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo nhận biết rõ pháo là mặt hàng Nhà nước cấm sử dụng nhưng vẫn vận chuyển cho người khác. Bị cáo vi phạm với lỗi cố ý, thể hiện sự thiếu ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo nên cần có hình phạt tương xứng với hành vi đối với bị cáo nhằm răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu, là lao động chính trong gia đình và đang nuôi con nhỏ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. HĐXX cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội.
-Đối với người bán pháo cho P là người Campuchia, P không biết họ tên và địa chỉ người này ở đâu, CQCSĐT không xác minh được nhân thân, lai lịch nên không đề cập xử lý.
-Đối với Lương Văn T1 là người điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Daewoo, loại Gentra, màu trắng, biển số 60A-858.54 được P thuê vận chuyển pháo nổ, quá trình điều tra xác định T1 không biết việc bị cáo P vận chuyển pháo nổ nên CQCSĐT không đề cập xử lý.
-Đối với Huỳnh Văn N đã cho bị cáo P mượn điện thoại di động để gọi cho T2 và điều khiển xe mô tô chở P cùng 172kg pháo nổ đến ngã ba Ấp Đ, xã P, huyện B. Tuy nhiên N không biết hàng mình đang vận chuyển là hàng cấm ( pháo nổ) nên không đề cập xử lý.
-Đối với Nguyễn Thị Anh T5 đã cho P mượn số tiền 35.000.000 đồng, T5 không biết bị cáo P dùng số tiền này vào mục đích phạm tôi nên không đề cập xử lý.
-Đối với Nguyễn Thị Kim P1 đã nhận chuyển khoản của P giùm cho Nguyễn Thị Anh T5 số tiền 35.000.000 đồng, quá trình điều tra xác định: ông N, bà T5 và bà P1 không biết việc bị cáo P mua và vận chuyển pháo nổ nên CQCSĐT không đề cập xử lý.
-Đối với bà Ngô Thị Thanh T đã cho bị cáo P mượn điện thoại di động để gọi cho T2 và xe mô tô biển số 93G1-280.75 để P đi mua pháo, tuy nhiên, bà T không biết việc bị cáo P dùng điện thoại của bà vào mục đích phạm tội nên không đề cập xử lý.
5
-Đối với Phan Anh T2 đã có hành vi nhờ bị cáo P mua pháo nổ vận chuyển xuống B - thành phố D, tỉnh Bình Dương cho T2 và đã hoàn tất việc chuyển khoản vào tài khoản của bị cáo P tổng số tiền 45.600.000 đồng ( bao gồm tiền mua pháo nổ, tiền đóng gói, vận chuyển...) theo lời khai của bị cáo P. T2 có đăng ký hộ khẩu tại xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An. Trong quá trình điều tra vụ án đối với bị cáo P, CQĐT đã làm việc với T2 và T2 đã có bản tự khai ban đầu đồng thời thừa nhận có chuyển số tiền trên cho P nhưng là tiền nhờ P mua gỗ; lời khai này mâu thuẫn với lời khai của bị cáo P trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà. Tuy nhiên, T2 đã đi khỏi địa phương từ khoảng tháng 11/2024 đến nay nên CQCSĐT chưa làm việc( đối chất) được với T2 để điều tra làm rõ những vấn đề trên. Ngày 24/02/2025, C đã ra thông báo số 425 và Công văn số 423 truy tìm đối tượng Phan Anh T2 để tiếp tục xác minh làm rõ hành vi của T2. Do vậy, Hội đồng xét xử tiếp tục kiến nghị Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ hành vi mua bán pháo nổ của T2, nếu có dấu hiệu phạm tội phải xử lý theo quy định pháp luật.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét.
[7] Về vật chứng:
-Đối với tổng khối lượng pháo nổ là 172kg; sau khi giám định còn lại 155kg. Ngày 24/01/2025 CQCSĐT đã tiến hành tiêu hủy 148,55kg pháo là đúng quy định của pháp luật.
-Đối với 6,45 kg pháo còn lại sau giám định là vật chứng của vụ án, cần tịch thu tiêu hủy.
-Đối với 01 điện thoại màu xanh, nhãn hiệu OPPO (sim số 0971702497) là tài sản của bị cáo P, bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội, tài sản còn giá trị sử dụng, cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.
-Đối với 01 giỏ xách màu xanh, kích thước 23cm x 43cm; 01 thùng giấy, có kích thước 37cm x 37cm x 55cm; 02 thùng nhựa màu xanh, có kích thước 40cm x 58cm x 64cm; bị can sử dụng để đựng pháo là vật chứng của vụ án, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
-Đối với 01 xe ô tô, nhãn hiệu Daewoo, loại Gentra, màu trắng, biển số: 60A-858.54 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 170459 mang tên Phạm Như M; quá trình điều tra xác định xe do ông Phạm Như M đứng tên đăng ký, năm 2022 ông M đã bán lại xe cho ông Nguyễn Quốc C1, sau đó ông C1 đã bán xe cho vợ chồng anh Lương Văn T1 và chị Lương Thị H1 nên cần trả lại cho ông Lương Văn T1.
Xét, đề xuất của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt và các vấn đề khác trong vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
Về án phí: bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
6
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh P phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt Nguyễn Anh P 06 ( sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam (30/07/2024).
Tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm thi hành án.
2. Về vật chứng: áp dụng Điều 47, 48 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- -Tịch thu tiêu hủy 6,45 kg pháo còn lại sau giám định.
- -Tịch thu tiêu hủy 01 giỏ xách màu xanh, kích thước 23cm x 43cm; 01 thùng giấy, có kích thước 37cm x 37cm x 55cm; 02 thùng nhựa màu xanh, có kích thước 40cm x 58cm x 64cm.
- -Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại màu xanh, nhãn hiệu OPPO (sim số 0971702497).
- -Trả lại ông Lương Văn T1 và bà Lương Thị H1 01 xe ô tô, nhãn hiệu Daewoo, loại Gentra, màu trắng, biển số: 60A-858.54 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 170459 mang tên Phạm Như M.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 0007985 ngày 28/02/2025 giữa Chi cục thi hành án dân sự dân sự huyện Bù Đốp và công an huyện B)
3. Về án phí: Áp dụng Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Minh Nghĩa |
7
Bản án số 42/2025/HSST ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐỐP, TỈNH BÌNH PHƯỚC về vận chuyển hàng cấm (hình sự)
- Số bản án: 42/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vận chuyển hàng cấm (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐỐP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: vận chuyển hàng cấm
